Bản án số 52/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 52/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 52/2020/HS-ST ngày 22/12/2020 của TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vụ Bản (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 52/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 52/2020/HS-ST
Ngày: 22-12-2020.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Mạnh.
Bà Cù Thị Hanh.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Thanh Thảo - Thẩm tra viên Tòa án
nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh
Nam Định xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số:
52/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 49/2020/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng S; sinh năm 1990; nơi sinh: Xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Nơi ĐKHKTT và trú: Xóm 7, thôn A, A, huyện B, tỉnh Nam;
nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1959
Mai Thị L, sinh năm 1958 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền
sự: Ngày 10-8-2020 bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành
chính hình thức phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân:
Ngày 17-3-2017, bTòa án nhân dân huyện B, tỉnh Nam ra quyết định áp
dụng biện pháp xử hành chính đưa vào sở giáo dục bắt buộc, trong thời
hạn 24 tháng về hành vi “Xúc phạm danh dự nhân phẩm thành viên gia đình”,
theo quyết định số 05/QĐ-TAND ngày 15-9-2020 bị Tòa án nhân dân huyện
V, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng về tội Trộm cắp tài sản”; bị tạm giam t
ngày 11-9-2020 cho đến nay (Có mặt).
- Bị hại:
+ Bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện V,
tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
2
+ Ông Hoàng Văn A, sinh năm 1963; nơi trú: Thôn B, C, huyện V,
tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
- Những người tham gia tố tụng khác - Người làm chứng:
+ Ông Phạm Văn K (Vắng mặt).
+ Anh Phạm Xuân T (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Trọng Q ( mặt).
+ Anh Nguyễn Minh C (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần ma túy để sử dụng, nên khoảng 09 giờ ngày 11-9-2020 Nguyễn
Trọng S một mình điều khiển xe mô tô không biển kiểm soát đi từ nhà ở xóm 7,
thôn A, A, huyện B, tỉnh Nam theo quốc lộ 21B ra thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực Ga Nam Định, S gặp một
người đàn ông khoảng 40 tuổi, không tên, tuổi, địa chỉ đang ngồi một mình
lề đường bên phải theo hướng đi, đoán nhận người đàn ông ma túy để bán, S
đã hỏi và mua được 01(một) gói ma túy (heroine) với giá 100.000đ (Một trăm
nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, S bỏ gói ma túy vào trong bao thuốc
Thăng Long màu vàng, sau đó bỏ cả bao thuốc lá vào trong túi quần phía trước
bên phải đang mặc và điều khiển xe mô tô đi ngược theo đường cũ để tìm nơi sử
dụng ma túy. Khi S đi đến khu vực thôn B, C, huyện V, tỉnh Nam Định; S
dừng xe quan sát phát hiện gia đình Trần Thị ch N đóng cổng, khóa cửa
không ai nhà, S nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 (hai) cánh cổng sắt để bán
lấy tiền tiêu xài. S dùng hai tay lần lượt nhấc 02(hai) cánh cổng ra khỏi bản lề,
hạ hai cánh cổng xuống đất rồi chồng lên nhau, sau đó cả hai cánh cổng để
lên trên yên xe chở đi tìm nơi để bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày,
khi S điều khiển xe đi đến khu vực thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định thì tổ
công tác của Công an xã C đang làm nhiệm vphát hiện bắt quả tang S có hành
vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy (heroin) trong 01 bao thuốc lá Thăng Long bỏ
trong túi quần phía trước bên phải, S khai mua gói ma y trên về với mục đích
sử dụng. quan Công an đã thu giữ số ma túy trên, tiến hành niêm phong
01(một) gói nhỏ có vỏ bên ngoài là lớp giấy bạc màu trắng, bên trong là chất bột
dạng cục màu trắng trong phong bì thư hiệu M1. Ngoài ra Công an còn thu
gicủa S 01 (một) xe mô không biển kiểm soát nhãn hiệu Hon da màu sơn
đỏ, xe cũ đã qua sử dụng 02 (hai) cánh cổng sắt sơn màu xanh.
Tại bản kết luận giám định số 986 ngày 12-9-2020 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong
một gói nhỏ vỏ ngoài lớp giấy bạc màu trắng được niêm phong hiệu M1
gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M1: 0,156gam.
3
Tại Bản kết luận định giá số 41 ngày 22-9-2020 của Hội đồng định giá đã
kết luận: 02 cánh cổng sắt mà S đã trộm cắp của gia đình bà Trần Thị Bích N
trị giá là 344.000đ (Ba trăm bốn mươi tư nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSVB ngày 19 tháng 11 năm 2020 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố hành vi của Nguyễn Trọng S vcác
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật
Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V sau khi phân tích, đánh giá các
chứng cứ buộc tội đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội,
nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo giữ nguyên quan
điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bbị cáo Nguyễn Trọng S phạm các tội “Trộm cắp
tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. X phạt bị cáo Nguyễn Trọng S từ 09 tháng đến 12 tháng về tội
“Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng S từ 15 tháng đến 18 tháng vtội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo S phải chấp hành hình
phạt chung cho cả hai tội, thời hạn tù tính từ ngày 11-9-2020.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt
15(Mười lăm) tháng tại bản án số 42/2020/ HS-ST ngày 15-9-2020 của Tòa
án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định; bị cáo Nguyễn Trọng S phải chấp hành
hình phạt chung của cả hai bản án; thời hạn tù tính từ ngày 11-9-2020.
- Về xử vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ
số ma túy đã thu giữ của S.
- Về án phí hình sự thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào c tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của nh vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết
định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V; Điều tra viên; Viện
4
kiểm sát nhân dân huyện V; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng nh sự. Quá trình điều tra tại phn tòa bị o, những nời tham gia tố
tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,c hành viquyết định tố tụng
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến nh tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2]. Vchứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận
tội của bị cáo Nguyễn Trọng S tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
đã được thu thập hợp pháp trong hồ vụ án như: Biên bản bắt người phạm
tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Sơ đồ hiện trường;
Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản lời khai của người bị hại, của
người làm chứng tại quan điều tra cùng với các tài liệu, chứng cứ khác. Do
đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 11-9-2020 tại khu vực thôn T, C, huyện V, tỉnh
Nam Định, Nguyễn Trọng S đang hành vi cất giấu trái phép 0,156 gam
Heroine ở trong người thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra trong ngày 11-9-2020 Nguyễn Trọng S hành vi lén lút chiếm
đoạt 02 (hai) cánh cổng bằng sắt trị giá 344.000đ (Ba trăm bốn mươi bốn nghìn
đồng) của gia đình bà Trần Thị Bích N thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định
với mục đích để bán lấy tiền tiêu xài nhân. Tuy giá trị tài sản bị cáo đã
trộm cắp của gia đình N trong ngày 11-9-2020 dưới 2.000.000đ, nhưng ngày
10-8-2020 bị cáo bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành
chính hình thức phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản, nay bị cáo
lại tiếp tục vi phạm.
Như vậy, đối chiếu các hành vi bị cáo S đã thực hiện với những quy
đinh của Bộ luật Hình sự hiện hành thì những hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ
yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
173 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của
Bộ luật Hình s.
[3]. Về nh chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm
tội của bị cáo đã xâm phạm tới quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân
được pháp luật bảo vệ xâm phạm đến việc quản các chất ma túy của nhà
nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn hội tại địa
phương. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma y hành vi trộm cắp tài
sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần phải áp
dụng mức hình phạt tương xứng với mỗi hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo,
giáo dục bị cáo nói riêng và để răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm nói chung.
5
[4]. Vnhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình scủa
bị cáo:
- Về nhân thân: Qua các tài liệu trong hồ vụ án thể hiện bị cáo
nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử hành
chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và bị xét xử về tộiTrộm cắp tài sản”.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không .
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo
đều thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về đường lối xử lý: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành
vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự động mục
đích phạm tội ca bị cáo; Hội đồng xét thấy cần phải áp dụng hình phạt
thời hạn đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi môi trường xã hội một thời gian
nhất định thì mớithể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân ích
cho gia đình và xã hội.
Về nh phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định, tàng trữ ma
túy với mc đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền
đối với bị cáo.
[6]. Tổng hợp hình phạt: Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng
quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt buộc bị cáo
S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của
Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 15(Mười lăm) tháng tù tại bản án số
42/2020/ HS-ST ngày 15-9-2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định;
bị cáo Nguyễn Trọng S phải chấp hành hình phạt chung ca cả hai bản án.
[7]. Về trách nhiệm dân s: Người bị hại đã được nhận lại tài sản (02
cánh cổng bằng sắt) bị chiếm đoạt không yêu cầu bị cáo phải bồi thường
thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là Heroin
đã thu giữ của bị cáo.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe BKS 29E1-745.90 S đã
dùng để đi mua ma túy và trộm cắp tài sản là của ông Nguyễn Trọng Q sinh năm
1959 (bố đẻ của S); trú tại thôn A, A, huyện B, tỉnh Nam. Ông Q không
biết việc S dùng chiếc xe trên để đi thực hiện hành vi phạm tội, quan CSĐT
Công an huyện V, tỉnh Nam Định đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp
pháp là đúng.
[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng
hình sự Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
6
thu, nộp, quản sdụng án plệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- X phạt bị cáo Nguyễn Trọng S 09 (Chín) tháng tù.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng S 15 (Mười lăm) tháng tù.
3. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo S phải chấp hành hình
phạt chung cho cả hai tội là 24 (Hai bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 11-9-
2020.
4. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt
15(Mười lăm) tháng tại bản án số 42/2020/ HS-ST ngày 15-9-2020 ca Tòa
án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định; bị cáo Nguyễn Trọng S phải chấp hành
hình phạt chung của cả hai bản án 39 (Ba chín) tháng tù; thời hạn tính từ
ngày 11-9-2020.
5. Về xử vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự Điều
106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy là Heroin đã thu giữ (01 phong bì niêm phong
số 986/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Đnh).
(Vật chứng đặc điểm nbiên bản về việc giao nhận vật chứng, i
sản ngày 20-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
6. Án p hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng S phải nộp
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
7. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự tbị cáo quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
7
- Bị hại;
- TAND tỉnh Nam Đnh;
- VKSND huyện + tỉnh;
- Công an huyện V;
- CCTHADS huyện V;
- UBND xã A;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP Tòa án.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Trường Nam
Tải về
Bản án số 52/2020/HS-ST Bản án số 52/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất