Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT ngày 07/12/2021 của TAND tỉnh Thanh Hóa về chia tài sản chung sau khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 48/2021/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT ngày 07/12/2021 của TAND tỉnh Thanh Hóa về chia tài sản chung sau khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thanh Hóa |
| Số hiệu: | 48/2021/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị và anh Lê Huy T đã ly hôn theo Quyết định số 21/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện TT, khi ly hôn anh chị chưa yêu cầu chia tài sản chung. Trong thời gian chị và anh T chung sống có tạo lập được khối tài sản. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 48 /2021/HNGĐ-PT
Ngày: 07/12/2021
V/v chia tài sản
chung sau khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương
Các Thẩm phán : Bà Lê Thị Sáu
Bà Lê Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa Bà Lê Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Nguyễn Thanh
Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2021/TLPT-HNGĐ ngày
08/10/2021 về việc “ Chia tài sản chung sau khi ly hôn”.
Do Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân
huyện TT bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐ-PT ngày 12/10/2021,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị S, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Khắc H - Trợ giúp viên pháp
lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Lê Huy T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Trần Thị Th, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn TC, xã TTr, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Bà Bùi Thị C, sinh năm 1934
2
Địa chỉ: Thôn Minh Lộc, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp cho bà C: Luật sư Trần Văn H1 -
Công ty luật HHD chi nhánh Thanh Hóa, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
4. Người kháng cáo: Bà Bùi Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị
Bùi Thị S trình bày:
Chị và anh Lê Huy T đã ly hôn theo Quyết định số 21/2019/HNGĐ-ST ngày
01/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện TT, khi ly hôn anh chị chưa yêu cầu chia
tài sản chung. Trong thời gian chị và anh T chung sống có tạo lập được khối tài
sản gồm:
- 01 mảnh đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ số 10, đất có tổng diện tích
132m
2
(rộng 5,5m x dài 24m), tại thôn MH, xã TM, huyện TT, Thanh Hóa, được
UBND huyện TT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG034774, số vào
sổ H00727, ngày cấp 02/12/2006 đứng tên Lê Huy T và Bùi Thị S, hiện nay đất có
giá trị khoảng 100.000.000đ. Trên đất có xây 01 căn nhà mái bằng, kết cấu bê tông
cốt thép, diện tích sử dụng 100m
2
, giá trị khoảng 200.000.000đ.
- 01 mảnh đất thuộc thửa số 658, tờ bản đồ số 22, tại Thôn H2, xã TM, huyện
TT, Thanh Hóa, diện tích 276m
2
(rộng 10m x dài 27,6m), được UBND huyện TT
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Lê Huy T số BU 581429, số vào
sổ CH00051, cấp ngày 12/5/2014 đứng tên Lê Huy T, giá trị khoảng 100.000.000đ.
- 01 mảnh đất thuộc thửa số 796, tờ bản đồ 21, tại thôn MH, xã TM, huyện
TT, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 144m
2
(rộng 6m x dài 24m), mảnh đất chị bà và anh
T mua của chị Vũ Thị M và anh Trương Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất CĐ 997282, số vào sổ CH 00243, cấp ngày 14/10/2016, nhưng chưa sang
tên đổi chủ, mới có giấy viết tay với nhau. Giá trị mảnh đất khoảng 240.000.000đ.
Tổng giá trị tài sản trong thời kỳ hôn nhân khoảng 640.000.000đ. Các tài
sản trên chị đề nghị Tòa án giải quyết chia cho chị và anh Lê Huy T theo quy định
của pháp luật.
Về công nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có vay của chị Trần
Thị Th, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn TC, xã TTr, huyện TT số tiền 240.000.000đ,
chị đề nghị chia công nợ chung này theo pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 23/07/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
là anh Lê Huy T trình bày:
- Mảnh đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
(rộng 5,5m
x dài 24m) ở thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa, đã được UBND huyện
TT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG034774 ngày 02/12/2006 đứng
tên Lê Huy T và Bùi Thị S, là đất do bố, mẹ anh mua năm 1998, sau này bố, mẹ
anh sang tên cho anh và chị S, có giá trị 200.000.000đ. Trên đất anh chị xây 01
nhà mái bằng, kết cấu bê tông cốt thép, diện tích sử dụng 100m
2
trị giá khoảng
100.000.000đ.
3
- Mảnh đất thứ hai thuộc thửa số 658, tờ bản đồ số 22, vị trí thửa đất ở Thôn
H2 (nay là M H2), xã TM, huyện TT có diện tích 276m
2
(rộng 10m x dài 27,6m),
đã được UBND huyện TT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Lê
Huy T số BU 581429, số vào sổ CH00051 cấp ngày 12/5/2014 đứng tên Lê Huy
T, đất có giá trị khoảng 180.000.000đ.
- Mảnh đất thứ ba là thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, tại Thôn MH, xã TM,
diện tích 144m
2
(rộng 6m x dài là 24m) mảnh đất này anh và chị S mua của chị Vũ
Thị M và Trương Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ 997282, số
vào sổ cấp giấy là CH 00243 cấp ngày 14/10/2016, nhưng chưa sang tên đổi chủ,
mới có giấy viết tay với nhau. Giá trị mảnh đất khoảng 240.000.000đ.
Tổng tài sản trên là khoảng 720.000.000đ. Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết
cho anh được nhận thửa đất số 30 tờ bản đồ số 10, diện tích là 132m
2
, và thửa đất
số 796, tờ bản đồ số 21, diện tích là 144m
2
; giao cho chị S thửa đất số 658, tờ bản
đồ số 22, diện tích 276m
2
; anh sẽ có trách nhiệm đưa lại số tiền chênh lệch cho chị
S là 190.000.000đ.
- Về công nợ chung: Việc chị S trình bày vợ, chồng có vay của chị Trần Thị
Th số tiền 240.000.000đ và đề nghị Tòa án chia công nợ chung này cho vợ, chồng
anh không đồng ý, số nợ này chị S tự vay, tự trả, anh không có trách nhiệm trả số
tiền trên.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị
S có trách nhiệm phải trả nợ chung cho những người sau:
+ Chị Trương Thị L1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn PL, xã CL, huyện CT,
Thanh Hóa số tiền 140.000.000đ.
+ Chị Lý Thị V1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn MS, xã CN, huyện CT,
Thanh Hóa số tiền 50.000.000đ
+ Chị Bùi Thị Giang; Địa chỉ: Thôn PL, xã CL huyện CT, Thanh Hóa số
tiền 126.000.000đ
+ Anh Lê Cường Vinh, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, Thanh
Hóa số tiền 7.000.000đ
+ Chị Nguyễn Thị Phương Thảo; Địa chỉ: Thôn SC, xã TM, huyện TT,
Thanh Hóa số tiền 20.000.000đ
+ Chị Nguyễn Thị Thương; Địa chỉ: Thôn BB, xã TC, huyện TT, Thanh Hóa
số tiền 40.000.000đ
Ngày 16/07/2021 anh Lê Huy T có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu về việc giải
quyết công nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Bùi Thị C:
Tại Đơn yêu cầu ghi ngày 12/8/2019 và Đơn yêu cầu độc lập ngày 12/9/2019
ký tên Bùi Thị C do anh T giao nộp cho Tòa án có nội dung: Thửa đất số 30 tờ bản
đồ số 10, diện tích 132m
2
(rộng 5,5m x dài 24m) ở thôn MH, xã TM, huyện TT,
4
tỉnh Thanh Hóa là do bà và ông Lê Huy M (chồng bà) mua của ông Nguyễn Văn
D ngày 29/06/1998 với số tiền 3.500.000đ. Năm 1999 anh T là con trai bà lấy chị
S, vợ chồng bà cho anh, chị ở riêng và mượn mảnh đất trên để ở. Nay anh, chị ly
hôn và đưa thửa đất trên của bà vào chia tài sản chung của anh chị trong thời kỳ
hôn nhân bà không đồng ý, bà đề nghị anh T, chị S trả lại đất trên cho bà.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/07/2021, bà C xác định nguồn gốc thửa
đất trên là của vợ chồng bà mua và cho anh T và chị S ở. Bà không đòi lại đất mà
đề nghị Tòa án xem xét nguồn gốc đất để chia cho anh T 2/3 giá trị thửa đất.
Ngày 26/8/2021, bà Bùi Thị C có đơn yêu cầu độc lập có nội dung: Thửa
đất số 30 là của vợ chồng bà cho anh T và chị S mượn (nói bằng miệng) để dựng
nhà ở riêng. Ngày 16/10/2007 ông Lê Huy M (chồng bà) viết một bản di chúc,
trong đó có nội dung cho vợ chồng anh Sửng mượn đất để dựng nhà ở riêng. Nếu
sau này vợ chồng anh T ly hôn thì phải trả lại thửa đất cho vợ chồng bà, khi cả hai
vợ chồng bà đều chết thì sẽ giao quyền quản lý thửa đất cho con trai là Lê Huy
M1 giải quyết. Bà đề nghị Tòa án hủy GCNQSD do UBND huyện TT cấp cho
anh T, chị S ngày 02/12/2006 đối với diện tích 132m
2
đất tại thửa số 30; công
nhận thửa số 30 (nay là thửa 321) diện tích 132m
2
tại thôn MH, xã TM, huyện TT
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà.
- Chị Trần Thị Th: Ngày 01/08/2018 chị S có vay của chị số tiền
240.000.000đ, hai bên có viết giấy vay nợ với nhau. Việc vay nợ là nợ cá nhân chị
S với chị nên chị sẽ tự thỏa thuận với chị S về việc trả nợ số tiền trên, không đề
nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này chị và chị S có tranh chấp, chị
sẽ giải quyết trong vụ án khác.
* Công văn số: 882/UBND-TNMT ngày 08/04/2021, Ủy ban nhân dân
huyện TT trả lời Tòa án: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho mảnh đất thuộc thửa đất
số 30, tờ bản đồ số 10, diện tích đất là 132m
2
vị trí đất thuộc thôn MH, xã TM,
huyện TT do lũ lụt nên hồ sơ đã thất lạc không còn hồ sơ lưu để cung cấp cho Tòa
án.
* Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày
24/06/2021 xác định:
- Mảnh đất thứ nhất: Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10, diện tích đất là 132m
2
vị trí đất thuộc thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả đo đạc hiện
tại theo hiện trạng có chiều rộng là 5,7m, chiều dài là 31m, diện tích 176,7m
2
, tính
theo đơn giá thị trường tại thời điểm định giá, tài sản có giá trị là 5.613.000đ/1m
2
;
giá trị đất: 740.916.000đ, giá trị tài sản trên đất: 103.394.000đ. Tổng giá trị:
844.310.000đ.
- Mảnh đất thứ hai là thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, diện tích 144m
2
tại
Thôn MH, xã TM có chiều rộng là 6m và dài là 24m mảnh đất này vợ chồng mua
của chị Vũ Thị M và Trương Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ
997282, số vào sổ cấp giấy là CH 00243 cấp ngày 14/10/2016. Theo kết quả định
giá có giá trị 4.167.000đ/1m
2
x 144 m
2
= 600.048.000đ.
5
- Mảnh đất thứ ba là thửa 656, tờ bản đồ số 22 diện tích đất là 276m
2
, chiều
rộng 10m và chiều dài 27,6m, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên Lê Huy T số BU 581429 ngày 12/5/2014. Theo kết quả định giá có giá
trị 2.536.000đ/1m
2
x 276 m
2
= 699.936.000đ.
Tổng giá trị tài sản định giá là 2.144.294.000đ.
Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân
huyện TT, căn cứ: Điều 33, 37, 38, 59 Luật hôn nhân gia đình; Điều 357; 466 Bộ
luật dân sự. Điều 28, 35, 147, 157, 158, 165, 166, 201, 244, 227, 228, 271 và Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C về việc đòi lại đất và yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AG034774, số vào sổ cấp giấy H00727
ngày cấp 02/12/2006.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Huy T yêu cầu Tòa
án giải quyết về phần công nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.
3. Xác định chị Bùi Thị S và anh Lê Huy T có khối tài sản chung trị giá là
2.144.294.000đ (Hai tỷ, một trăm bốn bốn triệu, hai trăm chín tư nghìn đồng).
Bao gồm:
- Mảnh đất thứ nhất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10 tổng diện tích
đất là 132m
2
vị trí đất thuộc thôn MH, xã TM, huyện TT, trên đất có nhà mái bằng
và các công trình phụ đứng tên Lê Huy T và Bùi Thị S đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AG034774, số vào sổ cấp giấy là H00727 ngầy cấp là
02/12/2006, theo kết quả đo đạc hiện tại theo hiện trạng có chiều rộng là 5,7m
chiều dài là 31m diện tích hiện trạng là 176,7m
2
, đơn giá thị trường tại thời điểm
định giá có giá trị là 5.613.000đ/1m
2
. Giá trị đất là 740.916.000đ. Giá trị tài sản
trên đất là 103.394.000đ. Tổng giá trị tài sản của mảnh đất này là
844.310.000đ(tám trăm bốn bốn triệu ba trăm mười nghìn đồng).
- Mảnh đất thứ hai là thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, diện tích 144m
2
tại
Thôn MH, xã TM có chiều rộng là 6m và dài là 24m mảnh đất này vợ chồng mua
của chị Vũ Thị M và Trương Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ
997282, số vào sổ cấp giấy là CH 00243 cấp ngày 14/10/2016, nhưng tôi và anh
T chưa sang tên đổi chủ mới có giấy viết tay với nhau. Giá trị mảnh đất theo kết
quả định giá theo giá thị trường tại thời điểm định giá có giá trị là 4.167.000đ/1m
2
x 144 = 600.048.000đ (Sáu trăm triệu không trăm bốn tám nghìn đồng)
- Mảnh đất thứ ba là thửa 656, tờ bản đồ số 22 diện tích đất là 276m
2
, có
chiều rộng là 10m và chiều dài là 27,6m đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên Lê Huy T số BU 581429, số vào sổ cấp giấy chứng nhận là
CH00051 cấp ngày 12/5/2014, mảnh đất này tôi và anh T mua trong thời kỳ hôn
nhân. Giá trị mảnh đất theo kết quả định giá theo giá thị trường tại thời điểm định
giá có giá trị là 2.536.000đ/1m
2
x 276 = 699.936.000đ (Sáu trăm chín chín triệu
chín trăm ba sáu nghìn đồng)
6
4. Chia tài sản chung cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S cụ thể như sau:
4.1. Chia cho anh Lê Huy T được quyền sở hữu tài sản cụ thể:
- Mảnh đất thứ nhất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10 tổng diện tích đất
là 132m
2
vị trí đất thuộc thôn MH, xã TM, huyện TT theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AG034774, số vào sổ cấp giấy là H00727 ngầy cấp là 02/12/2006,
trên đất có nhà mái bằng và các công trình phụ có giá trị là: 844.310.000đ (Tám
trăm bốn bốn triệu, ba trăm mười nghìn đồng).
- 1/2 thửa đất số 656, tờ bản đồ số 22 vị trí ở Thôn H2 (nay là M H2), xã
TM có chiều rộng mặt đường là 5m về phía Nam và chiều dài một cạnh là 27,66
m giáp thửa đất của bà Sứng về phía Tây và cạnh dài 27,3m giáp hộ ông Nhung
về phía Đông, cạnh 5,06m giáp hộ ông Linh về phía Bắc có diện tích là 138m
2
(có
sơ đồ kèm theo) có giá trị là 349.968.000đ (Ba trăm bốn chín triệu
chín trăm sáu tám nghìn).
4.2. Chia cho chị Bùi Thị S được sở hữu tài sản cụ thể:
- Thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, diện tích 144m
2
tại Thôn MH, xã TM theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ 997282, số vào sổ cấp giấy là CH 00243
cấp ngày 14/10/2016 giao cho chị S sở hữu có giá trị là: 600.048.000đ (Sáu trăm
triệu không trăm bốn tám nghìn đồng).
- 1/2 thửa đất số 656, tờ bản đồ số 22 vị trí ở Thôn H2 (nay là M H2), xã
TM có chiều rộng mặt đường là 5m về phía Nam và chiều dài một cạnh là 27,66
m giáp thửa đất của ông Tưởng về phía Đông và cạnh dài 28m giáp hộ ông Long
về phía Đông, cạnh 4,94m giáp hộ ông Linh về phía Bắc có diện tích là 138m
2
(có
sơ đồ kèm theo) có giá trị là 349.968.000đ (ba trăm bốn chín triệu chín trăm sáu
tám nghìn).
4.3 Anh T được chia tài sản có giá trị là 1.194.278.000đ; chị S được chia
tài sản có giá trị là 950.016.000đ, chênh lệch giá trị anh T phải trả lại cho chị S số
tiền 33.388.200đ là tiền đất và 51.697.000đ là tiền nhà. Tổng giá trị anh T được
chia là 1.109.192.800; Tổng giá trị tài sản chị S được chia là 1.035.101.000đ.
Chị S, anh T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước để cấp giấy chứng
nhận quyền sử đụng dất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí,
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/9/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị C kháng
cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại thửa đất
số 30 tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
tại thôn MH, xã TM, huyện TT, diện tích
đất này vợ chồng bà mua năm 1998, trước khi anh T kết hôn, vợ chồng bà chưa
làm thủ tục tặng cho vợ chồng anh T nên bà không đồng ý đưa diện tích đất trên
vào tài sản chung của chị S và anh T; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy
GCNQSDĐ do UBND huyện TT cấp cho anh T, chị S năm 2006.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

7
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C: Tòa án cấp
sơ thẩm không thụ lý đơn yêu cầu độc lập của bà C, không lấy lời khai của những
người làm chứng biết việc ông M, bà C mua đất của ông D, không thu thập hồ sơ
cấp GCNQSDĐ cho anh T, chị S là vi phạm tố tụng; việc ông M, bà C có cho tặng
anh Sứng, chị Tưởng thửa đất không chưa được xác định rõ ràng. Đề nghị HĐXX
chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bà C.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị S: Bản
di chúc bà C xuất trình được ghi là di chúc của 02 ông bà nhưng chỉ mình ông M
định đoạt, và được lập sau khi anh T chị S đã được cấp GCNQSDĐ và xây nhà
sinh sống trên đất nhưng lại giao đất cho một người con khác là không đúng cả
hình thức và nội dung; trong vụ án án này bà C không hề mất quyền và được Tòa
án xem xét các yêu cầu mà bà nêu ra; khi đo đạc hiện trạng, diện tích thửa đất số
30 có tăng so với GCNQSDĐ được cấp, nhưng chị S không yêu cầu gì về diện
tích đất tăng này, đề nghị HĐXX giao cho anh T quản lý, sử dụng.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải
quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Các nội dung kháng cáo của bà Bùi Thị C
không có căn cứ chấp nhận. Nhưng bản án sơ thẩm có một số sai sót, cụ thể: Sai
số thửa đất 258, tờ bản số 22; anh T rút một phần yêu cầu phản tố nhưng lại tuyên
đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện; không xử lý diện tích đất tăng so với
GCNQSDĐ tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2
Điều 308 BLTTDS, sửa bản án sơ thẩm về những sai sót nêu trên; Bà C được
miễn án phí phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, nghe lời trình bày, tranh luận của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
về vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về việc vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm: Tại phiên tòa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị S nộp đơn xin xét xử vắng mặt của chị
Bùi Thị S; chị Trần Thị Th không có kháng cáo, đã được triệu tập nhưng vắng
mặt tại phiên tòa. Vì vậy HĐXX căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 BLTTHS xét xử
vắng mặt các đương sự trên.
[2]. Xét kháng cáo của bà Bùi Thị C:
Bà C không đồng ý đưa diện tích 132m
2
của thửa đất số 30 vào tài sản
chung của chị S và anh T; yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện TT cấp cho
anh T, chị S đối với thửa đất số và công nhận quyền sử dụng của bà đối với thửa
đất này.
Quá trình giải quyết vụ án, bà C trình bày và xuất trình tài liệu về việc năm
1998 bà và ông Lê Huy M nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông Nguyễn
Văn D, chính là thửa đất số 30 mà anh T và chị S đã được UBND huyện TT cấp
GCNQSDĐ vào năm 2006.
8
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 của Tòa án cấp sơ thẩm có sự
chứng kiến của anh Lê Huy T, bà C trình bày: “Khi anh T và chị S lấy nhau ngày
03/3/1999 tôi và chồng tôi cho anh T, chị S ra ở riêng và ở trên mảnh đất vợ chồng
tôi mua của ông D, khi làm GCNQSDĐ tôi không được biết, năm 2008 anh chị
làm nhà không nói với tôi. Tôi không đòi lại nhưng nguồn gốc đất đó của tôi mua
cho vợ chồng anh T, mong Tòa xem xét chia cho anh T 02 phần đất”.
Trong tài liệu gửi kèm đơn kháng cáo, bà C có gửi kèm 01 bản photocoppy
“Di chúc để lại của ông bà” đề ngày 16/10/2007, nội dung: Ông bà cho vợ chồng
Tưởng Sứng làm nhà để ở trên lô đất ông bà mua, nhưng vợ chồng đã nhiều lần
xô xát, nếu sau này vợ chồng tan rã không sống được với nhau thì lô đất phải trả
cho ông bà”, phía dưới ghi người viết di chúc là Lê Huy M, có chữ ký của một
người làm chứng và đại diện Ban thôn của thôn Minh Lộc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà C trình bày từ khi mua đất của ông D, vợ chồng
bà chưa từng kê khai quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
diện tích đất này cách nhà ở của ông bà khoảng 01 km và cùng xã, chỉ khác xóm;
khi ông bà cho anh T và chị S ra ở riêng, anh chị làm 01 nhà lợp proximang để ở
tạm, sau đó làm móng nhà, tháng 10/2007 (AL) ông M chết thì khoảng đầu năm
2008 anh T, chị S làm nhà kiên cố; việc anh chị làm nhà bà và gia đình đều biết,
cũng qua lại nhà anh chị thường xuyên nhưng không ai có ý kiến gì vì lúc đó anh
chị đang sống chung bình thường. Bà C xuất trình bản gốc của bản di chúc và đề
nghị xem xét việc định đoạt quyền sử dụng đất mà ông M đã ghi trong bản di
chúc.
Anh T trình bày: Sau khi anh và chị S kết hôn năm 1999, anh chị được bố
mẹ cho sang mảnh đất bố mẹ anh đã mua trước đó để làm nhà ở, ban đầu anh chị
chỉ làm nhà lợp proximang, đến năm 2001 làm móng nhà lớn, năm 2008 xây nhà
kiên cố. Việc anh chị làm nhà tạm, đổ móng, xây nhà kiên cố…bố mẹ anh đều
biết và không có ý kiến gì. Năm 1999, để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất,
anh có nhờ ông D (người đã bán thửa đất cho bố mẹ anh năm 1998) viết lại giấy
bán đất với nội dung ông D bán đất cho anh, giấy này có xác nhận của thôn và
chứng thực của UBND xã để anh thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất (anh
T xuất trình bản gốc tại phiên tòa nhưng sau đó yêu cầu được nhận lại tài liệu
luôn). Diện tích đất từ khi vợ chồng anh đến ở đã được xây dựng khuôn viên riêng,
ổn định, không tranh chấp với các hộ liền kề, việc có sự chênh lệch giữa diện tích
cấp trong GCNQSDĐ và hiện trạng sử dụng thực tế là do đo đạc, anh đề nghị
HĐXX xem xét kháng cáo của bà C, và giao diện tích đất tăng thêm tại thửa 30
cho người được sử dụng thửa đất này tiếp tục quản lý, sử dụng.
Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất số 30, diện tích 132m
2
có nguồn gốc
của ông M và bà C nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D năm 1998, sau
khi nhận chuyển nhượng đất, ông M và bà C chưa lần nào đăng ký quyền sử dụng
thửa đất tại cơ quan có thẩm quyền. Lời trình bày của các đương sự đều thể hiện
ông M và bà C đã cho anh T, chị S làm nhà ở riêng trên thửa đất số 30 từ sau khi
anh chị kết hôn vào năm 1999, thời điểm anh chị xây nhà tạm, làm móng nhà, ông
M, bà C biết và không có ý kiến gì, năm 2008 anh chị làm nhà kiên cố bà C và
gia đình biết nhưng cũng không có ý kiến, đến ngày 02/12/2006, anh T và chị S
9
được UBND huyện TT cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 30. Vì vậy, Tòa án
cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ số: 03/2016/AL được công bố tại Quyết định 220/QĐ-
CA ngày 06/4/2016 của Chánh án TANDTC, có nội dung: “Trường hợp cha mẹ
đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng
nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây nhà
thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì, vợ
chồng người con đã sử dụng đất công khai, ổn định và đã tiến hành kê khai đất,
được cấp GCNQSDĐ thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho
quyền sử dụng đất” để xác định anh T và chị S đã được ông M, bà C tặng cho
quyền sử dụng thửa đất số 30 là có căn cứ. Theo Đơn xin xác nhận nơi cư trú của
Cót thì hiện tại bà đang sinh sống cùng anh Lê Huy T trên thửa đất số 30, nên Tòa
án cấp sơ thẩm đã xem xét nguồn gốc đất, chia cho anh T 55% giá trị quyền sử
dụng của thửa đất và giao toàn bộ diện tích thửa đất số 30 cùng với tài sản gắn
liền trên đất cho anh T sử dụng, sở hữu là phù hợp với hướng dẫn của Án lệ số:
03/2016/AL, bảo đảm sự công bằng và quyền lợi của các đương sự trong vụ án.
Bà C đưa ra yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã cấp cho anh T, chị S và công nhận
quyền sử dụng thửa đất số 30 cho bà sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định
đưa vụ án ra xét xử là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 201 BLTTDS. Tại
thời điểm nộp đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bà C xuất trình 01 bản
di chúc được cho là của ông Lê Huy M lập ngày 16/10/2007 có một phần nội dung
về việc nếu anh T chị S không chung sống với nhau thì phải trả lại thửa đất ông
bà đã cho ở, và ông bà giao quyền thừa kế lô đất anh T chị S đang ở cho một người
con khác. Xét thấy, như đã phân tích ở trên, mặc dù nguồn gốc thửa đất số 30 là
của ông M, bà C nhận chuyển nhượng, nhưng ông bà đã cho anh T và chị S xây
nhà ở trên thửa đất ngay sau khi anh chị kết hôn, anh T, chị S sử dụng đất công
khai, ổn định từ năm 1999 đến nay không có ai trong gia đình phản đối và đã được
cấp GCNQSDĐ. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ số: 03/2016/AL xác định thửa
đất số 30 là tài sản chung của anh T, chị S là chính xác. Do đó yêu cầu của bà C
về việc hủy GCNQSDĐ đã cấp cho anh T, chị S và công nhận quyền sử dụng thửa
đất số 30 cho bà không có căn cứ chấp nhận. Bản di chúc do bà C xuất trình lập
ngày 16/10/2007 là sau thời điểm anh T, chị S đã được cấp GCNQSDĐ và đã xây
nhà ở ổn định trên thửa đất nhưng người lập di chúc không kiểm tra tình trạng
pháp lý của thửa đất, và định đoạt quyền sử dụng thửa đất này cho người khác là
không phù hợp với quy định của pháp luật, nên HĐXX không có căn cứ chấp
nhận lời nại của bà C về việc xem xét nội dung định đoạt quyền sử dụng đất mà
ông Lê Huy M viết trong bản di chúc.
Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy các nội dung kháng cáo, và lời
nại của bà Bùi Thị C tại phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ nên không được
chấp nhận.
[3]. Tòa án sơ thẩm đã tiến hành xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ và
định giá tài sản đối với tài sản chung của anh T, chị S và xác định thửa đất số 30,
diện tích đất được cấp là 132m
2
, diện tích đo đạc hiện trạng là 176,7m
2
. Tại phiên
tòa phúc thẩm anh T trình bày từ khi sử dụng đất anh chị đã xây khuôn viên riêng,
ổn định, không tranh chấp với ai, không nhận chuyển nhượng thêm lý do đất tăng
10
so với GCNQSDĐ có thể là do việc đo đạc khi cấp giấy; UBND xã TM xác định
thửa đất không có tranh chấp, diện tích tăng thêm 44,7m
2
là do sai số đo đạc qua
các thời kỳ quản lý, nếu người sử dụng yêu cầu cấp lại GCNQSDĐ thì diện tích
đất tăng sẽ được xem xét cấp sau khi hoàn thiện thủ tục tài chính với Nhà nước.
Nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm lại không xử lý đối với diện tích đất tăng, do đó
HĐXX sửa bản án sơ thẩm, tạm giao 44,7m
2
đất tăng so với GCNQSDĐ cho anh
T sử dụng.
Đồng thời, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm có nhầm lẫn: Tài sản
chung của anh T, chị S là thửa đất 658, tờ bản đồ số 22, nhưng lại ghi là thửa 656,
tờ bản đồ số 22. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Huy T đã rút một
phần yêu cầu phản tố về công nợ chung của vợ chồng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
lại tuyên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Huy T là không đúng.
Do đó, cần sửa lại các nội dung trên cho chính xác, đảm bảo việc thi hành bản án.
[3]. Án phí phúc thẩm: Bà C không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án
phí phúc thẩm nhưng bà là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị và không liên quan đến kháng cáo nên HĐXX không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị C.
2. Sửa một phần Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa
án nhân dân huyện TT do có sai sót, nhầm lẫn như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C về việc đòi lại đất và yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG034774, số vào sổ cấp giấy H00727
do UBND huyện TT cấp ngày 02/12/2006 cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S đối
với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
tại thôn MH, xã TM, huyện
TT.
- Đình chỉ một phần nội dung phản tố của anh Lê Huy T về yêu cầu giải
quyết công nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh và chị Bùi Thị S.
- Xác định chị Bùi Thị S và anh Lê Huy T có khối tài sản chung trị giá là
2.144.294.000đ (Hai tỷ, một trăm bốn bốn triệu, hai trăm chín tư nghìn đồng),
gồm:
+ Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
(diện tích đo đạc hiện
trạng là 176,7m
2
)
tại thôn MH, xã TM, huyện TT, trên đất có nhà mái bằng và các
công trình phụ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG034774,
số vào sổ cấp giấy là H00727 ngày 02/12/2006 mang tên Lê Huy T và Bùi Thị S,
giá trị quyền sử dụng đất 740.916.000đ; giá trị tài sản trên đất 103.394.000đ. Tổng
cộng: 844.310.000đ.
11
+ Thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, diện tích 144m
2
tại thôn MH, xã TM, mua
của chị Vũ Thị M và Trương Văn L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CĐ
997282, số vào sổ cấp giấy CH 00243 cấp ngày 14/10/2016, nhưng chưa đăng ký
quyền sử dụng đất. Giá trị quyền sử dụng đất: 600.048.000đ; trên đất không có tài
sản.
+ Thửa đất số 658, tờ bản đồ số 22, diện tích 276m
2
tại Thôn H2 (nay là
thôn M H2), xã TM, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU
581429, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00051 ngày 12/5/2014 mang tên Lê
Huy T. Giá trị quyền sử dụng đất: 699.936.000đ; trên đất không có tài sản.
- Chia tài sản chung cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S như sau:
+ Chia cho anh Lê Huy T:
* Quyền sử dụng thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
vị trí đất
thuộc thôn MH, xã TM, huyện TT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AG034774, số vào sổ cấp giấy là H00727 ngày 02/12/2006 và sở hữu toàn bộ tài
sản gắn liền với đất. Tổng giá trị đất và tài sản là: 844.310.000đ (Tám trăm bốn
bốn triệu, ba trăm mười nghìn đồng).
Tạm giao cho anh T sử dụng diện tích 44,7m
2
đất tăng so với GCNQSDĐ
được cấp. Anh T phải có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xử lý phần
diện tích đất tăng thêm theo quy định của pháp luật về đất đai.
* Quyền sử dụng 1/2 diện tích thửa đất số 658, tờ bản đồ số 22 ở Thôn H2
(nay là M H2), xã TM có diện tích 138m
2
. Kích thước các cạnh: Chiều rộng mặt
đường 5m về phía Nam, chiều dài một cạnh là 27,66 m giáp thửa đất của chị S về
phía Tây, và cạnh dài 27,3m giáp đất hộ ông Nhung về phía Đông, cạnh 5,06m
giáp hộ ông Linh về phía Bắc (có sơ đồ phát hành kèm theo bản án sơ thẩm); giá
trị quyền sử dụng đất là 349.968.000đ (Ba trăm bốn chín triệu chín trăm sáu tám
nghìn).
+ Chia cho chị Bùi Thị S:
* Quyền sử dụng thửa đất số 796, tờ bản đồ 21, diện tích 144m
2
tại thôn
MH, xã TM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 997282, số vào sổ
cấp giấy CH 00243 ngày 14/10/2016; giá trị quyền sử dụng đất là: 600.048.000đ
(Sáu trăm triệu, không trăm bốn tám nghìn đồng).
* Quyền sử dụng 1/2 thửa đất số 658, tờ bản đồ số 22 vị trí ở Thôn H2 (nay
là M H2), xã TM có có diện tích 138m
2
. Kích thước các cạnh: Chiều rộng mặt
đường 5m về phía Nam, chiều dài một cạnh là 27,66 m giáp thửa đất của anh T
về phía Đông và cạnh dài 28m giáp đất hộ ông Long về phía Tây, cạnh 4,94m
giáp đất hộ ông Linh về phía Bắc (có sơ đồ phát hành kèm theo bản án sơ thẩm);
giá trị quyền sử dụng đất: 349.968.000đ (Ba trăm bốn chín triệu, chín trăm sáu
tám nghìn đồng).
- Anh T được giao tài sản có giá trị: 1.194.278.000đ; chị S được giao tài
sản có giá trị: 950.016.000đ. Anh T phải giao lại cho chị S số tiền chênh lệch về
12
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 85.085.000đ (Tám mươi lăm triệu,
không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản anh T được chia là 1.109.192.800; tổng giá trị tài sản
chị S được chia là 1.035.101.000đ.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
và không liên quan đến kháng cáo nên không xem xét.
4. Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Bùi Thị C
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND cấp cao tại HN; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND huyện TT;
- Chi cục THADS huyện TT; Đã ký
- Các đương sự;
- Người BVQ&LIHP cho đương sự;
- Lưu HSVA.
Lê Thu Hương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 20/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 18/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 17/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 15/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 13/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 12/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm