Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 53/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long |
Số hiệu: | 53/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 25/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn giữa chị Nguyễn Đồng Kim NĐ với bị đơn Cao Minh BĐ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHÂU THÀNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: Bà Lê Thị Lăng
Các Hi thm nhân dân: Ông Nguyễn Tống Nê, Bà Âu Thị Kiều Sương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Bà Trần Hiền Diệu –
Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công
khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 649/2024/TLST - HNGĐ
ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
101/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 09/6/2025. Giữa các đương sự:
1. Nguyễn Đồng Kim NĐ, sinh năm 2001 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp LS, xã LT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
Cao Minh BĐ, sinh năm 1995 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp QL, xã QS, huyện CT, tỉnh Bến Tre
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn
Đồng Kim NĐ trình bày: Do quen biết, tìm hiểu, chị NĐ và anh Cao Minh BĐ tự
nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Quới
Sơn, huyện Châu Thành. Sau khi kết hôn, anh chị chỉ hạnh phúc được thời gian đầu
sau đó thì không còn hạnh phúc với lý do anh BĐ có quan hệ tình cảm bất chính với
người phụ nữ khác, anh BĐ còn bạo hành, bóp cổ chị nhiều lần và 01 lần tát tay chị.
Gia đình hai bên đều biết mâu thuẫn giữa anh chị, có khuyên giải để anh BĐ sửa đổi
nhưng anh vẫn không thay đổi. Từ tháng 10/2024 chị NĐ đưa 02 con về nhà cha ruột
của chị sinh sống và ly thân với anh BĐ, vài tháng gần đây thì anh BĐ là người trực
tiếp nuôi cháu Cao Gia Huy. Nay chị NĐ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly
hôn với anh BĐ.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Cao Gia Huy, sinh ngày
12/7/2020 và Cao Duy K, sinh ngày 14/4/2023 hiện chị NĐ trực tiếp nuôi cháu K, anh
BĐ trực tiếp nuôi cháu H. Khi ly hôn, chị NĐ yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Cao
Duy K, yêu cầu anh BĐ nuôi cháu Cao Gia H, chị và anh BĐ không ai phải cấp dưỡng
2
nuôi con. Trước đây chị yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, yêu cầu anh BĐ cấp
dưỡng nuôi 02 con mỗi cháu mỗi tháng 3.000.000 đồng nhưng quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên tòa chị NĐ thay đổi yêu cầu về nuôi con và không yêu cầu về cấp
dưỡng nuôi con.
Hiện tại chị NĐ làm công nhân, lương mỗi tháng từ 6.000.000 đồng đến
7.000.000 đồng và đang sống cùng cha ruột nên chị đủ khả năng để nuôi cháu Cao
Duy K. Anh BĐ có thu nhập cao, mỗi tháng khoảng 20.000.000 đồng nên anh BĐ sẽ
đủ khả năng nuôi và điều trị cho cháu Cao Gia H bị chậm phát triển.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị NĐ xác định giữa chị và anh BĐ không có tài
sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình gii quyt v án, b Cao Minh trình bày: Anh BĐ thống
nhất với lời trình bày của chị NĐ về điều kiện, thời gian kết hôn và tình trạng hôn
nhân. Tuy nhiên, anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn. Việc chị NĐ cho
rằng anh có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác thì có việc anh sống cùng người
phụ nữ khác vài tháng nhưng đó là việc của trước đây, anh đã chấm dứt với người phụ
nữ này. Từ thời gian vợ chồng ly thân tháng 10/2024 đến nay, anh nhiều lần tìm cách
hàn gắn tình cảm, nan nỉ để chị NĐ trở về đoàn tụ nhưng chị NĐ vẫn không về.
Về con chung, anh BĐ thống nhất với lời trình bày của chị NĐ là anh chị có 02
con chung, anh đang trực tiếp nuôi cháu H, chị NĐ đang nuôi dưỡng cháu K và hàng
tháng anh đều gửi tiền nuôi cháu K. Nếu phải ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi
hai con vì anh có thu nhập ổn định mỗi tháng hơn 20.000.000 đồng, đồng thời vì cháu
Cao Gia H bị chậm phát triển nên anh yêu cầu để hai con được sống cùng nhau để
cháu K giúp cháu H được phát triển tốt hơn. Anh không yêu cầu chị NĐ phải cấp
dưỡng nuôi con. Về thu nhập của chị NĐ thì chị làm công nhân, mỗi tháng khoảng
6.000.000 đồng như lời chị trình bày.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh BĐ xác định giữa anh và chị NĐ không có
tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Châu Thành phát biểu quan
điểm: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến
hành tố tụng và các đương sự đã tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án,
thấy rằng mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị NĐ. Về nuôi
con chung, hiện tại cháu H đang do anh BĐ, cháu K đang do chị NĐ trực tiếp nuôi
dưỡng. Cháu K dưới 36 tháng tuổi và chị NĐ có đủ điều kiện nuôi con và cũng không
cần thiết làm xáo trộn môi trường sống hiện tại của các cháu nên đề nghị Tòa án giải
quyết cho chị NĐ được trực tiếp nuôi cháu K, anh BĐ được trực tiếp nuôi cháu H, anh
chị không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con. Không
giải quyết về tài sản chung và nợ chung của chị NĐ và anh BĐ trong cùng vụ án do
các đương sự trình bày không có và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
3
[1] Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án hôn nhân
gia đình về việc “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đồng Kim NĐ đối với anh Cao Minh
BĐ, thấy rằng:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Đồng Kim NĐ và anh Cao Minh BĐ kết hôn trên cơ
sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm
các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công
nhận và bảo vệ. Chị NĐ xác định mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc anh BĐ không
yêu thương, chung thủy với chị, anh BĐ còn bạo hành, bóp cổ chị nhiều lần dẫn đến
mâu thuẫn vợ chồng. Anh BĐ cũng nhìn nhận lỗi dẫn đến tình trạng hôn nhân như
hiện tại thuộc về anh do anh đã từng sống chung với người phụ nữ khác vài tháng
nhưng anh đã chấm dứt với người phụ nữ này, việc anh bóp cổ, tát tay chị cũng không
phải vô cớ. Hiện chị NĐ vẫn giữ yêu cầu ly hôn với lý do không còn lòng tin nên
không thể tiếp tục chung sống với anh BĐ. Hội đồng xét xử thấy rằng lỗi dẫn đến mâu
thuẫn giữa chị NĐ và anh BĐ hoàn toàn thuộc về anh BĐ. Anh BĐ đã vi phạm nghĩa
vụ chung thủy giữa vợ chồng, bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh
phúc và tình cảm vợ chồng, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đời sống chung của anh
chị không thể kéo dài và thực tế anh chị đã ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, mục đích
hôn nhân giữa anh chị không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia
đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị NĐ, cho chị và anh BĐ ly hôn.
Về nuôi con chung: Chị NĐ và anh BĐ có 02 con chung là cháu Cao Gia H, sinh
ngày 12/7/2020 hiện do anh BĐ nuôi dưỡng và Cao Duy K, sinh ngày 14/4/2023 hiện
chị NĐ nuôi dưỡng. Anh BĐ có yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con vì thu nhập của
anh cao và ổn định, mỗi tháng hơn 20.000.000 đồng, đồng thời anh yêu cầu để hai con
được sống cùng nhau để cháu K có thể giúp cháu H phát triển. Hội đồng xét xử xét
thấy cả chị NĐ và anh BĐ mỗi người đều có khả năng để nuôi dạy con, tuy nhiên,
cháu Cao Duy K, sinh ngày 14/4/2023 hiện dưới 36 tháng tuổi và đang chị NĐ đang
trực tiếp nuôi dưỡng nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần tiếp tục giao
cháu K cho chị NĐ nuôi dưỡng.
Đối với cháu Cao Gia H, cả chị NĐ và anh BĐ đều xác định cháu bị chậm phát
triển, anh BĐ cho rằng cần để hai cháu sống cùng nhau để cháu K chưa đủ 36 tháng
tuổi giúp cháu BĐ phát triển là không có cơ sở pháp lý trong khi Luật Hôn nhân và
Gia đình quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nếu
mẹ có khả năng nuôi con nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của con. Do đó, cần
chấp nhận yêu cầu của chị NĐ và nguyện vọng của anh BĐ, giao cháu Cao Gia H cho
anh BĐ trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận anh BĐ và chị NĐ không yêu cầu người không
trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và về nợ chung: Do các đương sự tự trình bày không có tài sản
chung, không có nợ chung và cũng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ
4
chung nên không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của chị NĐ và anh BĐ
trong cùng vụ án.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận toàn
bộ.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Đồng Kim NĐ là nguyên đơn
phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục
Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đồng Kim NĐ.
Chị Nguyễn Đồng Kim NĐ được ly hôn với anh Cao Minh BĐ.
[2] Về nuôi con chung: chị Nguyễn Đồng Kim NĐ được nuôi con tên Cao Duy K,
sinh ngày 14/4/2023 hiện do chị NĐ trực tiếp nuôi dưỡng; anh Cao Minh BĐ được
nuôi con tên Cao Gia H, sinh ngày 12/7/2020 hiện do anh BĐ trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận chị NĐ không yêu cầu anh BĐ cấp dưỡng nuôi cháu K, anh BĐ không yêu
cầu chị NĐ cấp dưỡng nuôi cháu H.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự
hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không
trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nếu
lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, các bên, cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng
nuôi con.
[3] Về tài sản chung và về nợ chung: chị NĐ và anh BĐ tự khai giữa anh chị
không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
Tòa án không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị Nguyễn Đồng Kim NĐ
phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006357
ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để
yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
5
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bến Tre; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Châu Thành;
- Chi Cục THADS huyện Châu Thành;
- Các đương sự;
- UBND xã Quới Sơn
(Số 38, ngày 15/6/2020);
- Lưu HS, VP
Lê Thị Lăng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm