Bản án số 554/2022/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 554/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 554/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 554/2022/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Ba Đình (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 554/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án về việc xin ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
\
Bản án số: 554 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2022
V/v: Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long
2. Bà Bùi Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Minh Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân quận
Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình,
thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý
số: 181/2022/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp hôn
nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2022/QĐST-
HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số:
144/2022/QĐST ngày 11/7/2022, giữa các đương sự
Nguyên đơn: Anh Vũ Ngọc A, sinh năm 1987; ĐKHKTT: xã N, huyện N,
tỉnh N. Nơi ở: P405 H4 tập thể T, phường T, quận B, thành phố H (Anh A có mặt)
Bị đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Số 67 T, quận H,
thành phố H. Nơi ở: P405 H4 tập thể T, phường T, quận B, thành phố H. Địa chỉ liên
hệ: Số nhà 25 ngõ 106 C, phường L, quận Đ, thành phố H. Nơi làm việc: Tòa nhà M
106 C, phường L, quận Đ, thành phố H (Chị H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai gửi Tòa án, nguyên đơn - anh Vũ
Ngọc A trình bày: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H kết hôn vào ngày 15
tháng 5 năm 2020 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Trong quá trình chung sống
đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng
quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc do
quá chênh lệch về tuổi tác. Anh, chị đã sống ly thân. Anh A đã chuyển ra ngoài
2
sinh sống, không sống cùng nhà với chị H. Anh xác định tình cảm vợ chồng
không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có con
chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở và các khoản nợ: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị
Thu H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai chị Trần Thị Thu H trình bày:
Về tình cảm: Chị Trần Thị Thu H và anh Vũ Ngọc A kết hôn vào ngày 15
tháng 5 năm 2020 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Trong quá trình chung sống
hạnh phúc, từ khoảng tháng 01 năm 2022 mới phát sinh mâu thuẫn do anh A
muốn chị H đưa tiền để làm ăn nhưng chị H không đáp ứng, bên cạnh đó anh A
có quan hệ tình cảm với người khác nên anh A đã gây chuyện với chị H và nộp
đơn xin ly hôn đơn phương. Anh chị mới ly thân nhưng thỉnh thoảng chị H vẫn
về sống chung cùng nhà với anh A tại P405 H4 tập thể T, phường T, quận B, thành
phố H vì nhà này là của chị H. Chị H vẫn còn tình cảm với anh A nên chị H không
đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Vũ Ngọc A không có con
chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở và nợ chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Vũ Ngọc
A không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Vũ Ngọc A vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh
được ly hôn với chị Trần Thị Thu H. Anh A giữ nguyên các yêu cầu về con
chung, về tài sản chung và nhà ở; Về nợ chung như đã trình bày. Anh A khẳng
định anh A và chị H đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không còn quan
tâm đến cuộc sống của nhau, mâu thuẫn đã rất trầm trọng không còn khả năng
đoàn tụ. Anh đã nộp đơn ly hôn lần thứ nhất tại Tòa án nhân dân quận Hoàn
Kiếm vào đầu tháng 4/2021, lần thứ hai nộp đơn ly hôn vào tháng 01/2022 tại
Tòa án nhân dân quận Ba Đình, và lần này là lần thứ ba anh nộp đơn ly hôn tại
Tòa án. Việc chị H cho rằng anh A ngoại tình là không đúng, tất cả các bản ảnh
chị H nộp cho Tòa đều là cảnh diễn trong một bộ phim mà anh A được mời làm
diễn viên. Các tin nhắn qua lại cũng chỉ là tin nhắn bạn bè trêu đùa nhau chứ
trong thực tế không có việc anh A quan hệ ngoài hôn nhân với người khác.
Chị H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do.
3
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng từ
khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật tố tụng
dân sự.Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ
pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng theo Điều 28, 39, 40 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015; Đối với đương sự, nguyên đơn đã được thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ của mình qui định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Điều 234
Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đã đề nghị
Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều
267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58;
63; khoản 4 Điều 70; khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39
Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ
Ngọc A. Anh Vũ Ngọc A được ly hôn với chị Trần Thị Thu H. Về con chung, tài
sản chung và nợ chung: anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có nên
không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.
Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H có đăng ký kết
hôn theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm thụ lý vụ án, chị Trần Thị Thu H
sinh sống tại địa chỉ P405 H4 tập thể T, phường T, quận B, thành phố H. Vì vậy,
Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa Anh Vũ Ngọc A và chị Trần
Thị Thu H là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 5
năm 2020 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Trong thời gian chung sống vợ chồng
đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không
hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm
2022 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không đồng ý với yêu cầu
xin ly hôn của anh A với lý do anh A có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác
nên từ cuối tháng 01 năm 2022 giữa hai bên mới phát sinh mâu thuẫn và sống ly
thân. Chị H vẫn còn tình cảm với anh A nên chị H không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình
hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín
cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân
của anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không đạt được mục đích đó. Anh A
và chị H đã sống ly thân, anh A đã chuyển ra ngoài sinh sống, không tiếp tục sống
4
cùng chị H tại phường T, quận B, thành phố H. Nay tình cảm vợ chồng không
còn, khả năng đoàn tụ là không thể, anh A làm đơn xin ly hôn chị H là phù hợp
với quy định của pháp luật theo các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vũ Ngọc A.
Về con chung: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có con
chung nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung và nhà ở: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không
có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
Về khoản nợ: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Anh Vũ Ngọc A phải chịu án phí sơ thẩm.
Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều
147; các Điều 203; 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014;
- Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Vũ Ngọc A.
Anh Vũ Ngọc A được ly hôn với chị Trần Thị Thu H
2. Về con chung: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có con
chung nên Tòa án không xem xét.
3.Về tài sản chung và nhà ở: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H
không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
4.Về khoản nợ: Anh Vũ Ngọc A và chị Trần Thị Thu H không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh Vũ Ngọc A phải chịu 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0068046 ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục thi hành án
dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, Anh Vũ Ngọc A có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị
Thu H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo
quy định của pháp luật.

5
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội;
- Chi cụcTHADS quận Ba Đình, TP.HN;
- UBND xã N, huyện N,tỉnh N;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM.Hội đồng xét xử sơ thẩm
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Đinh Ngọc Liên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm