Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 50/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 14 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 50/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 50/2025/DS-ST.
Ngày: 19/6/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt
cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Khanh.
2. Bà Phùng Thị Khánh Vân.
- Thư phiên tòa: Bà Danh Thị Ngọc Lệ Thư Tòa án nhân dân huyện
Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử
thẩm công khai vụ án thụ lý số 374/2024/TLST - DS ngày 31 tháng 10 năm 2024
về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quyết định đưa v án ra xét xử số
54/2025/QĐXXST DS ngày 19 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa
số 50/2025/QĐST- DS ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn C, sinh năm: 1975 (Có mặt).
Địa chỉ: I, đường D, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Võ Trường Duy H, sinh năm: 1977 (Có mặt).
Ngô Thị L, sinh năm: 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Ô, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: H H, đường số E, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Q:
2
Ông Đỗ Văn C, sinh năm: 1975 (Có mặt).
Địa chỉ: I, đường D, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 16/6/2025)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Đỗ Văn C trình bày:
Vào ngày 17/01/2022, ông C hợp đồng đặt cọc để thỏa thuận nhận chuyển
nhượng của vợ chồng ông H L thửa đất diện tích 1.392m², thuộc thửa đất
số 243, tờ bản đồ số 15, P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu. Giá chuyển
nhượng lúc thỏa thuận là 3.450.000.000₫ (Ba tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Tại thời điểm đặt cọc, đất đặt cọc đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho
Ngô Thị L.
Tổng cộng ông C đã đặt cọc cho vợ chồng ông H, L tổng số tiền
1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) thành 2 lần:
Lần 1: Đặt cọc 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng) vào ngày 17/01/2022.
Lần 2: Đặt cọc thêm 1.000.000.000₫ (Một tỷ đồng) vào ngày 23/02/2022.
Tất cả đều giao tiền mặt cho vợ chồng ông H, bà L. Theo như giao kết trong
hợp đồng thì thời hạn công chứng khi nào tách thửa được thì bên bán báo trước
07 ngày để công chứng. Khi chuyển nhượng thì ông C thỏa thuận bên bán vợ
chồng ông H, L phải đi làm thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, thời gian kéo dài t
ngày 17/01/2022 đến nay ông H, L cũng không hoàn tất được thủ tục tách thửa.
Nguyên nhân do đất không đủ điều kiện tách thửa. Lúc mua phía ông H, L
không cung cấp rõ thông tin cho ông C biết thửa đất này không tách thửa được.
Một tháng sau khi ông C chồng tiền đợt 02 cho ông H, L thì ông C thúc giục
ông H, bà L tách thửa, lúc đó ông H, bà L mới nói chưa tách được. Ông C có liên
hệ với UBND xã P để hỏi, UBNDP có trả lời miệng cho ông C là đất khu vực
này ngưng tách thửa trước khi ông C đặt cọc cho ông H, bà L, lý do luật mới quy
định đất không có đường đi thì không tách được.
Việc đặt cọc kéo dài bên bán không hoàn tất được thủ tục tách thửa để
chuyển nhượng đất cho ông C làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
ông C.
Số tiền đặt cọc là tiền chung của vợ chồng ông C, vợ ông C tên Nguyễn Thị
Q, sinh năm: 1975. Địa chỉ: H H, đường số E, phường A, thành phố T, thành phố
Hồ Chí Minh. Việc đặt cọc đất với ông H, bà L là sau thời điểm kết hôn.
Nay ông C yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc đề ngày 17/01/2022 giao
kết giữa ông C và ông Võ Trường Duy H và bà Ngô Thị L. Buộc ông Võ Trường
Duy H và Ngô Thị L phải trả cho vợ chồng ông C số tiền đặt cọc đã nhận
1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng
10 năm 2024 ông C yêu cầu ông H, bà L phải trả tiền lãi đối với số tiền đặt cọc
đã nhận là 1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) theo quy định của pháp
3
luật, nay ông C xin rút đối với yêu cầu này, việc ông C xin rút một phần yêu cầu
khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện.
Đối với việc ông H, L ý kiến đề nghị ông C trả hết số tiền chuyển
nhượng còn lại ông C được quyền sử dụng toàn bdiện tích đất 2.335,7m
2
thửa
435, tờ bản đồ 50 (thửa 243, tbản đồ 15) P, huyện X thì ông C không
đồng ý, do thửa đất này hiện tại không đường thể hiện trên bản đồ, khi mua thì
có đường đi tự mở, nhưng trên bản đồ tkhông tiếp giáp đường đi. Khi mua ông
C cũng không tìm hiểu về vấn đế này. Việc ông H, bà L thế chấp thửa 435, tờ bản
đồ số 50 P cho Quỹ tín dụng nhân dân liên X thì vợ chồng L, ông H
không báo cho ông C biết.
Bị đơn ông Võ Trường Duy HNgô Thị L, trình bày:
Vào ngày 17/01/2022, vchồng ông H, L hợp đồng đặt cọc để thỏa
thuận chuyển nhượng thửa đất cho ông Đỗ Văn C diện tích đất 1.392m², thuộc
thửa đất số 243, tờ bản đồ số 15, P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu. Giá
chuyển nhượng lúc thỏa thuận 3.450.000.000₫ (Ba tỷ bốn trăm năm mươi triệu
đồng). Tại thời điểm đặt cọc, đất đặt cọc đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất
nhưng giấy chứng nhận này còn nhiều thửa đất khác nữa, nên hai bên thỏa thuận
“Khi nào bên A tách sổ xong thì báo cho bên B trước 07 ngày để ra công chứng”.
Tổng cộng ông C đã đặt cọc cho vợ chồng ông H, L tổng số tiền
1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng) thành 2 lần:
Lần 1: Đặt cọc 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng) vào ngày 17/01/2022.
Lần 2: Đặt cọc thêm 1.000.000.000₫ (Một tỷ đồng) vào ngày 23/02/2022.
Tất cả ông C đều giao tiền mặt cho vợ chồng ông H, L. Theo ngiao kết
trong hợp đồng thì thời hạn công chứng khi nào tách thửa được thì bên bán báo
trước 07 ngày để công chứng. Khi chuyển nhượng thì ông H, L thỏa thuận bên
bán vợ chồng ông H, bà L phải đi làm thủ tục tách thửa. Tuy nhiên, thời gian
kéo dài tngày 17/01/2022 đến nay ông H, L ng không hoàn tất được thủ
tục tách thửa. Nguyên nhân do đất không đủ điều kiện tách thửa và tính đến thời
điểm hiện tại thửa đất trên vẫn chưa tách được, lý do luật mới quy định đất không
đường đi thì không tách được. Đất đặt cọc hiện vợ chồng ông H, L đang
quản sử dụng. Tại thời điểm đặt cọc thì thửa đất đặt cọc này thế chấp cho
Quỹ tín dụng việc này ông H, bà L có báo cho ông C biết, sau đó thì ông H, bà L
lấy sổ ra và tách thửa 435, tờ bản đồ số 50 (thửa cũa là 243, tờ bản đồ số 15) đến
ngày 23/4/2024 thì vợ chồng ông H, L thế chấp Quỹ Tín dụng nhân dân liên
xã X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu để vay số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng)
thời hạn trả nợ là khoảng 23/4/2025 là đến hạn trả nợ, tuy nhiên sau thời hạn trên
ông H, bà L tiếp tục đáo hạn để vay tiền, hiện tại thửa 435, tờ bản đồ số 50 đang
thế chấp Quỹ tín dụng. Khi ông H, L thế chấp diện tích đất này thì ông H,
L không báo cho ông C biết. Các chữ trong hợp đồng đặt cọc là chữ ký của vợ
chồng ông H, bà L.
4
Ông C yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc đề ngày 17/01/2022 giao kết
giữa ông C và vợ chồng ông H, L. Buộc vợ chồng ông H, L phải trả cho ông
C số tiền đặt cọc đã nhận 1.500.000.000₫ (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Tvợ
chồng ông H, bà L không đồng ý vì:
Khi ông C mua đất của vợ chồng ông H, L, ông C cũng biết Nhà nước
đang ngừng tách thửa, ông C chấp nhận chờ đợi khi nào Nnước cho tách sổ thì
tiến hành sang tên nhưng nay ông C yêu cầu lấy lại tiền cọc thì vợ chồng ông H,
L không đồng ý. Ông H, L m ăn thất bại mới bán đất cho ông C, stiền
ông C giao ông H, L cũng trang trải trả nợ hết. Nay theo yêu cầu của ông C ông
H, bà L ý kiến như sau: Ông H, L sẽ giao luôn giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của thửa 243, tờ bản đồ số 15, P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay là thửa 435, tờ bản đồ số 50) có diện tích 2.335,7m
2
cho ông C, sau khi ông
C trả đủ số tiền còn lại theo hợp đồng đặt cọc mà hai bên đã ký kết. Mặc dù, ông
C chỉ mua diện tích đất 1.392m², thuộc thửa đất số 243, tờ bản đồ số 15, P
nhưng do không tách được thửa nên ông H, bà L cho luôn ông C phần diện tích
đất còn lại với điều kiện ông C chồng tiếp số tiền 1.950.000.000đ cho vợ chồng
ông H, bà L.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Q, do người đại
diện theo ủy quyền trình bày:
Lời trình bày trên của ông C ng lời trình bày của bà Q, ông C không bổ
sung gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Đây vụ án yêu cầu trả lại tiền cọc theo hợp đồng đặt
cọc giữa nguyên đơn ông Đỗ Văn C với bị đơn ông Trường Duy H, Ngô
Thị L, do vậy xác định đây là tranh chấp dân sự, về quan hệ tranh chấp là “Tranh
chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Trường Duy H,
Ngô Thị L nơi trú tại huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu. Căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án
nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc,
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Về việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo Công văn số 106/CV
VKS ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu, về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, vì lý do qua nghiên
cứu hồ cho thấy Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ cũng không
thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự,
nên Viện kiểm sát nhân dân huyện X không tham gia phiên tòa xét xử vụ án nói
5
trên. Căn cứ quy định tại Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa phù hợp với quy
định của pháp luật.
Đối với việc nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi
kiện ngày 09 tháng 10 năm 2024 ông Đỗ Văn C yêu cầu ông Trường Duy H
Ngô Thị L phải trả tiền lãi đối với số tiền đặt cọc 1.500.000.000đ, trong quá
trình tòa án giải quyết vụ án tại phiên tòa ông C xin rút đối với yêu cầu này,
việc ông C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện nên Hội
đồng xét xử đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hiệu lực của giao dịch:
Ngày 17/01/2022 ông Đỗ Văn C thỏa thuận với ông Trường Duy H,
Ngô Thị L, theo đó ông H, L schuyển nhượng cho ông C diện tích đất 1.392m
2
thuộc thửa 234, tờ bản đồ số 15, ấp Ông T, P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng
Tàu, trong tổng số diện tích đất 2.392m
2
thuộc thửa 243, tờ bản đồ số 15 P,
huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã được Sở tài nguyên môi trường tỉnh B cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho Ngô Thị L, với giá 3.450.000.000đ
(Ba tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 17/01/2022 ông C đã đặt cọc cho
ông H, L số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Số tiền còn lại
2.950.000.00(Hai tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Hai bên thỏa thuận tại
hợp đồng đặt cọc ngày 17/01/2022:
“Bên A (Ông H, L): Bán cho bên B (Ông C) 1.392m
2
tại thửa 243 tờ
15.
Bên B: Khi nào bên A tách sổ xong thì báo cho bên B trước 7 ngày để ra
công chứng, đến ngày 22/2/2022 bên B sẽ bồi thêm cọc 1.000.000.000đ (Một
tỷ đồng)”
Ngày 23/2/2022, phía ông C đã đặt cọc thêm stiền 1.000.000.000đ. Tổng
số tiền ông C đã đặt cọc cho ông H, bà L là 1.500.000.000đ, vấn đề này được ông
H, bà L thừa nhận.
Theo nguyên đơn bị đơn: do không ký được hợp đồng chuyển nhượng
là do đất không có đường đi thì không tách thửa được.
Theo hồ nguyên đơn cung cấp thể hiện diện tích đất 2.392m
2
thuộc thửa
243, tờ bản đồ số 15 P, được Ngô Thị L làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ thửa 243, tờ bản đồ số 15 thành thửa 435, tờ bản đồ số 50,
đến ngày 05/10/2023 bà Ngô Thị L được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp
đổi thành giấy chứng nhận quyền sdụng đất số DM 810051, đối với diện tích
đất 2.335,7m
2
thuộc thửa 435, tờ bản đố số 50 xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu (Ghi chú: Được cấp đổi từ GCN số CR 991876 cấp ngày 08/7/2019 theo bản
đồ địa chính năm 2021). Như vậy, sau khi cấp đổi diện tích đất bị lệch 56,3m
2
(2.392m
2
2.335,7m
2
) so với diện tích đất ban đầu tại thời điểm hai bên kết
6
hợp đồng đặt cọc, dẫn đến diện tích đất 2.335,7m
2
(Đất trồng cây hàng năm khác)
thuộc thửa 435, tờ bản đố số 50 P, sau khi cấp đổi nếu thực hiện việc tách thửa
diện tích 1.392m
2
theo thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng đặt cọc ngày
17/01/2022 thì thửa 435, tbản đồ 50 P sẽ còn lại diện tích 943,7m
2
, tkhông
đảm bảo diện tích tối thiểu sau khi tách thửa theo quy định tại Quyết định s
24/2024/QĐ – UBND ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh B tại
khoản 2 Điều 4 quy định:
“2. Đối với đất nông nghiệp
a) Đất trồng lúa thuộc khu vực quy hoạch đất nông nghiệp: diện tích tối thiểu
của các thửa đất sau khi tách thửa tại địa bàn các phường, thị trấn thuộc các
huyện, thị xã, thành phố huyện C 500m²; tại địa bàn các còn lại
1.000m².
b) Thuộc khu vực quy hoạch đất nông nghiệp (trừ đất trồng lúa đã được quy
định tại điểm a khoản 2 Điều này), quy hoạch đất ở, đất thương mại dịch vụ hoặc
đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: các thửa đất sau khi tách thửa phải bảo đảm
diện tích tối thiểu như quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ít nhất
một cạnh tiếp giáp với đường giao thông do Nhà nước quản lý hoặc lối đi được
kết nối với đường giao thông do Nnước quản lý, kích thước của cạnh tiếp giáp
không nhỏ hơn 5m.”
Do đó, thửa 435 (thửa cũ 243) tờ bản đồ 50 (tờ bản đồ cũ 15) xã P, huyện X
là không đủ điều kiện tách thửa, hơn nữa cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận
tại thời điểm hợp đồng đặt cọc các bên đều biết đất không đường đi Nhà
nước không cho tách thửa nhưng vẫn hợp đồng đặt cọc nên thỏa thuận giữa
ông C với ông H, L đã vi phạm điều cấm của luật nên vô hiệu, không làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2] Về xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu:
Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch
dân sự vô hiệu, việc ông C yêu cầu ông H, bà L hoàn trả 1.500.000.000đ (Một tỷ
năm trăm triệu đồng) tiền đặt cọc cho vợ chồng ông C là có cơ sở chấp nhận. Vợ
chồng ông C chưa nhận đất nên không phải giao trả đất cho ông H, bà L.
Cả hai bên biết đất không thể tách thửa chuyển nhượng được nhưng vẫn ký
kết hợp đồng đặt cọc là lỗi cả hai bên nên không bên nào bồi thường thiệt hại cho
bên nào trả lại cho nhau những đã nhận, phù hợp với quy định tại Điều
122, Điều 123, Điều 131 Bộ luật dân sự. Do đó, hợp đồng đặt cọc viết tay ngày
17/01/2022 được kết giữa ông C ông H, L vô hiệu và ông H, L phải
trả cho vợ chồng ông C số tiền cọc đã nhận 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm
triệu đồng).
[3] Về án phí dân sự thẩm: Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Ông Đỗ Văn C không phải chịu án phí dân sự thẩm và được hoàn trả lại
số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông C đã nộp theo biên
7
lai thu tạm ứng án phí số 0005063 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện Xuyên Mộc.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án ptrên
số tiền phải trả cho nguyên đơn: 1.500.000.000đ = 36.000.000đ + 3%
(700.000.000đ) = 57.000.000đ (Năm mươi bảy triệu đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sđược quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 273 của
Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 120, Điều 122, Điều 123,
Điều 131, Điều 328, Điều 398, Điều 401, Điều 408 Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn C đối với ông
Trường Duy H, bà Ngô Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
1. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất, viết tay ngày 17/01/2022 được kết giữa ông Đỗ Văn C
với ông Võ Trường Duy H, Ngô Thị L là vô hiệu.
2. Ông Trường Duy H, Ngô Thị L nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đỗ
Văn C, bà Nguyễn Thị Q, số tiền đặt cọc 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu
đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Đình chỉ yêu cầu của ông Đỗ Văn C về việc yêu cầu ông Võ Trường Duy
H Ngô Thị L phải trả tiền lãi đối với stiền đặt cọc 1.500.000.000đ (Một tỷ
năm trăm triệu đồng) theo quy định của pháp luật.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đỗ Văn C được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005063 ngày 09/10/2024 của
8
Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.
Ông Võ Trường Duy H, Ngô Thị L phải nộp án pdân sự sơ thẩmgiá
ngạch số tiền 57.000.000đ (Năm mươi bảy triệu đồng).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b
Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt được quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu;
- VKSND huyện Xuyên Mộc;
- Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Thảo
Tải về
Bản án số 50/2025/DS-ST Bản án số 50/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2025/DS-ST Bản án số 50/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất