Bản án số 56/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 56/2019/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 56/2019/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 56/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Châu Đức (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) |
| Số hiệu: | 56/2019/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Tôn Thị Thanh H yêu cầu ly hôn ông Bùi Ngọc P |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHÂU ĐỨC Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 56/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2019
Về việc: “Tranh chấp về ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Túy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Huy Xuân
2. Bà Trần Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 146/2019/TLST-
HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019, về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019 và
quyết định hoãn phiên tòa số 40/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tôn Thị Thanh H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ A, thôn
T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
2. Bị đơn: Anh Bùi Ngọc P, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ B, thôn Q, xã Đ,
huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
(Chị H có có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Toà
án, nguyên đơn chị Tôn Thị Thanh H trình bày:
Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P đăng ký kết hôn vào ngày 19-6-
2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn
nhân trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới. Thời gian đầu chung sống với
nhau hạnh phúc nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân
là do anh P không lo làm ăn phụ giúp gia đình, ăn chơi, cờ bạc, không quan tâm
lo lắng cho vợ con, tính tình hay nóng giận, chửi bới và hăm dọa mẹ con chị H
khiến cho con chị H sợ hãi. Chị H đã cố gắng nhẫn nhịn mà bỏ qua nhiều lần
cho anh P, khuyên nhủ anh P và mong muốn anh P thay đổi nhưng anh P vẫn
2
chứng nào tật nấy. Anh P cứ đi chơi suốt và còn sử dụng ma túy nên chị H và
anh P đã sống ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay. Nay nhận thấy
mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Ngọc P.
Về con chung: Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P có 01 người con
chung là cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 19-8-2013. Nay chị Tôn Thị Thanh H có
nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và tự nguyện không yêu cầu anh
P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Bùi Ngọc P trình bày:
Anh Bùi Ngọc P đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ nhiều lần
nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của
những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết
vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án
nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ
pháp luật về nội dung tranh chấp; thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư
cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên
tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên
đơn là chị Tôn Thị Thanh H chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Bùi Ngọc P đã được
Tòa án triệu tập đến làm việc nhưng anh P vẫn vắng mặt tại các phiên làm việc
và tại phiên tòa, không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh P ngày càng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tôn Thị Thanh H; về con
chung: Chị H và anh P có 01 người con chung là cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày
19-8-2013. Hiện nay cháu K đang sống chung với chị Tôn Thị Thanh H và được
chị H nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Nay chị Tôn Thị Thanh H xin được quyền trực
tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Tuấn K nên đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H. Về cấp dưỡng nuôi
con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu
cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung chị H không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P đăng ký kết hôn
vào ngày 19-6-2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu. Nay chị H yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình;
3
nơi cư trú của anh Bùi Ngọc P là xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa
án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo
quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự.
[2] Ngày 06-9-2019, Tòa án mở phiên tòa để xét xử vụ án nhưng anh P
vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án phải hoãn phiên tòa, ấn định
thời gian mở lại phiên tòa là ngày 23-9-2019 nhưng tại phiên tòa anh P vẫn vắng
mặt lần thứ hai không có lý do còn chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì
vậy, Tòa án xét xử vắng mặt chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P là đúng
quy định tại khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P đăng
ký kết hôn vào ngày 19-6-2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Châu Đức, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới. Thời
gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh mâu
thuẫn mà nguyên nhân là do anh P không lo làm ăn phụ giúp gia đình, ăn chơi,
cờ bạc, không quan tâm lo lắng cho vợ con, tính tình hay nóng giận, chửi bới và
hăm dọa mẹ con chị H khiến cho con chị H sợ hãi. Chị H đã cố gắng nhẫn nhịn
mà bỏ qua nhiều lần cho anh P, khuyên nhủ và mong muốn anh P thay đổi
nhưng không có kết quả mà còn sử dụng ma túy nên chị H và anh P đã sống ly
thân với nhau từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay.
[4] Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị H, Tòa án đã tiến hành
nhiều phiên hòa giải để anh P và chị H hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng
các lần hòa giải và tại phiên tòa anh P đều vắng mặt điều đó chứng tỏ anh P
không có thiện chí để hàn gắn tình cảm gia đình. Theo kết quả xác minh thì chị
H và anh P phát sinh mâu thuẫn là có thật. Chị H đã cố gắng nhẫn nhịn mà bỏ
qua nhiều lần cho anh P, khuyên nhủ và mong muốn anh P thay đổi nhưng
không có kết quả nên hai người đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018 đến nay.
[5] Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh P ngày càng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Tôn Thị
Thanh H được ly hôn với anh Bùi Ngọc P.
[6] Về quan hệ con chung: Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P có
01 người con chung là cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 19-8-2013. Hiện nay cháu
Bùi Tuấn K đang sống chung với chị Tôn Thị Thanh H. Chị Tôn Thị Thanh H
xin được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Tuấn
K.
Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian chị H và anh P sống ly thân thì
cháu K được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến nay có cuộc sống sinh
hoạt, phát triển bình thường. Để ổn định và không làm xáo trộn cuộc sống, sinh
hoạt của cháu K nên cần giao con chung là cháu K cho chị H trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng.
[7] Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tôn Thị Thanh H
không yêu cầu anh Bùi Ngọc P cấp dưỡng nuôi con chung.
4
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tôn Thị Thanh H không yêu cầu
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện
về tài sản chung và nợ chung cho anh Bùi Ngọc P bằng một vụ án khác (nếu có)
theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Chị Tôn Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1
điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tôn Thị Thanh H được ly hôn với anh
Bùi Ngọc P.
Về quan hệ con chung: Chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P có 01
người con chung là cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 19-8-2013.
Chị Tôn Thị Thanh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con
chung là cháu Bùi Tuấn K.
Anh Bùi Ngọc P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Bùi Ngọc P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình
không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy
định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tôn Thị Thanh H không yêu cầu giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Tôn Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009081 ngày 08-4-2019 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Châu Đức. Chị Tôn Thị Thanh H đã nộp xong án phí dân
sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt
hoặc niêm yết hợp lệ, chị Tôn Thị Thanh H và anh Bùi Ngọc P có quyền kháng
cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Châu Đức;
- Chi cục THA Dân sự huyện Châu Đức;
5
- Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Châu Đức;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thanh Túy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm