Bản án số 499/2020/DS-PT ngày 11/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 499/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 499/2020/DS-PT ngày 11/06/2020 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 499/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_____________________________
Bản án số: 499/2020/DS-PT
Ngày: 11/6/2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoàng Hoa
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Sang
Ông Bùi Liên Minh
Thư phiên tòa: Lê Thị Thu Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng là Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ số 217/2020/TLPT-DS,
ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 18 tháng 11 năm 2019 của
Tòa án nhân dân huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh b kháng cáo của bà Nguyn
Th S.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2359/2020/QĐPT-DS, ngày 25
tháng 5 năm 2020 giữa các đương s:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước L. Sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ 9, ấp RL, xã AD, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S. Sinh năm 1969.
Địa chỉ: 230 ấp BT, BK, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị S:
Ông Vũ Đức D. Sinh năm 1990.
Địa chỉ: Phòng 2410 l 6 VR, số 2 Đường TT, phường BN, Quận M, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Theo giấy ủy quyền số công chứng 000030, ngày 03/01/2020 lập
tại Văn phòng Công chứng NT, Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1 Bà Nguyễn Thị K.A. Sinh năm 1959.
Địa chỉ: 353 ấp B.A, xã BK, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.2 Bà Nguyễn Thị L. Sinh năm 963
Địa chỉ: 101/23/4 khu AC, Làng Đại học N, xã PK, huyện NB, Thành phố
Hồ Chí Minh. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ vụ án tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Phước L
trình bày:
Vào ngày 29 tháng 11 năm 2016 ông Nguyễn Phước L cho Nguyễn
Thị S vay mượn số tiền 850.000.000 đồng, lãi suất 0,3% ngày, S hứa
trong vòng 03 ngày sẽ trả lại cho ông số tiền. Trước đây, ông L với S mối
quan hệ bạn thân tình với nhau, do tin tưởng nên ông không làm giấy tờ cam
kết vay mượn. Hết thời gian 03 ngày, ông L yêu cầu S trả lại số tiền thì S
hẹn cho bà vài tháng nữa khi lấy lại được tiền của người khác sẽ trđủ
cho ông số tiền đã vay mượn, ông đã đồng ý. Khoảng hơn 01 tháng sau thì Công
an huyện CG mời ông đến để làm việc. Tại buổi làm việc, Công an huyện xác
minh ông cho S mượn stiền 850.000.000 đồng không? Ông L đã
khai và thừa nhận là bà S có mượn ông số tiền là 850.000.000 đồng và hiện bà S
còn nợ chưa trả lại cho ông. Ngoài ra ông L còn trình bày thêm tại Công an
huyện thì ông mới biết là S đã làm đơn tố cáo đối với Nguyễn Thị K.A tại
Công an huyện về hành vi bà Nguyễn Thị K.A lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà
S với số tiền là 2.550.000.000 đồng, ông L cũng trình bày mối quan hệ giữa bà S
với bà K.A không có liên quan gì đến việc vay mượn giữa ông với bà S.
Sau nhiều lần ông có liên hệ bà S trả lại cho ông số tiền 850.000.000 đồng
thì S không chịu trả tiền cứ hẹn hết lần này đến lần khác. Do đó, ông đã
khởi kiện yêu cầu bà S trả lại cho ông số tiền gốc và lãi suất chậm trả cụ thể là:
- Số tiền nợ gốc là 850.000.000 đồng.
- Số tiền lãi suất tính từ thời điểm vay mượn đến khi ông L khởi kiện
850.000.000 đồng x 18 tháng x 1,05%/tháng = 160.650.000 đồng.
Tổng cộng số tiền ông L yêu cầu S trả lại cho ông 1.010.650.000 đ
(Một tỷ, không trăm mười triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Theo hồ sơ vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:
Căn cứ vào bản tự khai ngày 30 tháng 7 năm 2019 S thừa nhận
quen biết với ông Nguyễn Phước L, ông L bạn của chồng nên thường
xuyên tới lui nhà bà. Sau khi chồng bà mất ông L thường đến nhà quan m,
giúp đỡ chia sẽ vào thời điểm chồng vừa mới mất. Đến lúc Nguyễn Thị
K.A vay mượn số tiền 2.550.000.000 đồng, nhưng K.A không trả
bỏ trốn, với tâm trạng buồn vì chồng vừa mất mà lại bị bà K.A vay mượn không
trả tiền, lúc này ông L đến chia sẽ và khuyên bà làm đơn tố cáo gửi đến Công an
huyện CG để nhờ giúp đỡ có bàn chia nhỏ số tiền mà bà S cho K.A vay
mượn nguồn tiền của ông L Nguyễn Thị L chị ruột của S, việc
3
thừa nhận như vậy là muốn Công an biết bà S khó khăn để Công an huyện thông
cảm, giúp đỡ, hỗ trợ sớm tìm K.A đtrả lại số tiền cho S. Tuy nhiên, qua
kết quả giải quyết của Công an huyện CG trả lời đây là quan hệ dân sự không có
dấu hiệu phạm tội nên bà S chưa được bà K.A trả lại số tiền đã vay mượn.
Việc S làm đơn tố cáo K.A thì ông L cũng biết, nên ông L đã làm
đơn khởi kiện đến Tòa án để đòi số tiền 850.000.000 đồng. vậy, S không
thừa nhận đã có vay mượn tiền của ông L, nên bà không đồng ý với yêu cầu của
ông L buộc tr lại số tiền đã vay mượn lãi suất, tổng cộng số tiền
1.010.650.000 đ (Một tỷ, không trăm mười triệu, sáu trăm năm mươi nghìn
đồng).
Theo hồ vụ án tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn Nguyễn Thị S ông Nguyễn Hồng Kh, người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị S là ông Lê Công T trình bày:
Về mi quan hệ vay mượn tiền giữa ông L với bà S là không có, như bà S
đã khẳng định việc không vay mượn tiền của ông L, trên thực tế S
cũng không có mối quan hệ làm ăn tiền bạc gì với ông L.
Việc ông L khởi kiện bà S là chỉ dựa vào chứng cứ mà trước đây bà S làm
đơn tố cáo Nguyễn Thị K.A tại Công an huyện CG, theo nội dung tố cáo đó
trên thực tế sự thật không có, tại thời điểm m đơn tố cáo ông L có bàn bạc với
S, khuyên nên ghi nhận số tiền 2.550.000.000 đồng S cho K.A
mượn là nguồn tiền do bà S có huy động vốn từ ông L số tiền 850.000.000 đồng,
Lệ số tiền 1.700.000 đồng, nhằm mục đích đ Công an huyện CG
thương tình sớm giải quyết đơn tố cáo của S, nhưng qua kết quả giải quyết
của Công an huyện CG trả lời đây quan hệ dân sự không dấu hiệu tội
phạm, đến thời điểm hiện nay S vẫn chưa được K.A trả lại số tiền đã vay
mượn. Mặc khác, mối quan hệ giữa S với ông L quen biết với nhau từ
lúc chồng bà S còn sống, khi chồng S mất cùng lúc thời điểm S bị bà K.A
không trả số tiền, ông L đã khuyên nên chia nhỏ số tiền để mong muốn Công
an huyện sớm giải quyết vụ việc bà tố cáo. Ngoài ra, nếu ông L có thật sự cho bà
S mượn tiền thì ông L phải làm giấy vay mượn đối với bà S, ông L không
quan hệ họ hàng gì nên cần có giấy tờ làm tin do số tiền vay mượn là quá lớn.
Từ những trình bày trên, người đại diện ủy quyền người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị S không đồng ý với yêu cầu của
ông L buộc S trlại số tiền đã vay mượn lãi suất, tổng cộng số tiền là
1.010.650.000 đ (Một tỷ, không trăm mười triệu, sáu trăm năm mươi nghìn
đồng).
Theo hồ vụ án tại phiên tòa người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị L trình bày:
chị ruột của S, nên Lbiết được mi quan hệ giữa ông L với
S bạn, hai người biết nhau từ lúc chồng S còn sống ông L bạn của
chồng S. Thời điểm đó ông L thường xuyên tới lui đến nhà S, khi chồng
S mất Lệ khuyên S hạn chế việc tới lui của ông L hiện tại ông L
đã có vợ. Khi bà S làm đơn tố cáo việc cho bà K.A vay mượn tiền không trả, lúc
4
đó giữa bà Lệ, ông L và bà S đã có bàn bạc tìm cách để lấy lại số tiền từ bà K.A.
Đồng thời, Lệ cũng đồng ý theo nội dung trình bày của người đại diện ủy
quyền người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị S,
ngoài ra Lệ cũng xác định thật sự không cho bà S mượn số tiền
1.700.000.000 đồng, việc bà khai nhận tại Công an huyện CG cho S
mượn số tiền 1.700.000.000 đồng với mục đích mong muốn Công an huyện
sớm giải quyết giúp cho em bà nhận lại số tiền. Lệ không yêu cầu độc lập
trong vụ án và thừa nhận quan hệ tranh chấp trong vụ án này không có liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị K.A
như sau:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết
vụ án, nhưng Tòa án nhận được đơn xin vắng mặt, không tham gia vụ án
ngày 12/11/2018 của bà Nguyễn Thị K.A. Tại đơn bà K.A trình bày bà xin được
vắng mặt, không tham gia trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án này
không liên quan đến quan hệ vay mượn tiền giữa ông L S. Chính
vậy, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà K.A đều
vắng mặt và cũng không có ý kiến, không có yêu cầu gì đến vụ án này.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án
Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét
xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa thẩm
và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ v
án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung vụ án: Về quan hệ vay mượn tiền giữa ông L với S mặc
dù không có làm giấy vay mượn tiền, tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu giải quyết
đơn tố cáo của S đối với bà K.A tại Công an huyện CG, tất cả các văn bản
đều đáp ứng các điều kiện về chứng cứ theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015 để giải quyết đối với vụ án trên.
Tuy ông L không cung cấp được hợp đồng vay tài sản dưới hình thức cam
kết bằng giấy tờ, nhưng căn cứ vào các chứng cứ thu thập được, xác định giữa
ông L và bà S có mối quan hệ vay mượn tiền và hai bên đều xác nhận khoản tiền
vay này, cụ thể 850.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi suất, căn cứ vào Điều
466 của Bộ luật Dân sự m 2015, ông L quyền yêu cầu Tòa án buộc S
phải trả tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả. Do đó, áp dụng vào các Điều
463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn
Phước L về việc buộc Nguyễn Thị S phải trả cho ông L số tiền
850.000.000 đồng, bà S có nghĩa vụ trả lãi suất chậm trả theo quy định của pháp
luật.
5
Ngày 02 tháng 12 năm 2019 S kháng cáo bản ánthẩm, yêu cầu Tòa
án phúc thẩm xem xét lại bản án thẩm không vay tiền của ông
Nguyễn Phước L, chỉ tin lời ông L bàn bạc, nên đã làm đơn tố cáo K.A
vay tiền không trả, tách số tiền cho K.A mượn ra thành khoản tiền ông
L đưa bà cho bà K.A mượn 850.000.000 đồng, bà không đồng ý trả lãi cũng như
tiền vay cho ông L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Vũ Đức D đề nghị:
Tòa án phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phước L, lời khai về ngày cho vay của ông
L không khớp nhau khi khai tại Tòa khác với tại cơ quan Công an; Các biên bản
khai của S tại Công an không phải là chứng cứ để đánh giá cho việc vay
mượn 850.000.000 đồng thật; Hai bên lại không hợp đồng vay tài sản;
Mức lãi suất của việc vay là không được bị đơn thừa nhận.
Nguyên đơn ông Nguyễn Phước L đề nghị:
Tòa phúc thẩm y án thẩm, ông tự nguyện không đòi S tiền lãi hợp
đồng vay nữa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu
quan điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật của Tòa án và Thẩm phán trong giai đoạn phúc
thẩm là đầy đủ, và chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng
cáo của bị đơn với chứng cứ bị đơn đã thừa nhận tại quan Công an huyện
CG. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đồng ý không yêu cầu bà
S trả tiền lãi của số tiền vay nói trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của
đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1].
Về thủ tục tố tụng:
Xét đơn kháng cáo của bị đơn còn trong thời hạn luật định. Hình thức
nội dung đủ điều kiện theo quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp
nhận xem xét.
[2]. Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và thẩm quyền giải quyết
vụ án; Về tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:
6
Cấp thẩm đã c định quan htranh chấp trong vụ án này “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 26,
điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
là phù hợp quy định pháp luật được Hội đồng xét xử cấp pc thẩm chấp nhận.
[3]. Về nội dung vụ án:
Xét cấp sơ thẩm đã dựa trên cơ sở các lời khai tại phiên tòa của ông L yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc S trả số tiền 1.010.650.000 đ (Một tỷ, không trăm
mười triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), bao gồm tiền gốc vay mượn
850.000.000 đồng và lãi suất chậm trả.
Về chứng cứ chứng minh, cấp thẩm đã căn cứ mối quan hệ quen biết
với nhau từ lâu của nguyên đơn bị đơn, khi vay mượn tiền, hai bên không
làm giấy tờ thể hiện việc vay mượn đó, nhưng ông L có khai nhận chứng cứ của
việc vay mượn tiền là có trong hồ sơ tố cáo của bà S đối với bà K.A tại Công an
huyện CG và các chứng cứ này đã được cấp sơ thẩm thu thập.
Dựa trên các biên bản lấy lời khai cũng như lời tự khai thu thập tại
quan Công an, S đã trình bày với quan này khi tố cáo vụ án vay tiền của
K.A với để chứng minh cho lời trình bày của mình trước quan điều
tra, bà đã khai rằng bà đã vay tiền ông L để cho bà K.A mượn, số tiền
850.000.000 đồng.
Trên thực tế, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy đây chứng cứ gián
tiếp mà Tòa án đã thu thập từ cơ quan điều tra, một nguồn chứng cứ mà theo Bộ
luật tố tụng dân sự loại chứng cứ do thu thập được từ quan khác theo quy
định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 94, Khoản 5 Điều 95, phù hợp điểm d
Khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trên sở đó, nhận thấy (tại bút lục số 125) trong hồ vụ án, biên bản
lấy lời khai S tại quan Điều tra Công an huyện CG, đã thừa nhận
huy động tiền từ người thân là ông L Lệ để cho K.A vay lại nhằm
hưởng chênh lệch ngày 30/11/2016, S đã giao cho K.A số tiền
850.000.000 đồng. Đây tiền mà bà huy động từ ông L để đưa cho K.A vay
mượn với lãi suất 0.4%/ngày. Thời hạn vay 03 đến 04 ngày. Tờ tự khai này
chính chứng cứ trực tiếp, dưới hình thức tự khai, tự thừa nhận về việc vay nợ
ông L của S (tại bút lục số 129). S tự viết tường trình đã khai “Số tiền
850.000.000 đồng, tôi huy động của Anh Nguyễn Phước L”. Qua đó, Hội đồng
xét xử khẳng định không có hợp đồng vay tài sản giữa ông L vớiS nhưng
sự thừa nhận của bà S trên những văn bản tự khai, cũng như biên bản do Cán bộ
điều tra lập chữ ký, chữ viết xác nhận của S, bằng chứng chứng minh
cho trình bày của nguyên đơn về việc cho bà S vay mượn nợ là có thật.
Đối với trình bày người đại diện ủy quyền của bà S ông D tại phiên tòa
phúc thẩm, đã cho rằng các chứng cứ tại Công an huyện là do giữa S với
ông L đã sự bàn bạc trước khi gửi đơn tố cáo đến Công an huyện, việc khai
7
nhận số tiền S cho K.A vay mượn 2.550.000.000 đồng nguồn tiền huy
động vốn từ ông L 850.000.000 đồng, Lệ 1.700.000 đồng nhằm mục
đích Công an huyện thương tình giúp đỡ sớm giải quyết cho S lấy tiền lại từ
K.A. Những khai trình này nhằm để phủ nhận việc vay mượn tiền ông L của
S, nhưng không sở gì để chứng minh cho việc trình bày như vậy. Ít ra
S phải ghi âm lại, hoặc giấy tờ tài liệu xác nhận chứng minh cho Tòa án
thấy rằng việc này là có sự bàn bạc, và chỉ là nhờ ông L đứng tên dùm khoản nợ
đó, thì mới thể thuyết phục Hội đồng xét xử tin rằng đã sự nhờ ông L
đứng tên dùm khoản tiền đã cho vay, khi S đã thừa nhận số tiền cho
Anh mượn là do bà huy động của ông L tại cơ quan công an, tức là cơ quan điều
tra.
Đối với Nguyễn Thị L không quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án
này, chỉ là người m chứng trong vụ án. Tuy nhiên, do quan hchị em ruột
giữa bà với S, lời khai của bà không đáng tin cậy và không có gì chứng minh
cho việc ba bên có sự bàn bạc, khai nhận tại Cơ quan Công an huyện CG, ngoài
ra không người nào khác biết sự việc này, nên không bằng chứng để
chứng minh cho lời trình bày của ông D Lệ. Hội đồng t xử phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của bà S.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy chính những lời khai tại quan
Công an đã chứng cứ khẳng định số tiền bà S vay ông L 850.000.000 đồng
và đây là việc vay mượn có tiền lãi.
Tại phiên tòa, ông L tự nguyện rút lại yêu cầu đòi tiền lãi số tiền cho vay,
nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyên này của nguyên đơn, chấp nhận
không tính tiền lãi đối với số tiền vay đối với bị đơn S trong giai đoạn từ khi
vay cho đến khi xét xử xong vụ án.
Nếu bà S không thi hành án, Ông L có quyền yêu cầu phạt chậm thực hiện
nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 khi
yêu cầu thi hành án.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của ông Nguyễn Phước L được Tòa án chấp nhận, nên bà
Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự thẩm hoàn trả lại tiền tạm ứng án
phí cho ông Nguyễn Phước L;
Do cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên bị
đơn phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Khoản 2 Điều
26 và Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điều 293, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
8
- Căn cứ cáo các Điều 357, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26, Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị S.
1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
- Buộc bà Nguyễn Thị S phải trả số tiền đã vay cho ông Nguyễn Phước L,
với số tiền gốc là 850.000.000 đ (Tám trăm, năm chục triệu đồng).
Ghi nhận sự t nguyện của ông Nguyễn Phước L không yêu cầu
Nguyễn Thị S phải trả cho ông Nguyễn Phước L số tiền 160.000.000 đ (Một
trăm sáu chục triệu đồng).
Hai bên thi hành các khoản tiền nói trên tại quan Thi hành án Dân sự
có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, nếu
bên phải thi hành không thi hành số tiền phải trả, thì bị đơn phải trả lãi đối với
số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả
tiền này được xác định theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp
với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì áp dụng
theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Nguyễn Thị S phải nộp án phí dân sự thẩm 37.500.000 đ (Ba
mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Phước L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại
cho ông Nguyễn Pớc L số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp
18.750.000 đ (Mười tám triệu, bảy trăm m mươi nghìn đồng) số tiền
4.016.250 đ (Bốn triệu, không trăm mười sáu nghìn, hai trăm m mươi đồng)
theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2011/06007, ngày
12/7/2018; biên lai số AG/2011/06150, ngày 12/10/2018 của Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị S phải nộp là 300.000 đ (Ba trăm
nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (Ba trăm nghìn
9
đồng) S đã nộp theo biên lai thu số 06681 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện CG.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 79 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nn dân Ti cao (1);
- Tòa án nn dân cp cao tại Tp.HCM (1);
- Viện kiểm sát NDTp.HCM (2);
- C
ục THA Dân sự Tp.HCM (1);
- Tòa án nhân dân huyện CG (2);
- Chi cục THA Dân sự huyện CG (1);
- Các đương sự (4);
- Lưu (25b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hoàng Hoa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH HCHÍ MINH
_____________________________
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 6 năm 2020.
Tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hoa
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Sang
Ông Bùi Liên Minh
10
Tiến hành nghị án vụ án Dân sphúc thẩm đã thụ số 217/2020/TLPT-
DS, ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án thẩm số 11/2019/DS-ST, ngày 18 tháng 11 năm 2019 của
Tòa án nhân dân huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh b kháng cáo của bà Nguyn
Th S.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2359/2020/QĐPT-DS, ngày 25
tháng 5 năm 2020 giữa các đương s:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước L. Sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ 9, ấp RL, xã AD, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S. Sinh năm 1969.
Địa chỉ: 230 ấp BT, BK, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị S:
Ông Vũ Đức D. Sinh năm 1990.
Địa chỉ: Phòng 2410 Lux 6 Vinhome Goden Riser, số 2 Tôn Đức Thắng,
phường Bến Nghé, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo giấy ủy quyền số
công chứng 000030, ngày 03/01/2020 lập tại Văn phòng Công chứng Nguyễn
Tấn Thành, Thành phHồ Chí Minh). (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Nguyễn Thị K.A. Sinh năm 1959.
Địa chỉ: 353 ấp B.A, xã BK, huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
3.2 Bà Nguyễn Thị L. Sinh năm 963
Địa chỉ: 101/23/4 khu AC, Làng Đại học NB, PK, huyện NB, Thành
phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Căn c vào các tài liu, chng c đã đưc xem xét ti phiên tòa, kết qu tranh
tng ti phiên tòa, các quy đnh ca pháp lut.
HI ĐNG XÉT X THO LUN, BIU QUYT,
QUYT ĐNH CÁC VN Đ CA V ÁN NHƯ SAU:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điều 293, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
- Căn cứ cáo các Điều 357, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26, Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án;
11
- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng mt số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân s;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị S.
1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
- Buộc bà Nguyễn Thị S phải trả số tiền đã vay cho ông Nguyễn Phước L,
với số tiền gốc là 850.000.000 đ (Tám trăm, năm chục triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Phước L không yêu cầu bà
Nguyễn Thị S phải trả cho ông Nguyễn Phước L số tiền 160.000.000 đ (Một
trăm sáu chục triệu đồng).
Hai bên thi hành các khoản tiền nói trên tại quan Thi hành án Dân sự
có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, nếu
bên phải thi hành không thi hành số tiền phải trả, thì bị đơn phải trả lãi đối với
số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả
tiền này được xác định theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp
với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mc lãi suất thì áp dụng
theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Nguyễn Thị S phải nộp án phí dân sự thẩm là 37.500.000 đ (Ba
mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Phước L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại
cho ông Nguyễn Pớc L số tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp
18.750.000 đ (Mười tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) số tiền
4.016.250 đ (Bốn triệu, không trăm mười sáu nghìn, hai trăm năm mươi đồng)
theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2011/06007, ngày
12/7/2018; biên lai số AG/2011/06150, ngày 12/10/2018 của Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện CG, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị S phải nộp là 300.000 đ (Ba trăm
nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (Ba trăm nghìn
đồng) S đã nộp theo biên lai thu số 06681 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện CG.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
12
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 6 năm 2020.
Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3 = 100%.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét
xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hoàng Hoa
Tải về
Bản án số 499/2020/DS-PT Bản án số 499/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất