Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 19/04/2023 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 19/04/2023 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 54/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/04/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông V xin ly hôn bà H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TP. BUÔN MA THUỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 54/2023/HN-ST
Ngày 19/4/2023
“V/v: Ly hôn nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Liên
2. Bà Tống Thị Điệp
Thư phiên tòa: Ông Bùi Văn Cảnh Thư Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử trụ sở Toà án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
135/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 02 năm 2023, về việc Ly hôn nuôi con
chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03
tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Long V, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số 40 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Bị đơn: Bà Lý Thị Ánh H, sinh năm 1980.
HKTT: Số 201 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: 55F đường A4, thôn 1,C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giả quyết vụ án tại phiên tòa nguyên đơn
ông Đinh Long V trình bày:
Ông Đinh Long V Thị Ánh H tự nguyện đăng kết hôn tại UBND
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 05/6/2019.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không
phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Nay ông V xác định vchồng không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu Tòa án
giải quyết cho ông V được ly hôn với bà H.
2
- Về con chung: Ông V và H một con chung Đinh Ngọc Gia K, sinh
ngày 29/5/2019. Sau khi ly hôn ông V đồng ý để cho H được trực tiếp nuôi dưỡng
cháu K cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Đinh Long V tự nguyện hằng tháng
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019
mỗi tháng 3.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng ktừ tháng 05/2023 cho đến khi cháu
K đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông V tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Lý Thị Ánh H trình bày:
H ông Đinh Long V tự nguyện đăng kết hôn tại UBND phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 05/6/2019.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không
phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng,
hiện vợ chồng đã sống từ tháng 8/2022.
Nay ông V xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu
Tòa án giải quyết cho ly hôn với H, thì H ý kiến, do con còn nhỏ nên H
không muốn ly hôn, nếu ông V đưa cho H 200.000.000 đồng để nuôi con chữa
bệnh cho con tBà H sẽ đồng ý ly hôn.
- Về con chung: H ông V một con chung Đinh Ngọc Gia K, sinh
ngày 29/5/2019, hiện đang với H. Trường hợp ông V kiên quyết yêu cầu tòa án
giải quyết cho ly hôn thì nguyện vọng của H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cho
đến khi đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: H yêu cầu ông V nghĩa vụ hằng tháng
phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 3.500.000 đồng, cho đến khi cháu
K đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên
tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ
đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán tại phiên tòa Hội đồng xét
xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia
đình.
Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Long V xin
ly hôn bà Lý Thị Ánh H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đinh Long V được ly hôn với Lý Thị Ánh H.
Về con chung: Giao cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 cho Thị
Ánh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Đinh Long V quyền, nghĩa vthăm nom chăm sóc con chung mà
không ai được cản trở.
3
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Đinh Long V hằng tháng nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 mỗi tháng
3.500.000đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4/2023 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông V, H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải
quyết.
Về án phí: Nguyên đơn ông V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thẩm quyền quan hệ pháp luật: Đây vụ án tranh chấp vhôn nhân
gia đình, bị đơn Thị Ánh H trú, sinh sống tại phường T, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn
Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng
kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 05/6/2019, quan
hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian
đầu sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất
đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung
dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay ông V thấy không còn tình cảm với
H nữa nên ông V yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông V được ly hôn vớiThị Ánh
H.
Tại biên bản xác minh của Tòa án chính quyền địa phương thể hiện về mâu
thuẫn vợ chồng giữa ông V H cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm
được, địa phương chỉ biết hiện vợ chồng đã sống ly thân, con chung Đinh Ngọc Gia
K, sinh ngày 29/5/2019, hiện đang do bà H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
Xét mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa ông V và bà H đã trầm trọng, không
còn khả năng hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì không hạnh phúc,
mục đích hôn nhân không đạt được ông V, bà H đã từng nộp đơn lên Tòa án xin ly
hôn sau đó rút đơn về đoàn tụ nhưng không cải thiện, hàn gắn được mâu thuẫn nên ông
V tiếp tục làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin
ly hôn của ông V là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Hiện nay bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đinh
Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 nếu ly hôn H nguyện vọng được trực tiếp
nuôi dưỡng nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung để ổn định cuộc
sống của con chung cần giao cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 cho H
được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Ông Đinh Long V quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở phù
hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
4
Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Ông V tnguyện mỗi tháng cấp dưỡng nuôi
con chung 3.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 05/2023 cho đến khi
cháu K đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với c
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Ông V, H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải
quyết.
[5]. Về án phí: Ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 266; Điều 271 Điều 273 của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia
đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí
và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Long V xin ly hôn
Thị Ánh H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đinh Long V được ly hôn Lý Thị Ánh H.
Về con chung: Giao cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 cho Thị
Ánh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Đinh Long V quyền, nghĩa vthăm nom và chăm sóc con chung
không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Đinh Long V hằng tháng nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung cháu Đinh Ngọc Gia K, sinh ngày 29/5/2019 mỗi tháng
3.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 05/2023 cho đến khi cháu K đủ 18
tuổi.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông V, H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải
quyết.
Về án phí: Ông Đinh Long V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sthẩm về
việc ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng ông V đã nộp tại Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2022/0000202 ngày
14/02/2023. Ông Đinh Long còn tiếp tục phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm.
5
Đương sự mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án n sự, thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND TP. B;
- CCTHADS TP. B; ã ký)
- UBND p. Thành Công, TP. B;
- Các đương sự;
- Lưu: HS + VP.
Lê Đình Thanh
Tải về
Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất