Bản án số 48/2022/HNGĐ-ST ngày 28/06/2022 của TAND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 48/2022/HNGĐ-ST ngày 28/06/2022 của TAND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp ly hôn, nuôi con
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm (TAND tỉnh Ninh Thuận)
Số hiệu: 48/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 – 06 – 2022
V/v: Tranh chấpLy hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trịnh Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bình.
2. Ông Trần Hoàng Liên.
- Thư phiên tòa: Châu Nguyễn Đoan Trang - Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm
tham gia phiên tòa: Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-
Tháp Chàm xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
464/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 về việc: Tranh chấp ly
hôn, nuôi contheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXX-ST ngày
20 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa s37/2022/QĐXX-ST ngày
08 tháng 06 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1988.
- Bị đơn: Ông Phan Văn D1, sinh năm: 1982.
Cùng địa chỉ: Khu phố 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh N.
(Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đơn xin xét xử vắng mặt; Bđơn ông
Phan Văn D1 vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn Nguyễn Thị D trình bày:
2
ông Phan Văn D1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, hai
bên gia đình có tổ chức cưới hỏi. Vchồng đăng kết hôn tại Ủy ban nhân
dân phường Đ, thành phố P, tỉnh N vào ngày 13/05/2014, số 129, quyển số 1.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khu phố 8, phường Đ, thành phố P. Vợ chồng
chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn do làm
ăn thất bại. Ông Phan Văn D1 không lo làm ăn trả nợ thường xuyên nhậu
nhẹt, cờ bạc. phải gửi con cho mẹ ruột để đi làm ăn xa để tiền lo cho con
trả nợ ngân hàng. con còn nhỏ nên đã phải cố gắng chịu đựng. Vợ
chồng đã sống ly thân 07 năm nay. đã suy nghĩ kỹ thấy rằng không còn
tình cảm với chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phan
Văn D1.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung tên Phan Bảo C, sinh ngày
15/05/2013. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì u cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng con chung tên Phan Bảo C. Đối với cấp dưỡng nuôi con chung, tại đơn
khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn D1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng
2.000.000đ nhưng nay suy nghĩ lại thấy ông Phan Văn D1 không trách
nhiệm với con nên không yêu cầu ông Phan Văn D1 cấp dưỡng nuôi con
chung nữa. Hiện nay, đang làm nghề buôn bán trái cây, thu nhập trung bình
hàng tháng khoảng 10.000.000 đồng nên có đủ khả năng để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Ông Phan Văn D1 trong suốt quá trình Toà án thụ giải quyết
vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay ông Phan Văn D1 vẫn cố nh không đến
Toà án.
* Đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh
Thuận phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc
thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho
Viện kiểm sát những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật
ttụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa thẩm,
nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa
hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt;
Bị đơn ông Phan Văn D1 mặc đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng nhưng vẫn vắng mặt không do, vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản
2 Điều 227 khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét x
vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về phần nội dung: Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D là có
căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
3
Về con chung: Giao cho Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng 01 con
chung tên Phan Bảo C, sinh ngày 15/05/2013, ông Phan Văn D1 không phải cấp
dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị D không yêu cầu.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử xác
định quan hệ pháp luật trong vụ án này tranh chấp Ly hôn, nuôi contheo
quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại
khu phố 8, phường Đ, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận theo quy định tại
khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn
Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phan Văn
D1 mặc đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng
mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1
điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án phù hợp với
quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Thị D ông Phan Văn D1 kết
hôn trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ,
thành phố P, tnh N theo giấy chứng nhận kết hôn số 59; quyển số 01, ngày
13/05/2014. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị D trình bày: Vợ chồng
chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn do làm
ăn thất bại. Ông Phan Văn D1 không lo làm ăn trả nợ thường xuyên nhậu
nhẹt, cờ bạc. phải gửi con cho mẹ ruột để đi làm ăn xa để tiền lo cho con
và trả nợ ngân hàng. Vợ chồng đã sống ly thân 07 năm nay
Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân đề ngày 04/01/2022 của
Nguyễn ThD nộp cho Tòa án, Ban quản khu phố 8, phường Đ, thành phố P
xác nhận: Qua đơn trình bày của chị D (Vợ anh D1), hộ khẩu khu phố 8 đã ly
thân 7 năm là đúng sự thật ”. Điều đó thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng giữa
ông Phan Văn D1 Nguyễn Thị D thật. Ngoài ra, trong quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Phan Văn
D1 vắng mặt tại tất cả các phiên hòa giải xét xử, thái độ bỏ mặc không
thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng.
4
Từ những căn cứ trên, Hội đồng t xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng
giữa ông Phan Văn D1 Nguyễn Thị D đã thật sự gay gắt làm cho hôn nhân
lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của
hôn nhân không đạt được. Nguyễn Thị D yêu cầu xin được ly hôn với ông
Phan Văn D1 sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Ông Phan Văn D1 Nguyễn Thị D 01 con
chung tên Phan Bảo C, sinh ngày 15/05/2013. Bà Nguyễn Thị D yêu cầu
được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu ông Phan Văn D1 cấp
dưỡng nuôi con chung. Hơn nữa, trẻ Phan Bảo C đã trên 07 tuổi nguyện
vọng xin được với mẹ; Bà Nguyễn Thị D làm nghbuôn bán thu nhập bình
quân mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng nên đủ khả năng để nuôi con.
vậy, Hội đồng xét xử giao 01 con chung n Phan Bảo C cho Nguyễn Thị D
trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị D yêu cầu
ông Phan Văn D1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ nhưng vào
ngày 06/06/2022 tại đơn xin xét xử vắng mặt Nguyễn Thị D không yêu cầu
ông Phan Văn D1 cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn
không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp
nhận. Nếu sau này đương sự u cầu về cấp dưỡng nuôi con chung thì
quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyễn Thị D ông Phan Văn D1
không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập tới.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Ngh
quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí, lệ phí
Toà án; Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ptại phiên tòa
thẩm hôm nay là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a, khoản 1 điều
39, khoản 4 Điều 147; khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266 Bộ Luật
tố tụng dân sự; Điều 56, điều 58, Điều 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Phan Văn D1.
5
2/.Về quan hệ con chung:
Giao cho Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Phan
Bảo C, sinh ngày 15/05/2013.
Ông Phan Văn D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do Nguyễn
Thị D không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
3/. Về án phí: Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) Nguyễn Thị D đã nộp theo biên lai thu tiền
số: 0003692, ngày 24/11/2021 của Chi cục Thi nh án dân sự thành phố Phan
Rang-Tháp Chàm, tỉnh N (bà Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm);
4/.Về quyền kháng cáo: Án xử thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn
Nguyễn Thị D bị đơn ông Phan Văn D1. Quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp l.
Nơi nhận:
- a án tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND TP. Phan Rang- Tháp Chàm;
- CC THADS TP.Phan Rang-Tháp Chàm;
- Các đương sự;
- UBND phường Đ;
- Lưu HS +Án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Thị Hồng
Tải về
Bản án số 48/2022/HNGĐ-ST Bản án số 48/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất