Bản án số 549/2020/KDTM-PT ngày 19/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 549/2020/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 549/2020/KDTM-PT ngày 19/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 549/2020/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2020
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 549/2020/KDTM-PT
Ngày: 19/6/2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng thuê
kho”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Toại;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trinh;
Nguyễn Thị Phong.
Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Hồng Thư Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Huỳnh
Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 ngày 19 tháng 6 năm 2020 tại trụ sTòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, số 26 Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh, xét xphúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
77/2020/TLPT-KDTM ngày 24 tháng 02 m 2020 về việc: “Tranh chấp hợp
đồng thuê kho”.
Do Bản án dân sự thẩm số 131/2019/KDTM-ST ngày 23/12/2019 của
Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2174/2020/QĐ-PT ngày
28/04/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc số 4888/2020/QĐ-PT ngày
28/5/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tổng Công ty Đ – TNHH Một thành viên;
Địa chỉ: 41 đường S, phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Nam V; CMND số
022348224 do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/5/2010;
Địa chỉ: 30 đường K, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 576/UQ-TCT-VP, ngày 15/6/2020). (Có mặt)
- Bị đơn: Công ty TNHH Một thành viên P;
Địa chỉ: 70 đường H, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;
2
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Phùng Anh T; Căn cước
công dân số 074062000050 do Cục Cảnh t cấp ngày 24/10/2016. Chức vụ:
Giám đốc.
Địa chỉ: 30A/12A đường T, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: 70A đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có
văn bản xin vắng mặt).
2/ Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: 525 Âu Cơ, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
- Đại diện nguyên đơn trình bày:
Công ty K Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt Công ty K) doanh
nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập được chuyển thành đơn vị hạch toán phụ
thuộc Tổng Công ty Đ– TNHH Một thành viên (sau đây gọi tắt là Tổng công ty)
theo Quyết định số 673/QĐ-UB ngày 14/02/2003 của UBND Thành phố Hồ Chí
Minh.
Được sự ủy quyền của Tổng giám đốc Tổng công ty theo Văn bản chấp
thuận ngày 18/5/2015 về việc ký hợp đồng tạm thuê K với thời hạn ký hợp đồng
06 tháng/lần nên Công ty K– thuộc Tổng Công ty Hợp đồng số
15/HĐCTKB-2015 ngày 11/6/2015 phụ lục gia hạn Hợp đồng số
01/2015/PLHĐCTKB ngày 15/12/2015 cho Công ty TNHH Một thành viên P
(sau đây gọi tắt Công ty P) thuê K số 523 (số cũ 951) Đường A, phường P, quận
T, Thành phố Hồ C Minh, thời hạn hợp đồng t ngày 15/6/2015 đến ngày
15/6/2016 với giá cho thuê 106.411.000 đồng/tháng.
Ngày 10/6/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định
số 2998/QĐ-UBND về việc điều chuyển mặt bằng nhà đất số 523 Đường A,
phường P, quận T do Công ty K quản lý cho UBND quận T tiếp nhận quản lý.
Công ty K đã Văn bản số 197/KB-KHKD ngày 14/6/2016 thông báo
chấm dứt hợp đồng thu hồi K s523 (số 951) Đường A, phường P, quận
T, đề nghị Công ty P thu xếp giao trmặt bằng vào ngày 15/7/2016, tuy nhiên,
Công ty P không thực hiện theo đề nghị của Công ty K. Sau đó Công ty K tiếp
tục Công văn số 267/KB-KHKD ngày 23/8/2016; số 368/KB-KHKD ngày
31/10/2016; số 414/KB-KHKD ngày 23/11/2016; số 455/ KB-KHKD ngày
23/12/2016; số 05/ KB-KHKD ngày 09/01/2017 yêu cầu Công ty P giao trả
3
trống toàn bộ mặt bằng số 523 (số 951) Đường A, phường P, quận T cho
Công ty K để bàn giao cho UBND quận T (theo chỉ đạo của UBND Thành phố
Hồ Chí Minh), đồng thời thanh toán tiền thuê đến ngày bàn giao mặt bằng trống
cho Công ty K nhưng Công ty P vẫn không thực hiện.
Trong quá trình giải quyết việc thu hồi mặt bằng các ban ngành đại diện
của UBND quận T đã 02 lần tổ chức cuộc họp thống nhất việc bàn giao. Cụ thể
ngày 27/9/2016 UBND phường P chủ trì thì Công ty P đã cam kết đến hết ngày
30/10/2016 sẽ giao trả toàn bộ mặt bằng trống để Công ty K giao lại cho UBND
phường P tiếp nhận nhưng tới hạn Công ty P không thực hiện đúng cam kết.
Ngày 02/11/2016 UBND phường P, quận T đã chủ trì cuộc họp sự tham gia
của Đội quản lý nhà, Phòng Tài nguyên & Môi trưng quận T, Công ty K
Công ty P đề nghị bàn giao mặt bằng theo nội dung Biên bản làm việc ngày
27/9/2016. Phía Công ty P cho biết đơn vđã di dời xe ô dọn trống một
phần diện tích kho khoảng 1.500m
2
để bàn giao, phần diện tích còn lại khoảng
300m
2
(quán cà phê phía trước), Công ty P đề nghị UBND phường P cho thêm
thời gian di dời. Trên sở đó ngày 04/10/2016 Công ty K đã mời đại diện các
bên liên quan đến dự buổi bàn giao mặt bằng số 523 Đường A, phường P, quận
T, bao gồm Đội quản nhà, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Tài chính
Kế hoạch quận T đã ghi nhận hiện trạng báo cáo lãnh đạo UBND quận T.
Tuy nhiên đến ngày 16/11/2016 Đại diện Đội quản nhà cho biết lãnh đạo
Quận không đồng ý tiếp nhận mặt bằng theo hiện trạng nêu trên. Ngày
25/11/2016 Công ty K đã Công văn số 416 gửi UBND quận T xin ý kiến về
việc Công ty P xin giao trước một phần mặt bằng 1.500m
2
, sau đó UBND quận
T đã phúc đáp Công văn số 1618 ngày 30/12/2016 yêu cầu Công ty K khẩn
trương giao toàn bộ mặt bằng trống cho UBND quận T. Do đó không có văn bản
hay quan nào xác nhận việc đồng ý cho Công ty P bàn giao mặt bằng diện
tích kho khoảng 1.500m
2
như Công ty P trình bày trong các biên bản hòa giải.
Sau đó tới ngày 04/4/2017 Công ty P mới thực hiện việc giao trả mặt bằng
cho Công ty K (thể hiện bằng Biên bản Thu hồi K ngày 04/4/2017 và Biên bản
bàn giao tài sản ngày 07/4/2017).
Do Công ty P không thực hiện đúng theo c thỏa thuận tại Hợp đồng số
15/HĐCTKB-2015 ngày 11/6/2015 Phụ lục gia hạn Hợp đồng số
01/2015/PLHĐCTKB ngày 15/12/2015 không thiện c hợp tác, do đó
Tổng công ty Đ – TNHH Một thành viên yêu cầu:
Công ty P giao trả mặt bằng trống số 523 Đường A, phường P, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên quá trình khởi kiện vào ngày 04/4/2017
Công ty P đã bàn giao mặt bằng nên ngày 24/4/2017 Tổng công ty đãđơn rút
một phần yêu cầu khởi kiện trên.
Công ty P trách nhiệm thanh toán tiền thuê mặt bằng cho Tổng công ty
đến ngày giao trả mặt bằng ngày 03/4/2017 theo đơn giá ng 1,5 lần đơn giá
của Hợp đồng cho thuê K s15/HĐCTKB-2015 ngày 11/6/2015 Phụ lục gia
hạn Hợp đồng số 01/2015/PLHĐCTKB ngày 15/12/2015. Trong qtrình chưa
bàn giao mặt bằng phía Công ty P vẫn thanh toán tiền thuê kho tháng 7 và tháng
4
8/2016. Do đó Công ty K nh tiền thuê kho theo đơn giá tăng 1,5 lần từ ngày
11/9/2016 đến ngày 03/4/2017 1.133.277.150 đồng tiền lãi chậm thanh
toán theo mức lãi suất 9%/năm tính từ ngày 11/9/2016 đến ngày 23/12/2019
370.688.975 đồng. Tổng số tiền yêu cầu Công ty P thanh toán 1.503.964.125
đồng.
Theo như thỏa thuận tại khoản 1.3 Điều 1 của Hợp đồng, do Công ty P vi
phạm thời gian bàn giao mặt bằng nên Công ty P sẽ đương nhiên bị mất tiền
quỹ là 212.822.000 đồng.
Yêu cầu Công ty P thanh toán số tiền còn thiếu là 1.503.964.125 đồng. Yêu
cầu thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Đại diện bị đơn trình bày:
Công ty P xác nhận Hợp đồng thuê K số 15/HĐCTKB-2015 ngày
11/6/2015 Phụ lục gia hạn Hợp đồng số 01/2015/PLHĐCTKB ngày
15/12/2015 với Công ty K trực thuộc Tổng công ty với thời hạn 01 năm từ
15/6/2015 đến ngày 15/6/2016 với giá thuê 106.411.000 đồng/tháng.
Căn cứ Quyết định số 2988/QĐUBND ngày 10/6/2019 vviệc điều chỉnh
mặt bằng địa chỉ 523 (số 951) Đường A, phường P, quận T, Thành phố Hồ
Chí Minh cho UBND quận T tiếp nhận quản lý. Như vậy kể từ ngày 10/6/2019
mặt bằng trên thuộc sự quản của UBND quận T không còn thuộc quyền quản
lý của Công ty K.
Ngày 14/6/2016 Công ty K đã Văn bản s197/KB-KHKD thông báo
chấm dứt hợp đồng thu hồi K s523 (số 951) Đường A, phường P, quận
T, đề nghị Công ty P thu xếp giao trả mặt bằng vào ngày 15/7/2016. Tuy nhiên
do thời gian gấp rút, công ty đang hoạt động kho giữ xe kinh doanh quán
phê nên không tìm được mặt bằng mới để di dời. Theo cuộc họp ngày 27/9/2016
tại UBND phường P thành phần tham dự gồm chủ tịch phường, Công ty P và 02
cán bộ Công ty K, nội dung kết luận thống nhất Công ty P bàn giao mặt bằng
vào ngày 30/10/2016. Thực hiện cam kết Công ty P tích cực dọn trống mặt bằng,
tới ngày 25/9/2016 Công ty P đã dọn trống toàn bộ phần diện tích 1.500m
2
.
Riêng phần diện tích phía trước quán cà phê chưa dọn kịp, chưa tìm được mặt
bằng khác để di dời trong điều kiện quá gấp và cận Tết Nguyên đán.
Do đó ngày 10/10/2016 Công ty K Công văn số 22 ngày 10/10/2016 gửi
UBND Thành phố Hồ Chí Minh, UBND quận T UBND phường P, quận T
xin bàn giao 1.500m
2
, n phần diện tích 300m
2
quán phê xin các quan
chức năng xem xét giúp đỡ cho công ty qua tết Nguyên đán sẽ dời đi cụ thể
bàn giao o ngày 31/3/2017. Cụ thể tại Biên bảnm việc ngày 08/12/2016 với
sự phối hợp của Phòng Tài nguyên Môi trường quận T UBND phường P
thống nhất tạo điều kiện cho Công ty P bàn giao toàn bmặt bằng chậm nhất là
ngày 31/3/2017. Đến ngày 04/4/2017 Công ty P đã giao toàn bộ mặt bằng trống
(có văn bản bàn giao).
Do đó đề nghị Tòa án c yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: phụ lục
hợp đồng hai bên kết đã hết hiệu lực ngày vào ngày 15/6/2016; Công ty P đã
5
thanh toán tiền thuê mặt bằng của tháng 7 8/2018 theo phụ lục hợp đồng
trả 02 tháng; Ngày 10/6/2016 mặt bằng ththuộc sự tiếp quản của UBND
quận T theo Quyết định số 2988/QĐ-UBND; Công ty P được sử dụng mặt bằng
523 Đường A, phường P, quận T theo Văn bản số 22702/PC-VP ngày
30/11/2016 của UBND quận T giao cho phòng Tài nguyên Môi trường phối
hợp cùng UBND phường P chấp thuận cho Công ty P sdụng mặt bằng hết
ngày 31/3/2017; Buộc Công ty K trả lại tiền ký quỹ 212.822.000 đồng cho Công
ty P.
Về tiền bảo lãnh hợp đồng: Theo hợp đồng thuê kho 15/HDTKB ngày
11/6/2015 tới 15/6/2015 mà Công ty P đã trả tiền thuê tháng 7, 8/2016 không
vi phạm hợp đồng. Căn cứ vào Công văn số 22702/PC-VP ngày 30/11/2016 Văn
phòng UBND quận T giao cho Phòng Tài nguyên & Môi trường quận T sử dụng
mặt bằng 523 Đường A, phường P, quận T đến hết ngày 31/03/2017. Nên đề
nghị trả lại tiền ký quỹ theo hợp đồng là 212.822.000 đồng.
- Tại Văn bản số 686/UBND-TD ngày 24/5/2019 của Ủy ban nhân dân
quận T ý kiến như sau: Việc khởi kiện của Tổng Công ty Đ - TNHH Một
thành viên Công ty P liên quan Hợp đồng thuê K tại số 523 Đường A,
phường P, quận T đnghị Tòa án nhân dân quận T xem xét giải quyết theo quy
định pháp luật. Ủy ban nhân dân quận T xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn
tố tụng của Tòa án.
- Tại Văn bản số 1699/UBND ngày 21/9/2018 ông Nguyễn Đình đại
diện theo ủy quyền của UBND phường P trình bày: Công ty P cho rằng toàn bộ
mặt bằng 523-525 Âu được bàn giao 02 lần, lần 1 vào ngày 04/11/2016 bàn
giao diện tích phía sau khoảng 1.500m
2
lần 02 vào ngày 04/4/2017 bàn giao
mặt bằng phía trước khoảng 300m
2
thì: Về sở pháp lý: việc tiếp nhận bàn
giao thì UBND quận T, các ban ngành chức ng quận T và UBND phường P
chỉ tiếp nhận bàn giao toàn bộ mặt bằng trống vào ngày 04/4/2017. Phần mặt
bằng được bàn giao 02 lần hiện tại chưa có quyết định của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền và UBND phường cũng chưa chức năng nghiên cứu, thẩm định
các điều khoản của hợp đồng kinh tế giữa Công ty P và Công ty K nên không
ý kiến. Đề nghị Tòa án căn cứ theo các quy định của pháp luật và hợp đồng kinh
tế được kết giữ hai bên c chứng cliên quan để giải quyết vụ việc. Ủy
ban nhân dân phường P xin xét xử vắng mặt.
Tại Bản án dân sthẩm số 131/2019/KDTM-ST ngày 23/12/2019 của
Tòa án nhân dân quận T, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng công ty Đ– TNHH
một thành viên.
Buộc Công ty TNHH Một thành viên P trách nhiệm trả cho Tổng công
ty Đ– TNHH một thành viên tổng số tiền là 1.503.964.125đ (một tỷ, năm trăm lẻ
ba triệu, chín trăm sáu mươi bốn ngàn, một trăm hai mươi m đồng); trong đó
nợ gốc là 1.133.277.150 đ (một tỷ, một trăm ba mươi ba triệu, hai trăm bảy
mươi bảy ngàn, một trăm năm mươi đồng), nợ lãi là 370.686.975 đ (ba trăm bảy
mươi triệu, sáu trăm tám mươi sáu ngàn, chín trăm bảy mươi lăm đồng).
6
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án hiệu lực
pháp luật.
Kể từ ngày Tổng công ty Đ– TNHH một thành viên đơn yêu cầu thi
hành án nếu Công ty TNHH Một thành viên P không thi hành thì hàng tháng
Công ty TNHH Một thành viên P còn phải trả thêm số tiền lãi theo mức lãi suất
được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại tương ứng với thời gian số tiền
chậm trả.
2. Đình chỉ xét xmột phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu Công ty TNHH
P giao trả trống toàn bộ K số 523 Đường A, phường P, quận T, TP.HCM của
Tổng công ty Đ– TNHH một thành viên.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH Một thành viên P phải chịu án phí sơ thẩm 57.118.924 đ
(năm mươi bảy triệu, một trăm mười tám ngàn, chín trăm hai mươi bốn đồng).
Hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí 14.769.320đ (mười bốn triệu,
bảy trăm sáu mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi đồng) cho Tổng công ty Đ
TNHH một thành viên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0026113 ngày
10/02/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận T.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về việc thi hành án và quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định.
-Ngày 31/12/2019 Công ty P nộp đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án
sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng
xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận kháng cáo, sửa bản
án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh- ông Huỳnh
Thanh Hải - Kiểm sát viên, phát biểu nội dung chính như sau: Nhận thấy
Thẩm phán Hội đồng xét xphúc thẩm đã tuân thđúng thủ tục tố tụng, các
đương sự thực hiện được quyền nghĩa vụ tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thừa nhận nội dung trình bày của
các đương strong bản án thẩm đúng; trong giai đoạn phúc thẩm bị đơn
nộp bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ. t, Tòa án nhân dân quận T, thụ giải
7
quyết tranh chấp về hợp đồng thuê kho”, giữa Tổng công ty Đ TNHH một
thành viên/nguyên đơn với Công ty P/bị đơn là đúng trình tự, thủ tục thẩm
quyền. Sau khi xét xử thẩm, bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật
định nên đơn kháng cáo hợp lệ. Xét, UBND phường P và UBND quận T có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
họ theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét, u cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xnhận thấy: Tại
Công văn s2473/UBND, ngày 28/11/2019 của UBND phường P, quận T,
nội dung n sau: “Ngày 04/11/2016 Công ty K Thành phố trực thuộc Tổng
công ty Đ- TNHH một thành viên, tiến hành mời c quan chức năng có liên
quan để tiến hành bàn giao mặt bằng trên cho UBND quận T quản lý. Tuy nhiên,
trong quá trình bàn giao mặt bằng trên, Công ty K Thành phố, đang cho Công ty
P thuê lại, khi tiến hành kiểm tra hiện trạng đbàn giao, mặt bằng nhà kho bên
trong sân hai bên hông nhà kho có tổng diện tích khoảng 1.500m
2
đã được
dọn trống; riêng mặt bằng phía trước diện tích khoảng 300m
2
Công ty P vẫn còn
sử dụng để làm quán cà fe”. Xét thấy, nội dung xác nhận này của UBND
phường P, phù hợp với lời trình bày của các đương sự, các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án, sau khi thông báo thu hồi mặt bằng để giao lại UBND quận T, bị
đơn đã thu dọn giao trước 1.500m
2
mặt bằng cho bên nguyên đơn chứng
cứ. Tại thời điểm ngày 04/11/2016 bị đơn giao trả lại phần diện tích mặt bằng
này cho bên nguyên đơn Công ty K (như xác nhận của UBND phường P nêu
trên); đúng với tinh thần Quyết định số 2998/QĐ-UBND ngày 10/6/2016 của
UBND Thành phố Hồ Chí Minh, là: “…yêu cầu Công ty K có trách nhiệm thanh
ngay hợp đồng cho thuê và bàn giao trống mặt bằng trên cho UBND quận T”.
Như vậy, tại thời điểm này, quyền thỏa thuận, tiếp nhận, thanh hợp đồng cho
thuê mặt bằng vẫn còn thuộc quyền của Công ty K vì mặt bằng chưa được bàn
giao cho UBND quận T; nên việc bị đơn giao trlần đầu, diện tích 1.500m
2
ã
được dọn trống) sự chấp nhận của bên nguyên đơn với sự xác nhận của
chính quyền phường P; thực tế từ sau khi bị đơn dọn trống trả phần diện tích mặt
bằng thì bị đơn không còn quản lý, khai thác kinh doanh trên mặt bằng này. Bản
án thẩm buộc bđơn thanh toán tiền thuê toàn bộ mặt bằng không trừ phần
diện tích mặt bằng bị đơn trả trước 1.500m
2
không đúng với thực tế, vì vậy có
căn cđể chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Theo đó, diện tích
1.500m
2
bị đơn đã thanh toán tiền thuê cho nguyên đơn đến tháng 8/2016, mặt
bằng này được giao trả ngày 04/11/2016, nvậy bị đơn chưa thanh toán cho
nguyên đơn 02 tháng (tháng 9 tháng 10) tiền thuê mặt bằng 212.822.000
đồng.
Riêng phần diện tích mặt bằng 300m
2
quán ca fe, do bị đơn chậm di dời
giao trả, cụ thể tiền thuê mặt bằng tháng 11; 12/2016 3 tháng đầu năm 2017
(tính đến ngày thực tế giao trả mặt bằng), tổng cộng 05 tháng x 15.000.000
đồng/tháng (tính giá thuê theo hợp đồng mức tăng 1.5 lần cho 300m
2
) =
75.000.000 đồng, bị đơn chưa thanh toán.
Ngoài ra, bị đơn còn phải trả tiền lãi chậm thanh toán theo yêu cầu của
nguyên đơn với mức lãi suất 9%/năm; thấp hơn mức lãi suất quá hạn trung bình
8
trên thị trường (theo Điều 306 Luật Thương mại)14%/năm nên có cơ sở chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tính từ ngày 11/9/2016 đến ngày xét xử thẩm
(ngày 23/12/2019) số tiền là 8.620.269 đồng. Tổng 3 khoản tiền nêu trên, bị đơn
phải thanh toán cho nguyên đơn 296.442.269 đồng.
Riêng số tiền bị đơn nộp bảo lãnh hợp đồng cho nguyên đơn 212.822.000
đồng; bị đơn yêu cầu nguyên đơn giao trả lại nhưng bị đơn không u cầu
phản tố; quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn có đề cập; bản
án sơ thẩm có lập luận nhưng chưa làm thủ tục tạm ng án phí và bản án sơ thẩm
chưa quyết định về phần này thiếu t nhưng thiếu sót y không nghiêm
trọng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự nên không phải hủy
bản án sơ thẩm; khoản tiền này nếu các đương sự không thỏa thuận được với
nhau thì quyền khởi kiện tại Tòa án thẩm quyền để được xem xét, thụ
giải quyết bằng vụ án khác.
Do Hội đồng t xử, sửa một phần bản án thẩm; chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bđơn thanh toán tổng các khoản tiền
cho nguyên đơn 296.442.269 đồng; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn số
tiền 1.207.521.856 đồng; vậy Hội đồng xét xử xác định lại án phí nguyên đơn
phải chịu 48.225.656 đồng bị đơn phải chịu 14.822.113 đồng hoàn lại tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm cho bị đơn theo quy định.
Xét, việc sửa một phần bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi vì
trong giai đoạn phúc thẩm đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ giải trình
thêm về việc kết quá trình thực hiện hợp đồng nên được xem tình tiết
mới tại cấp phúc thẩm. Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không
xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2, Điều 308; Khoản 2, Điều 148; Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Khoản 1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Một thành
viên P. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 131/2019/KDTM-ST ngày
23/12/2019 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể:
Xử:
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng công ty Đ
– TNHH một thành viên.
Buộc Công ty TNHH Một thành viên P trả cho Tổng công ty Đ TNHH
một thành viên, tổng số tiền 296.442.269 (Hai trăm, chín mươi sáu triệu, bốn
trăm, bốn mươi hai ngàn, hai trăm sáu mươi chín) đồng.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại quan Thi hành
án dân sự có thẩm quyền.
9
Kể từ ngày Tổng công ty địa ốc Sài Gòn TNHH một thành viên đơn
yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH Một thành viên P không thi hành thì
hàng tháng Công ty TNHH Một thành viên P còn phải trả thêm số tiền lãi theo
mức lãi suất được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại tương ứng với thời
gian và số tiền chậm trả.
2/. Không chấp nhận yêu cầu của Tổng công ty Đ TNHH một thành viên
đòi Công ty TNHH Một thành viên P trtiền thuê mặt bằng lãi chậm thanh
toán với số tiền 1.207.521.856 (Một tỷ, hai trăm lẻ bảy triệu, m trăm hai
mươi mốt ngàn, tám trăm năm mươi sáu) đồng.
3/. Đình chỉ xét xmột phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu Công ty TNHH
Một thành viên P giao trả trống toàn bộ K số 523 Đường A, phường P, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh của Tổng công ty Đ – TNHH một thành viên.
4/. Án phí sơ thẩm:
- Tổng công ty Đ – TNHH một thành viên phải chịu 48.225.656 (Bốn mươi
tám triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn, u trăm năm mươi sáu) đồng, nhưng
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.769.320 (Mười bốn triệu,
bảy trăm sáu mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng
án phí số AA/2016/0026113 ngày 10/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự
quận T; như vậy, Tổng công ty Đ TNHH một thành viên còn phải nộp thêm
33.456.336 (Ba mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi sáu ngàn, ba trăm ba mươi
sáu) đồng, tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Công ty TNHH Một thành viên P phải chịu án phí sơ thẩm 14.822.113
(Mười bốn triệu, tám trăm hai mươi hai ngàn, một trăm mười ba) đồng, nộp tại
cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5/. Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm;
hoàn trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên P toàn bộ tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu số
AA/2019/0020407, ngày 06/01/2020 1.700.000 (Một triệu bảy trăm ngàn)
đồng, theo Biên lai thu số AA/2019/0020555 ngày 14/02/2020 cả hai biên lai
này của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
10
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- TAND cấp cao tại TP.HCM
-VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND quận T;
- Cục THADS TP.HCM;
- Chi cục THADS quận T;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Công To
ại
11
Tải về
Bản án số 549/2020/KDTM-PT Bản án số 549/2020/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất