Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT ngày 07/12/2021 của TAND tỉnh Thanh Hóa về chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2021/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT ngày 07/12/2021 của TAND tỉnh Thanh Hóa về chia tài sản chung sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 48/2021/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/12/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Lê Huy T đã ly hôn theo Quyết định số 21/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện TT, khi ly hôn anh chị chưa yêu cầu chia tài sản chung. Trong thời gian chị và anh T chung sống có tạo lập được khối tài sản.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 48 /2021/HNGĐ-PT
Ngày: 07/12/2021
V/v chia tài sản
chung sau khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hương
Các Thẩm phán : Bà Lê Thị Sáu
Bà Lê Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa Bà Thị Phương - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Nguyễn Thanh
Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa m
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 42/2021/TLPT-HNGĐ ngày
08/10/2021 về việc “ Chia tài sản chung sau khi ly hôn”.
Do Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân
huyện TT bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐ-PT ngày 12/10/2021,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị S, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Khắc H - Trợ giúp viên pháp
lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Lê Huy T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Trần Thị Th, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn TC, xã TTr, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Bà Bùi Thị C, sinh năm 1934
2
Địa chỉ: Thôn Minh Lộc, TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa.
Người bảo vệ quyền lợi ich hợp pháp cho C: Luật Trần Văn H1 -
Công ty luật HHD chi nhánh Thanh Hóa, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
4. Người kháng cáo: Bùi Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị
Bùi Thị S trình bày:
Chị anh Huy T đã ly hôn theo Quyết định số 21/2019/HNGĐ-ST ngày
01/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện TT, khi ly hôn anh chị chưa yêu cầu chia
tài sản chung. Trong thời gian chị anh T chung sống tạo lập được khối tài
sản gồm:
- 01 mảnh đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đsố 10, đất tổng diện tích
132m
2
(rộng 5,5m x dài 24m), tại thôn MH, TM, huyện TT, Thanh Hóa, được
UBND huyện TT cấp Giy chng nhn quyn s dụng đất s AG034774, s vào
s H00727, ngày cp 02/12/2006 đứng tên Huy T Bùi Thị S, hiện nay đất
giá trị khoảng 100.000.000đ. Trên đất có xây 01 căn nhà mái bằng, kết cấu bê tông
cốt thép, diện tích sử dụng 100m
2
, giá trị khoảng 200.000.000đ.
- 01 mảnh đất thuộc thửa số 658, tờ bản đồ s22, tại Thôn H2, TM, huyện
TT, Thanh Hóa, diện tích 276m
2
(rộng 10m x dài 27,6m), được UBND huyện TT
cấp Giy chng nhn quyn s dụng đất đứng tên Lê Huy T s BU 581429, s vào
s CH00051, cp ngày 12/5/2014 đứng tên Huy T, giá trị khoảng 100.000.000đ.
- 01 mảnh đất thuc tha s 796, t bản đồ 21, ti thôn MH, xã TM, huyn
TT, tnh Thanh Hóa, din tích 144m
2
(rng 6m x dài 24m), mảnh đất ch anh
T mua ca ch Thị M anh Trương Văn L theo Giy chng nhn quyn s
dụng đất 997282, số vào s CH 00243, cp ngày 14/10/2016, nhưng chưa sang
tên đổi ch, mi có giy viết tay vi nhau. Giá tr mảnh đất khoảng 240.000.000đ.
Tng giá tr tài sn trong thi k hôn nhân khoảng 640.000.000đ. Các tài
sản trên chị đề nghị Tòa án giải quyết chia cho chị và anh Lê Huy T theo quy định
của pháp luật.
Về công nchung: Trong thời kỳ n nhân, vợ chồng có vay của chị Trần
Thị Th, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn TC, TTr, huyện TT stiền 240.000.000đ,
chị đề nghị chia công nợ chung này theo pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 23/07/2019 và trong quá trình giải quyết ván, bị đơn
là anh Lê Huy T trình bày:
- Mảnh đất thuộc thửa đất số 30 tbản đồ s10, diện tích 132m
2
(rộng 5,5m
x dài 24m) ở thôn MH, TM, huyện TT, tỉnh Thanh Hóa, đã được UBND huyện
TT cấp Giy chng nhn quyn s dụng đất s AG034774 ngày 02/12/2006 đứng
n Huy T Bùi Thị S, đất do bố, mẹ anh mua năm 1998, sau này bố, mẹ
anh sang tên cho anh chị S, gtrị 200.000.000đ. Trên đất anh chị xây 01
nhà mái bằng, kết cấu tông cốt thép, diện tích sử dụng 100m
2
trị giá khoảng
100.000.000đ.
3
- Mảnh đất thứ hai thuộc thửa số 658, tờ bản đồ số 22, vị trí thửa đất ở Thôn
H2 (nay là M H2), xã TM, huyện TT diện tích 276m
2
(rộng 10m x dài 27,6m),
đã được UBND huyện TT cấp Giy chng nhn quyn s dụng đất đứng tên
Huy T s BU 581429, s vào s CH00051 cp ngày 12/5/2014 đứng tên Huy
T, đất có giá trị khoảng 180.000.000đ.
- Mảnh đất th ba thửa đất s 796, t bản đ 21, ti Thôn MH, xã TM,
din tích 144m
2
(rng 6m x dài 24m) mảnh đất này anh và ch S mua ca ch Vũ
Th M và Trương Văn L theo Giy chng nhn quyn s dụng đất CĐ 997282, số
vào s cp giy là CH 00243 cấp ngày 14/10/2016, nhưng chưa sang tên đổi ch,
mi có giy viết tay vi nhau. Giá tr mảnh đất khoảng 240.000.000đ.
Tng tài sn trên là khoảng 720.000.000đ. Anh T yêu cu Tòa án gii quyết
cho anh được nhn thửa đất số 30 tờ bản đồ số 10, diện tích là 132m
2
, và thửa đất
số 796, tờ bản đồ số 21, diện tích là 144m
2
; giao cho ch S thửa đất số 658, tờ bản
đồ số 22, diện tích 276m
2
; anh sẽ có trách nhiệm đưa lại số tiền chênh lệch cho ch
S là 190.000.000đ.
- Về công nợ chung: Việc chị S trình bày vợ, chồng vay của chị Trần Thị
Th số tiền 240.000.000đ đề nghị Tòa án chia công nợ chung này cho vợ, chồng
anh không đồng ý, số nợ này chị S tự vay, tự trả, anh không có trách nhiệm trả số
tiền trên.
Qtrình giải quyết vụ án, anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị
S có trách nhiệm phải trả nợ chung cho những người sau:
+ Chị Trương Thị L1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn PL, xã CL, huyện CT,
Thanh Hóa số tiền 140.000.000đ.
+ Chị Thị V1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn MS, CN, huyện CT,
Thanh Hóa số tiền 50.000.000đ
+ Chị Bùi Thị Giang; Địa chỉ: Thôn PL, CL huyện CT, Thanh Hóa số
tiền 126.000.000đ
+ Anh Cường Vinh, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn MH, xã TM, Thanh
Hóa số tiền 7.000.000đ
+ Chị Nguyễn Thị Phương Thảo; Địa chỉ: Thôn SC, TM, huyện TT,
Thanh Hóa số tiền 20.000.000đ
+ Chị Nguyễn Thị Thương; Địa chỉ: Thôn BB, TC, huyện TT, Thanh Hóa
số tiền 40.000.000đ
Ngày 16/07/2021 anh Lê Huy T đơn xin rút toàn bộ yêu cầu về việc giải
quyết công nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Bùi Thị C:
Tại Đơn yêu cầu ghi ngày 12/8/2019 Đơn yêu cầu độc lập ngày 12/9/2019
tên Bùi Thị C do anh T giao nộp cho Tòa án nội dung: Thửa đất số 30 tờ bản
đồ số 10, diện tích 132m
2
(rộng 5,5m x dài 24m) thôn MH, TM, huyện TT,
4
tỉnh Thanh Hóa là do và ông Lê Huy M (chồng bà) mua của ông Nguyễn Văn
D ngày 29/06/1998 với số tiền 3.500.000đ. Năm 1999 anh T con trai bà lấy chị
S, vợ chồng bà cho anh, chị riêng mượn mảnh đất trên để ở. Nay anh, chị ly
hôn đưa thửa đất trên của vào chia tài sản chung của anh chị trong thời kỳ
hôn nhân bà không đồng ý, bà đề nghị anh T, chị S trả lại đất trên cho bà.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/07/2021, C xác định nguồn gốc thửa
đất trên là của vợ chồng bà mua cho anh T và chị S ở. Bà không đòi lại đất
đề nghị Tòa án xem xét nguồn gốc đất để chia cho anh T 2/3 giá trị thửa đất.
Ngày 26/8/2021, Bùi Thị C đơn yêu cầu độc lập nội dung: Thửa
đất số 30 là của vợ chồng bà cho anh T và chị S mượn (nói bằng miệng) để dựng
nhà riêng. Ngày 16/10/2007 ông Huy M (chồng bà) viết một bản di chúc,
trong đó nội dung cho vợ chồng anh Sửng mượn đất để dựng nhà ở riêng. Nếu
sau này vợ chồng anh T ly hôn thì phải trả lại thửa đất cho vợ chồng bà, khi chai
vợ chồng đều chết thì sẽ giao quyền quản thửa đất cho con trai là Huy
M1 giải quyết. đề nghị Tòa án hủy GCNQSD do UBND huyện TT cấp cho
anh T, chị S ngày 02/12/2006 đối với diện tích 132m
2
đất tại thửa số 30; công
nhận thửa s30 (nay là thửa 321) din tích 132m
2
ti thôn MH, TM, huyn TT
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà.
- Chị Trần Thị Th: Ngày 01/08/2018 chị S vay của chị số tiền
240.000.000đ, hai bên viết giấy vay nợ với nhau. Việc vay nợ là nợ cá nhân chị
S với chị nên chị sẽ tự thỏa thuận với chị S về việc trả nợ số tiền trên, không đề
nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này chị và chị S tranh chấp, chị
sẽ giải quyết trong vụ án khác.
* Công văn s: 882/UBND-TNMT ngày 08/04/2021, y ban nhân dân
huyn TT tr li Tòa án: H cấp giy chng nhn cho mảnh đất thuc thửa đất
s 30, t bản đồ s 10, diện tích đất 132m
2
v trí đất thuc thôn MH, TM,
huyn TT do lũ lụt nên h đã tht lc không còn h lưu để cung cp cho Tòa
án.
* Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ Biên bản định giá tài sản ngày
24/06/2021 xác định:
- Mảnh đất th nht: Thửa đất s 30, t bản đồ s 10, diện tích đất là 132m
2
v trí đất thuc thôn MH, TM, huyn TT, tnh Thanh Hóa. Kết qu đo đạc hin
ti theo hin trng chiu rng là 5,7m, chiu dài 31m, din tích 176,7m
2
, nh
theo đơn giá th trường ti thời điểm đnh giá, tài sn giá tr 5.613.000đ/1m
2
;
giá tr đất: 740.916.000đ, giá trị tài sản trên đất: 103.394.000đ. Tng giá tr:
844.310.000đ.
- Mảnh đất th hai thửa đất s 796, t bản đồ 21, din tích 144m
2
ti
Thôn MH, xã TM có chiu rng 6m và dài 24m mảnh đất này v chng mua
ca ch Thị M Trương Văn L theo Giy chng nhn quyn s dụng đất CĐ
997282, s vào s cp giy là CH 00243 cp ngày 14/10/2016. Theo kết qu định
giágiá tr 4.167.000đ/1m
2
x 144 m
2
= 600.048.000đ.
5
- Mảnh đất th ba là tha 656, t bản đ s 22 diện ch đất 276m
2
, chiu
rng 10m và chiu dài 27,6m, đã được cp Giy chng nhn quyn s dng đất
đứng tên Huy T s BU 581429 ngày 12/5/2014. Theo kết qu định giá giá
tr 2.536.000đ/1m
2
x 276 m
2
= 699.936.000đ.
Tng giá tr tài sản định giá là 2.144.294.000đ.
Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân
huyện TT, căn cứ: Điều 33, 37, 38, 59 Luật hôn nhân gia đình; Điều 357; 466 Bộ
luật dân sự. Điều 28, 35, 147, 157, 158, 165, 166, 201, 244, 227, 228, 271 Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C về việc đòi lại đất yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AG034774, s vào s cp giy H00727
ngày cp 02/12/2006.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Huy T yêu cầu Tòa
án giải quyết về phần công nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.
3. Xác định chị Bùi Thị S và anh Lê Huy T có khối tài sản chung trị giá
2.144.294.000đ (Hai t, một trăm bốn bn triu, hai trăm chín tư nghìn đồng).
Bao gm:
- Mảnh đất th nht thuc thửa đất s 30, t bn đồ s 10 tng din tích
đất 132m
2
v trí đất thuc thôn MH, TM, huyn TT, trên đất nhà mái bng
các công trình ph đứng tên Huy T Bùi Th S đã được cp Giy chng
nhn quyn s dụng đất s AG034774, so s cp giy là H00727 ngy cp là
02/12/2006, theo kết qu đo đạc hin ti theo hin trng chiu rng là 5,7m
chiu dài là 31m din tích hin trng là 176,7m
2
, đơn giá th trường ti thời điểm
định giá giá tr 5.613.000đ/1m
2
. Giá tr đất 740.916.000đ. Giá trị i sn
trên đất 103.394.000đ. Tổng giá tr tài sn ca mảnh đất này
844.310.000đ(tám trăm bốn bn triệu ba trăm mười nghìn đồng).
- Mảnh đất th hai thửa đất s 796, t bản đồ 21, din tích 144m
2
ti
Thôn MH, xã TM có chiu rng 6m và dài 24m mảnh đất này v chng mua
ca ch Thị M Trương Văn L theo Giy chng nhn quyn s dụng đất CĐ
997282, s vào s cp giy CH 00243 cấp ngày 14/10/2016, nhưng tôi anh
T chưa sang tên đổi ch mi có giy viết tay vi nhau. Giá tr mảnh đt theo kết
qu định giá theo giá th trường ti thời điểm định giá giá tr là 4.167.000đ/1m
2
x 144 = 600.048.000đ (Sáu trăm triệu không trăm bốn tám nghìn đồng)
- Mảnh đất th ba tha 656, t bản đồ s 22 diện tích đất 276m
2
,
chiu rng là 10m và chiều dài là 27,6m đất đã được cp Giy chng nhn quyn
s dụng đất đứng tên Lê Huy T s BU 581429, s vào s cp giy chng nhn là
CH00051 cp ngày 12/5/2014, mảnh đt này tôi anh T mua trong thi k hôn
nhân. Giá tr mảnh đất theo kết qu đnh giá theo giá th trường ti thời điểm đnh
giá có giá tr 2.536.000đ/1m
2
x 276 = 699.936.000đ (Sáu trăm chín chín triu
chín trăm ba sáu nghìn đồng)
6
4. Chia tài sản chung cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S cụ thể như sau:
4.1. Chia cho anh Lê Huy T được quyền sở hữu tài sản cụ thể:
- Mảnh đất th nht thuc thửa đất s 30, t bn đồ s 10 tng diện tích đất
là 132m
2
v trí đất thuc thôn MH, TM, huyn TT theo Giy chng nhn quyn
s dụng đất s AG034774, s vào s cp giy là H00727 ngy cp là 02/12/2006,
trên đất nhà mái bng các công trình ph giá tr là: 844.310.000đ (Tám
trăm bốn bn triu, ba trăm mười nghìn đồng).
- 1/2 thửa đất s 656, t bản đồ s 22 vị trí Thôn H2 (nay M H2),
TM chiu rng mặt đường là 5m v phía Nam và chiu dài mt cnh là 27,66
m giáp thửa đt ca bà Sng v phía Tây cnh dài 27,3m giáp h ông Nhung
v phía Đông, cạnh 5,06m giáp h ông Linh v phía Bc din tích 138m
2
(có
sơ đồ kèm theo) có giá tr là 349.968.000đ (Ba trăm bốn chín triu
chín trăm sáu tám nghìn).
4.2. Chia cho chị Bùi Thị S được sở hữu tài sản cụ thể:
- Thửa đất s 796, t bản đồ 21, din tích 144m
2
ti Thôn MH, TM theo
Giy chng nhn quyn s dụng đất CĐ 997282, số vào s cp giy là CH 00243
cp ngày 14/10/2016 giao cho ch S s hu có giá tr là: 600.048.000đ (Sáu trăm
triệu không trăm bốn tám nghìn đồng).
- 1/2 thửa đất s 656, t bản đồ s 22 vị trí Thôn H2 (nay M H2),
TM chiu rng mặt đường là 5m v phía Nam và chiu dài mt cnh là 27,66
m giáp thửa đất của ông Tưởng v phía Đông và cạnh dài 28m giáp h ông Long
v phía Đông, cạnh 4,94m giáp h ông Linh v phía Bc din tích 138m
2
(có
đồ kèm theo) giá tr là 349.968.000đ (ba trăm bn chín triệu chín trăm sáu
tám nghìn).
4.3 Anh T đưc chia tài sn giá tr 1.194.278.000đ; ch S đưc chia
tài sn giá tr 950.016.000đ, chênh lệch giá tr anh T phi tr li cho ch S s
tiền 33.388.200đ tiền đất 51.697.000đ là tin nhà. Tng giá tr anh T đưc
chia là 1.109.192.800; Tng giá tr tài sn ch S được chia là 1.035.101.000đ.
Chị S, anh T được quyền liên hvới quan nhà nước đcấp giấy chứng
nhận quyền sử đụng dất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí,
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/9/2021, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị C kháng
cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại thửa đất
số 30 tờ bản đồ số 10, diện tích 132m
2
tại thôn MH, TM, huyện TT, diện tích
đất này vchồng mua năm 1998, trước khi anh T kết hôn, vợ chồng chưa
làm thủ tục tặng cho vợ chồng anh T nênkhông đồng ý đưa diện tích đất trên
vào tài sản chung của chị S anh T; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy
GCNQSDĐ do UBND huyện TT cấp cho anh T, chị S năm 2006.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
7
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của C: Tòa án cấp
sơ thẩm không thụ đơn yêu cầu độc lập của C, không lấy lời khai của những
người làm chứng biết việc ông M, bà C mua đất của ông D, không thu thập hồ sơ
cấp GCNQSDĐ cho anh T, chị S vi phạm tố tụng; việc ông M, C cho tặng
anh Sứng, chị Tưởng thửa đất không chưa được xác định ràng. Đề nghị HĐXX
chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bà C.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị S: Bản
di chúc bà C xuất trình được ghi là di chúc của 02 ông bà nhưng chỉ mình ông M
định đoạt, được lập sau khi anh T chị S đã được cấp GCNQSDĐ và xây nhà
sinh sống trên đất nhưng lại giao đất cho một người con khác không đúng cả
hình thức và nội dung; trong vụ án án này bà C không hề mất quyền và được Tòa
án xem xét các yêu cầu mà bà nêu ra; khi đo đạc hiện trạng, diện tích thửa đất số
30 tăng so với GCNQSDĐ được cấp, nhưng chị S không yêu cầu về diện
tích đất tăng này, đề nghị HĐXX giao cho anh T quản lý, sử dụng.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải
quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Các nội dung kháng o của Bùi Thị C
không có căn cứ chấp nhận. Nhưng bản án sơ thẩm có một số sai sót, cụ thể: Sai
số thửa đất 258, tờ bản số 22; anh T rút một phần yêu cầu phản tố nhưng lại tuyên
đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện; không xử diện tích đất tăng so với
GCNQSDĐ tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2
Điều 308 BLTTDS, sửa bản án thẩm về những sai sót nêu trên; C được
miễn án phí phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, nghe lời trình bày, tranh luận của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát
về vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về việc vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm: Tại phiên tòa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bùi Thị S nộp đơn xin xét xử vắng mặt của chị
Bùi Thị S; chị Trần Thị Th không kháng cáo, đã được triệu tập nhưng vắng
mặt tại phiên tòa. vậy HĐXX căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 BLTTHS xét xử
vắng mặt các đương sự trên.
[2]. Xét kháng cáo của Bùi Thị C:
C không đồng ý đưa diện tích 132m
2
của thửa đất số 30 vào tài sản
chung của chị S và anh T; yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện TT cấp cho
anh T, chị S đối với thửa đất số và công nhận quyền sử dụng của bà đối với thửa
đất này.
Quá trình giải quyết vụ án,C trình bày và xuất trình tài liệu về việc năm
1998 ông Huy M nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông Nguyễn
Văn D, chính là thửa đất số 30 mà anh T chị S đã được UBND huyện TT cấp
GCNQSDĐ vào năm 2006.
8
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 của Tòa án cấp thẩm sự
chứng kiến của anh Lê Huy T, bà C trình bày: “Khi anh T và chị S lấy nhau ngày
03/3/1999 tôi chồng tôi cho anh T, chị S ra riêng trên mảnh đất vợ chồng
tôi mua của ông D, khi làm GCNQSDĐ tôi không được biết, m 2008 anh chị
làm nhà không nói với tôi. Tôi không đòi lại nhưng nguồn gốc đất đó của tôi mua
cho vợ chồng anh T, mong Tòa xem xét chia cho anh T 02 phần đất”.
Trong tài liệu gửi kèm đơn kháng cáo, C gửi kèm 01 bản photocoppy
“Di chúc để lại của ông bà” đề ngày 16/10/2007, nội dung: Ông bà cho vợ chồng
Tưởng Sứng làm nhà để trên đất ông mua, nhưng vợ chồng đã nhiều lần
xô xát, nếu sau này vợ chồng tan rã không sống được với nhau thì lô đất phải trả
cho ông ”, phía dưới ghi người viết di chúc là Huy M, chữ ký của một
người làm chứngđại diện Ban thôn của thôn Minh Lộc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, C trình bày tkhi mua đất của ông D, vợ chồng
chưa từng kê khai quyền sử dụng đất với quan nhà nước thẩm quyền,
diện tích đất này cách nhà ở của ông bà khoảng 01 km và cùng xã, chỉ khác xóm;
khi ông bà cho anh T và chị S ra ở riêng, anh chị làm 01 nhà lợp proximang để ở
tạm, sau đó làm móng nhà, tháng 10/2007 (AL) ông M chết thì khoảng đầu năm
2008 anh T, chị S làm nhà kiên cố; việc anh chị làm nhà và gia đình đều biết,
cũng qua lại nhà anh chị thường xuyên nhưng không ai có ý kiến gì vì lúc đó anh
chị đang sống chung bình thường. Bà C xuất trình bản gốc của bản di chúc và đề
nghị xem xét việc định đoạt quyền sử dụng đất mà ông M đã ghi trong bản di
chúc.
Anh T trình bày: Sau khi anh chị S kết hôn năm 1999, anh chị được bố
mẹ cho sang mảnh đất bố mẹ anh đã mua trước đó để làm nhà ở, ban đầu anh ch
chỉ làm nhà lợp proximang, đến năm 2001 làm móng nhà lớn, năm 2008 xây nhà
kiên cố. Việc anh chị làm nhà tạm, đổ móng, xây nhà kiên cố…bố manh đều
biết và không có ý kiến gì. Năm 1999, để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất,
anh có nhờ ông D (người đã bán thửa đất cho bố mẹ anh năm 1998) viết lại giấy
bán đất với nội dung ông D bán đất cho anh, giấy này xác nhận của thôn và
chứng thực của UBND xã để anh thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất (anh
T xuất trình bản gốc tại phiên tòa nhưng sau đó yêu cầu được nhận lại tài liệu
luôn). Diện tích đất từ khi vợ chồng anh đến đã được xây dựng khuôn viên riêng,
ổn định, không tranh chấp với các hộ liền kề, việc có sự chênh lệch giữa diện tích
cấp trong GCNQSDĐ hiện trạng sử dụng thực tế do đo đạc, anh đề nghị
HĐXX xem xét kháng cáo của C, giao diện tích đất tăng thêm tại thửa 30
cho người được sử dụng thửa đất này tiếp tục quản lý, sử dụng.
Như vậy, căn cứ xác định thửa đất số 30, diện tích 132m
2
có nguồn gốc
của ông M bà C nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D năm 1998, sau
khi nhận chuyển nhượng đất, ông M C chưa lần nào đăng quyền sử dụng
thửa đất tại cơ quan có thẩm quyền. Lời trình bày của các đương sự đều thể hiện
ông M bà C đã cho anh T, chị S làm nhà ở riêng trên thửa đất số 30 từ sau khi
anh chị kết hôn vào năm 1999, thời điểm anh chị xây nhà tạm, làm móng nhà, ông
M, C biết không ý kiến gì, năm 2008 anh chị làm nhà kiên cố C
gia đình biết nhưng cũng không ý kiến, đến ngày 02/12/2006, anh T chị S
9
được UBND huyện TT cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 30. vậy, Tòa án
cấp thẩm áp dụng Án lệ số: 03/2016/AL được ng bố tại Quyết định 220/QĐ-
CA ngày 06/4/2016 của Chánh án TANDTC, nội dung: “Trường hợp cha mẹ
đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng
nkiên cố trên diện ch đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con y nhà
thì cha mẹ những người khác trong gia đình không ý kiến phản đối gì, vợ
chồng người con đã sử dụng đất công khai, ổn định và đã tiến hành kê khai đất,
được cấp GCNQSDĐ thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho
quyền sử dụng đất” để xác định anh T chị S đã được ông M, C tặng cho
quyền sử dụng thửa đất số 30 là có căn cứ. Theo Đơn xin xác nhận nơi cư trú của
Cót thì hiện tại đang sinh sống cùng anh Huy T trên thửa đất số 30, nên Tòa
án cấp thẩm đã xem xét nguồn gốc đất, chia cho anh T 55% gtrị quyền sử
dụng của thửa đất và giao toàn bộ diện tích thửa đất số 30 cùng với i sản gắn
liền trên đất cho anh T sdụng, sở hữu phù hợp với hướng dẫn của Án lệ số:
03/2016/AL, bảo đảm sự công bằng và quyền lợi của các đương sự trong vụ án.
C đưa ra yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã cấp cho anh T, chị S công nhận
quyền sử dụng thửa đất số 30 cho sau khi Tòa án cấp thẩm đã ra Quyết định
đưa vụ án ra xét xử không đúng quy định tại khoản 2 Điều 201 BLTTDS. Tại
thời điểm nộp đơn kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, bà C xuất trình 01 bản
di chúc được cho của ông Huy M lập ngày 16/10/2007 một phần nội dung
về việc nếu anh T chị S không chung sống với nhau thì phải trả lại thửa đất ông
đã cho ở, ông giao quyền thừa kế đất anh T chị S đang cho một người
con khác. Xét thấy, như đã phân tích trên, mặc dù nguồn gốc thửa đất số 30
của ông M, bà C nhận chuyển nhượng, nhưng ông đã cho anh T chS xây
nhà trên thửa đất ngay sau khi anh chị kết hôn, anh T, chS sử dụng đất công
khai, ổn định từ năm 1999 đến nay không ai trong gia đình phản đối đã được
cấp GCNQSDĐ. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Án lệ số: 03/2016/AL xác định thửa
đất số 30 tài sản chung của anh T, chS chính xác. Do đó yêu cầu của C
về việc hủy GCNQSDĐ đã cấp cho anh T, chị S công nhận quyền sử dụng thửa
đất số 30 cho không căn cứ chấp nhận. Bản di chúc do C xuất trình lập
ngày 16/10/2007 là sau thời điểm anh T, chị S đã được cấp GCNQSDĐ và đã xây
nhà ổn định trên thửa đất nhưng người lập di chúc không kiểm tra tình trạng
pháp lý của thửa đất, và định đoạt quyền sử dụng thửa đất này cho người khác là
không phù hợp với quy định của pháp luật, nên HĐXX không căn cứ chấp
nhận lời nại của C về việc xem xét nội dung định đoạt quyền sử dụng đất
ông Lê Huy M viết trong bản di chúc.
Từ những phân tích trên, XX xét thấy các nội dung kháng cáo, lời
nại của Bùi Thị C tại phiên tòa phúc thẩm không căn cứ nên không được
chấp nhận.
[3]. Tòa án thẩm đã tiến hành xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ
định giá tài sản đối với tài sản chung của anh T, chị S và xác định thửa đất số 30,
diện tích đất được cấp 132m
2
, diện tích đo đạc hiện trạng là 176,7m
2
. Tại phiên
tòa phúc thẩm anh T trình bày từ khi sử dụng đất anh chị đã xây khuôn viên riêng,
ổn định, không tranh chấp với ai, không nhận chuyển nhượng thêm lý do đất tăng
10
so với GCNQSDĐ có thể là do việc đo đạc khi cấp giấy; UBNDTM xác định
thửa đất không có tranh chấp, diện tích tăng thêm 44,7m
2
là do sai số đo đạc qua
các thời kỳ quản lý, nếu người sử dụng yêu cầu cấp lại GCNQSDĐ tdiện tích
đất tăng sẽ được xem xét cấp sau khi hoàn thiện thủ tục tài chính với Nhà nước.
Nhưng, Tòa án cấp thẩm lại không xử đối với diện tích đất tăng, do đó
XX sửa bản án sơ thẩm, tạm giao 44,7m
2
đất tăng so với GCNQSDĐ cho anh
T sử dụng.
Đồng thời, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm có nhầm lẫn: Tài sản
chung của anh T, chị S thửa đất 658, t bản đồ s 22, nhưng li ghi là tha 656,
t bản đồ s 22. Quá trình gii quyết v án, b đơn anh Huy T đã rút mt
phn yêu cu phn t v công n chung ca v chng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
li tuyên đình chỉ mt phn yêu cu khi kin ca anh Huy T không đúng.
Do đó, cần sa li các ni dung trên cho chính xác, đảm bo vic thi hành bn án.
[3]. Án phí phúc thẩm: C không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án
phí phúc thẩm nhưng bà là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[4]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị và không liên quan đến kháng cáo nên HĐXX không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của i Thị C.
2. Sửa một phần Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST ngày 01/9/2021 của Tòa
án nhân dân huyện TT do có sai sót, nhầm lẫn như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị C về việc đòi lại đất và yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG034774, s vào s cp giy H00727
do UBND huyện TT cấp ngày 02/12/2006 cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S đối
vi thửa đất s 30, t bản đồ s 10, din tích 132m
2
ti thôn MH, TM, huyn
TT.
- Đình chỉ mt phần nội dung phản tố của anh Huy T về yêu cầu giải
quyết công nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh và chị Bùi Thị S.
- Xác định chị Bùi Thị S anh Huy T khối tài sản chung trị giá
2.144.294.00(Hai t, một trăm bốn bn triu, hai trăm chín nghìn đng),
gm:
+ Thửa đất s 30, t bản đồ s 10, din tích 132m
2
(din tích đo đạc hin
trng 176,7m
2
)
ti thôn MH, TM, huyn TT, trên đất có nhà mái bng và các
công trình ph đã được cp Giy chng nhn quyn s dụng đất s AG034774,
s vào s cp giy là H00727 ngày 02/12/2006 mang tên Lê Huy T và Bùi Th S,
giá tr quyn s dng đất 740.916.000đ; gtr tài sản trên đất 103.394.000đ. Tổng
cng: 844.310.000đ.
11
+ Thửa đất s 796, t bản đồ 21, din tích 144m
2
ti thôn MH, TM, mua
ca ch Thị M Trương Văn L theo Giy chng nhn quyn s dụng đất CĐ
997282, s vào s cp giy CH 00243 cp ngày 14/10/2016, nhưng chưa đăng ký
quyn s dụng đất. Giá tr quyn s dụng đất: 600.048.000đ; trên đt không tài
sn.
+ Tha đất s 658, t bn đồ s 22, din tích 276m
2
ti Thôn H2 (nay
thôn M H2), TM, đã được cp Giy chng nhn quyn s dụng đất s BU
581429, s vào s cp giy chng nhn CH00051 ngày 12/5/2014 mang tên Lê
Huy T. Giá tr quyn s dụng đất: 699.936.000đ; trên đất không có tài sn.
- Chia tài sản chung cho anh Lê Huy T và chị Bùi Thị S như sau:
+ Chia cho anh Lê Huy T:
* Quyn s dng thửa đất s 30, t bản đồ s 10, din tích 132m
2
v trí đt
thuc thôn MH, TM, huyn TT theo Giy chng nhn quyn s dụng đất s
AG034774, s vào s cp giy H00727 ngày 02/12/2006 s hu toàn b tài
sn gn lin với đất. Tng giá tr đất và tài sn là: 844.310.000đ (Tám trăm bốn
bn triu, ba trăm mười nghìn đồng).
Tm giao cho anh T s dng din tích 44,7m
2
đất tăng so với GCNQSDĐ
đưc cp. Anh T phi nghĩa vụ liên h với quan thẩm quyền để x phn
diện tích đất tăng thêm theo quy định ca pháp lut v đất đai.
* Quyn s dng 1/2 din tích thửa đất s 658, t bản đồ s 22 Thôn H2
(nay là M H2), xã TM din tích 138m
2
. Kích thước các cnh: Chiu rng mt
đưng 5m v phía Nam, chiu dài mt cnh là 27,66 m giáp thửa đất ca ch S v
phía Tây, cnh dài 27,3m giáp đất h ông Nhung v phía Đông, cạnh 5,06m
giáp h ông Linh v phía Bc (có sơ đồ phát hành kèm theo bản án sơ thẩm); giá
tr quyn s dụng đt là 349.968.000đ (Ba trăm bn chín triu chín trăm sáu tám
nghìn).
+ Chia cho chị Bùi Thị S:
* Quyn s dng tha đất s 796, t bản đồ 21, din tích 144m
2
ti thôn
MH, xã TM theo Giy chng nhn quyn s dụng đất s 997282, số vào s
cp giy CH 00243 ngày 14/10/2016; giá tr quyn s dụng đất là: 600.048.000đ
(Sáu trăm triệu, không trăm bốn tám nghìn đồng).
* Quyn s dng 1/2 thửa đất s 658, t bản đồ s 22 vị trí Thôn H2 (nay
M H2), TM din tích 138m
2
. Kích thước các cnh: Chiu rng mt
đưng 5m v phía Nam, chiu dài mt cnh 27,66 m giáp thửa đất ca anh T
v phía Đông cạnh dài 28m giáp đất h ông Long v phía Tây, cnh 4,94m
giáp đất h ông Linh v phía Bắc (có sơ đồ phát hành kèm theo bản án sơ thẩm);
giá tr quyn s dụng đất: 349.968.000đ (Ba trăm bn chín triu, chín trăm sáu
tám nghìn đồng).
- Anh T đưc giao i sn giá tr: 1.194.278.000đ; ch S đưc giao tài
sn có giá trị: 950.016.000đ. Anh T phi giao li cho ch S s tin chênh lch v
12
quyn s dng đt tài sn gn lin với đất là 85.085.000đ (Tám mươi lăm triu,
không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
Tng giá tr tài sn anh T đưc chia 1.109.192.800; tng giá tr i sn
ch S được chia là 1.035.101.000đ.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
và không liên quan đến kháng cáo nên không xem xét.
4. Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Bùi Thị C
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND cấp cao tại HN; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND huyện TT;
- Chi cục THADS huyện TT; Đã ký
- Các đương sự;
- Người BVQ&LIHP cho đương sự;
- Lưu HSVA.
Lê Thu Hương
Tải về
Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT Bản án số 48/2021/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất