Bản án số 507/2024/DS-PT ngày 04/09/2024 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 507/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 507/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 507/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 507/2024/DS-PT ngày 04/09/2024 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 507/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/09/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 507/2024/DS-PT
Ngày: 04-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tn Li
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững
Ông Sỹ Danh Đạt
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/6/2024, ngày 06/8/2024 và ngày 04/9/2024 tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l
số: 238/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 356/2024/QĐ-PT ngày
27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Mười H, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Tổ A, Khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Mười H: Ông
Mai Dũng M, sinh năm 1964 (có mặt); Địa chỉ: Tổ A, p H, xã H, thành phố C,
tỉnh Đng Tháp (Hp đng ủy quyền ngày 23/9/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị Mười
H: Luật sư Ngô Trọng H1 là thành viên Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn Luật
sư tỉnh Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Nguyễn Thành K, sinh năm 1957;
2
Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã M, thành phố C, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Thành K: Anh
Nguyễn Cao H2, sinh năm 1994 (vắng mặt); Địa chỉ: Số B, Quốc lộ C, phường
M, thành phố C, tỉnh Đng Tháp (Hp đng ủy quyền ngày 20/9/2023).
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Cao H2: Anh Nguyễn T
H3, sinh năm 1990 (có mặt); Địa chỉ: Số B, Quốc lộ C, phường M, thành phố C,
tỉnh Đng Tháp (Hp đng ủy quyền ngày 11/01/2024).
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thành K là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Mười H ủy quyền cho ông Mai Dũng M
trình bày: Vào khoảng tháng 03/2022, bà Mười H có quen biết ông Nguyễn
Thành K. Ông K có vay của bà Mười H số tiền 650.000.000 đng, với mục đích
là để sửa chữa nhà ở Phường D, thành phố C, tỉnh Đng Tháp, thời hạn trả 02
tháng, kể từ tháng 03 năm 2022, không lãi sut. Bà Mười H đng cho ông K vay
số tiền trên và đã giao tiền cho ông K tại nhà nghỉ K1 địa chỉ: Số A, đường C, Tổ
G, Khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đng Tháp. Do chỗ quen biết nên bà
Mười H không làm giy tờ, đến thời hạn trả n, bà Mười H có điện thoại yêu cầu
ông K thanh toán lại tiền vay, nhưng ông K cố tình lẫn tránh, đến nay vẫn không
trả tiền cho bà Mười H và bà Mười H có ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Mười H
và ông K và đã lập vi bằng tại Văn phòng T1.
Nay bà Trần Thị Mười H yêu cầu ông Nguyễn Thành K phải trả số tiền
650.000.000 đng và không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Nguyên đơn bà Mười H cung cp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh là Vi
bằng số 175/2023/VB-TPL, ngày 28/3/2023 của Văn phòng T1 và đoạn ghi âm
cuộc nói chuyện do bà Trần Thị Mười H cung cp, đưc lưu trong h sơ vụ án.
- Bị đơn Nguyễn Thành K ủy quyền cho anh Nguyễn Tý H3 trình bày:
Ông Nguyễn Thành K là bạn bè với bà Trần Thị Mười H, ông K không có mưn
tiền, không có nhận tiền của bà Mười H. Bà Mười H đưa bản ghi âm cho rằng là
giọng nói của ông K thì ông K không thừa nhận, ông K không hứa hẹn 07 ngày
hay 10 ngày trả tiền vì ông K không mưn tiền, không nhận tiền, không thiếu tiền
của bà Mười H.
Nay ông Nguyễn Thành K không đng trả số tiền 650.000.000 đng theo
yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Mười H. Ngoài ra không yêu cầu gì.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mười H.
3
Buộc ông Nguyễn Thành K phải trả cho bà Trần Thị Mười H số tiền là
650.000.000 đng (Sáu trăm năm mươi triệu đng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người đưc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi sut quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Thành K đưc miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho bà Trần Thị Mười H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.000.000
đng (Mười lăm triệu đng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0006829, ngày 23/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh,
tỉnh Đng Tháp.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/3/2024 ông Nguyễn Thành K không thống
nht bản án sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết sửa
toàn bộ bản án sơ thẩm, không chp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Trần Thị Mười H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Anh Nguyễn T H3 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Thành K trình bày: Yêu cầu Tòa án phúc thẩm chp nhận kháng cáo của
ông K, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Trần Thị Mười H. Bởi các căn cứ như sau:
+ Ông K không có mưn tiền, không có nhận tiền của bà Mười H như bà
Mười H trình bày. Ông K từ trước đến nay sinh sống tại Tổ B, Ấp B, xã M, thành
phố C, tỉnh Đng Tháp, không sinh sống cũng như có nhà ở Phường D, thành phố
C, tỉnh Đng Tháp.
+ Đối với Vi bằng số: 175/2023/VB-TPL ngày 28/3/2023 và Vi bằng số:
175/2023/VB-TPL ngày 28/3/2023 của Văn phòng T1 kèm theo các đoạn ghi âm
do nguyên đơn nộp cho Tòa án thì giọng nói trong đoạn ghi âm không phải là
giọng nói của ông K, ngoài ra các đoạn ghi âm cũng không thể hiện rõ và cụ thể
ai n ai? Ai trả tiền cho ai?. Hoàn toàn không có nội dung ông K n bà Trần Thị
Mười H số tiền 650.000.000 đng.
+ Do ông K không có n tiền bà Mười H, còn bà Mười H cho rằng ông K
n tiền bà số tiền 650.000.000 đng, nên nghĩa vụ chứng minh thuộc về phía
nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy ông
K không phải có nghĩa vụ chứng minh, nên đã rút yêu cầu giám định.
4
+ Các Vi bằng nêu trên đưc lập theo lời trình bày của bà Mười H mà không
có cơ quan có thẩm quyền nào giám định, cho nên không đảm bảo tính khách
quan.
+ Tòa án sơ thẩm chưa xem xét, làm rõ nội dung của các đoạn ghi âm, chưa
đánh giá toàn diện đối với chứng cứ trong vụ án và đánh giá đầy đủ tình tiết của
vụ án.
- Người bảo vệ quyền và li ích hp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị
Mười H là Luật sư Ngô Trọng H1 trình bày: Việc khởi kiện của nguyên đơm là
có căn cứ, do nguyên đơn đã cung cp cho Tòa án 02 Vi bằng số: 175/2023/VB-
TPL, ngày 28/3/2023 và Vi bằng số: 395/2024/VB-TPL, ngày 12/8/2024 của Văn
phòng T1 và nội dung các đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà Mười H và bị
đơn ông Nguyễn Thành K, thể hiện việc ông K thừa nhận có n bà Mười H số
tiền 650.000.000 đng. Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc
xác định chứng cứ thì Vi bằng là ngun chứng cứ. Việc đại diện của bị đơn cho
rằng không thừa nhận giọng nói của ông K, do đưc lập theo chí chủ quan của
nguyên đơn là không có cơ sở, bởi đại diện của bị đơn không cung cp đưc tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình là có căn cứ. Tại Tòa án sơ
thẩm bị đơn không yêu cầu giám định giọng nói của mình, tại phiên tòa phúc thẩm
ông K yêu cầu giám định nhưng không cung cp giọng nói làm mẫu giám định và
sau đó có đơn xin rút yêu cầu giám định, cho thy bị đơn đã từ bỏ quyền của mình.
Từ cơ sở trên đề nghị Hội đng xét xử không chp nhận kháng cáo của bị đơn và
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Mai Dũng M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà
Trần Thị Mười H trình bày: Thống nht trình bày và đề nghị của Luật sư H1 bảo
vệ quyền và li ích hp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị Mười H như nêu trên.
Ông M không bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành K thực hiện
đúng quy định và hp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo
pháp luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi thụ l
vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chp hành và thực hiện đúng, đầy đủ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự; không chp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thành K;
tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3
năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh (Kèm theo Phát biểu của
Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số: 357/PB-VKS-DS ngày 04/9/2024).
5
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, đưc thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh thụ l và giải quyết
sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự về quan hệ tranh chp và thẩm quyền của Tòa án. Việc ông Nguyễn Thành K
nộp đơn kháng cáo đề ngày 16/3/2024 vào ngày 26/3/2024 là trong thời hạn kháng
cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đưc xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Theo Hp đng ủy quyền ngày 20/9/2023 bị đơn ông Nguyễn Thành K
(Bên A) ủy quyền cho anh Nguyễn Cao H2 (Bên B), tại mục 6, Điều 1 có quy
định “Bên A đng để Bên B ủy quyền lại cho Bên thứ ba để tiếp tục thực hiện
công việc ủy quyền, nếu Bên B không thể tiếp tục thực hiện đưc. Việc Bên B ủy
quyền cho Bên thứ ba không cần phải có sự đng của Bên A”. Sau đó, anh
Nguyễn Cao H2 đã ủy quyền lại cho anh Nguyễn T H3 theo Hp đng ủy quyền
ngày 11/01/2024, phía bị đơn không phản đối hay yêu cầu gì, nên xem xét là hp
lệ.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Trần Thị Mười H cho rằng vào khoảng
tháng 03/2022, bà Mười H có cho ông K vay số tiền 650.000.000 đng, với mục
đích là để sửa chữa nhà ở Phường D, thành phố C, tỉnh Đng Tháp, thời hạn trả
02 tháng, không lãi sut. Do chỗ quen biết nên bà Mười H không làm giy tờ, đến
thời hạn trả n, bà Mười H có điện thoại yêu cầu ông K thanh toán lại tiền vay,
nhưng ông K cố tình lẫn tránh, không trả tiền n và bà Mười H có ghi âm cuộc
nói chuyện giữa bà Mười H và ông K và đã lập vi bằng tại Văn phòng T1. Bà
Mười H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành K phải trả số tiền 650.000.000 đng
và không yêu cầu tính lãi. Bị đơn ông K cho rằng không có mưn tiền, không có
nhận tiền của bà Mười H, bản ghi âm do bà Mười H cung cp cho Tòa án cho rằng
là giọng nói của ông K thì ông K không thừa nhận, ông K không hứa hẹn 07 ngày
hay 10 ngày trả tiền vì ông K không mưn tiền, không nhận tiền, không thiếu tiền
của bà Mười H, nên không thống nht theo yêu cầu khởi kiện của bà Mười H.
Điều này đã làm phát sinh tranh chp Hp đng vay tài sản giữa các đương sự.
[3] Hội đng xét xử xét thy việc Tòa án cp sơ thẩm chp nhận yêu cầu
của bà Trần Thị Mười H buộc ông Nguyễn Thành K phải trả cho bà Trần Thị
Mười H số tiền là 650.000.000 đng là có cơ sở. Bởi các lẽ như sau:
- Nguyên đơn cung cp chứng cứ chứng minh là Vi bằng số: 175/2023/VB-
TPL, ngày 28/3/2023 của Văn phòng T1 và dữ liệu ghi âm cuộc nói chuyện do bà
Trần Thị Mười H cung cp có giọng nói theo bà Mười H giọng nữ là bà Mười H
6
và giọng nam là của bị đơn ông Nguyễn Thành K. Bị đơn ông Nguyễn Thành K
cho rằng bà Mười H đưa ra chứng cứ là đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà
Mười H và ông K thì ông K không thừa nhận, cho rằng giọng nam trong đoạn ghi
âm cuộc nói chuyện không phải là giọng nói của ông K, vì ông K không hứa hẹn
07 ngày hay 10 ngày trả tiền, l do ông K không vay tiền, không nhận tiền của bà
Mười H. Tòa án sơ thẩm đã thông báo cho các đương sự về việc nộp đơn yêu cầu
giám định đối với giọng nói trong đoạn ghi âm, mặc dù bị đơn không thừa nhận
giọng nói của ông K trong đoạn ghi âm nhưng không yêu cầu giám định và cũng
không đng cung cp giọng nói mẫu của ông K để giám định trong trường hp
có yêu cầu, l do phía bị đơn cho rằng việc chứng minh là của nguyên đơn, bị đơn
không có nghĩa vụ chứng minh. Tại Tòa án phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Thành
K và người đại diện theo ủy quyền của ông K là anh Nguyễn T H3 có nộp đơn
yêu cầu về việc giám định giọng nói ngày 20/6/2024 và ngày 06/8/2024. Sau đó
Tòa án đã thông báo và triệu tập ông K đến Tòa án để thu thập giọng nói làm cơ
sở giám định, nhưng ông K đã vắng mặt vào ngày 16/8/2024 và ngày 30/8/2024,
đng thời đến ngày 30/8/2024 thì anh T H3 đại diện cho ông K đã nộp đơn xin rút
yêu cầu giám định. Cho thy ông K đã từ bỏ quyền của mình về việc cung cp tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình là có cơ sở theo quy định tại
khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Theo Vi bằng số: 175/2023/VB-TPL, ngày 28/3/2023 của Văn phòng T1
và nội dung đoạn ghi âm cuộc nói chuyện do bà Trần Thị Mười H cung cp có
giọng nói theo bà Mười H giọng nữ là bà Mười H và giọng nam là của bị đơn ông
Nguyễn Thành K, thể hiện nội dung “……Nam 1: Bây giờ nè lo trong vòng một
tuần lễ, mười ngày trở lại đây trả cuốn sổ của thầy, bảy tây tui sẽ trả sáu trăm
năm chục triệu đó cho..”. Đng thời, theo Vi bằng số: 395/2024/VB-TPL, ngày
12/8/2024 của Văn phòng T1 và nội dung đoạn ghi âm cuộc nói chuyện do bà
Trần Thị Mười H cung cp có giọng nói theo bà Mười H giọng nữ là bà Mười H
và giọng nam là của bị đơn ông Nguyễn Thành K, thể hiện nội dung “…Nữ: Trả
tiền bao nhiêu; Nam: Thì sáu trăm rưỡi tui trả sáu trăm rưỡi còn hai trăm triệu
đó là mấy người tính sao với tui…”. Tại Điều 36 của Nghị định số 08/2020/NĐ-
CP, ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại,
quy định: “...3. Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ
việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện
giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.” và
theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, quy định: “2. Đương sự phản đối yêu cầu
của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung
cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó…;
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được
chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự
theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”. Việc ông K không
7
cung cp chứng cứ phản bác yêu cầu của bà Mười M1, thì Tòa án căn cứ tài liệu,
chứng cứ do nguyên đơn cung cp để xem xét giải quyết vụ án là có cơ sở. Do đó,
xác định hp đng vay giữa hai bên đương sự là có thật và ông K có vay tiền của
bà Mười H, đến nay chưa trả số tiền 650.000.000 đng cho bà Mười H. Vì vậy,
Tòa án sơ thẩm căn cứ Điều 36 của Nghị định số: 08/2020/NĐ-CP ngày
08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; Điều 91 Bộ
luật Tố tụng dân sự và Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015
chp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mười H yêu cầu ông Nguyễn Thành
K trả số tiền 650.000.000 đng là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa anh Nguyễn T H3 đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Nguyễn Thành K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông K. Hội đng xét xử
xét thy, trình bày của anh T H3 là không có đủ căn cứ, đng thời ông K cũng
không cung cp đưc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không đưc Hội đng xét xử chp
nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đng xét xử không chp nhận toàn bộ yêu cầu kháng
cáo của ông Nguyễn Thành K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đng xét xử xét thy là có cơ sở và phù hp pháp luật, nên đưc
chp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Nguyễn Thành K không đưc chp
nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do ông K thuộc trường
hp là người cao tuổi và có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí, nên đưc xét
miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành K;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3
năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
8
Ông Nguyễn Thành K đưc miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hp bản án, quyết định đưc thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người đưc thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự đưc thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐ-KT TAND Tỉnh;
- TAND thành phố Cao Lãnh;
- Chi cục THADS TP. Cao Lãnh;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Quang).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Ngô Tn Li
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm