Bản án số 48/2018/HNGĐ-ST ngày 13/08/2018 của TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 48/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 48/2018/HNGĐ-ST ngày 13/08/2018 của TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Bắc Giang (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 48/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 48/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13 tháng 8 năm 2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Vượng.
2. Bà Phạm Thị Thư
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô n Quang Thư ký Toà án
nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Hoàng Văn Đĩnh-
Kiểm sát viên.
Ngày 13/8/2018 tại trụ sToà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/6/2018 về việc “Ly
hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
58/2018/QĐXX-ST ngày 13/7/2018 Quyết định hoãn số: 36/2018/QĐST-HNGĐ
ngày 31/7/2018 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thắm, sinh năm 1991. Địa chsố nhà 57, tổ
dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
+ Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh Cường, sinh năm 1992. Địa chỉ số nhà 57, tổ
dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 29/5/2018 trong quá trình xét xử,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thắm trình bày:
Chị với anh Nguyễn Mạnh Cường đăng kết hôn với nhau ngày 17/3/2011
tại UBND phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết
hôn có được tự do tìm hiểm tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau
khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh Cường ngay tại số nhà 57, tổ dân phố Giáp Hải,
2
phường Dĩnh kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị với gia đình nhà
chồng được khoảng 02 tháng thì vchồng ra riêng thuê nhà tr nhiều nơi
trong thành phố Bắc Giang. Trong thời gian chung sống vợ chồng nhiều mâu
thuẫn. Nguyên nhân là do anh Cường không tu trí làm ăn, lại thường xuyên rượu say
đánh chửi chị. Chị đã về nhà bố mđẻ tại thôn Cầu Ván, Dương Đức, huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và ly thân với anh Cường được hơn 2 năm rồi. Nay chị
đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Cường.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung, cháu tên Nguyễn Đức Anh, sinh
ngày 01/02/2011, hiện nay cháu đang cùng với anh Cường, khi ly hôn chđề nghị
được nuôi con chung cháu còn quá nhỏ, anh Cường lại không nghề nghiệp,
không có thu nhập để đảm bảo nuôi con. Hiện nay chị nhận may gia công tại nhà với
thu nhập hàng tháng khoảng 5.000.000 đồng nên đảm bảo cho việc nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản công nợ chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Thắm làm dâu nhà anh Cường được khoảng 02 tháng nhưng chị không đề
nghị trích chia công sức đóng góp.
Bị đơn anh Nguyễn Mạnh Cường vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không
có lý do nên hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Cường.
Anh Cường đã nhận được thông báo thụ lý, giấy triệu tập đương sự, thông báo
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải nhưng anh Cường
không đến phiên tòa. Tòa án ra quyết định yêu cầu anh Cường cung cấp tài liệu,
chứng cứ là văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
anh Cường nhận được nhưng không cung cấp cho Tòa án. Tòa án tiến hành giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo biên bản làm việc với Nguyễn Thị Thứ mẹ đcủa chị Thắm cho
biết: Chị Thắm anh Cường kết hôn với nhau tháng 3/2011. Trước khi kết hôn chị
anh Cường được tự do tìm hiểu đăng kết hôn tại UBND phường Dĩnh
Kế, thành phố Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh Cường ngay. Vợ
chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, cho đến năm 2015 do mâu thuẫn vợ chồng,
chị Thắm đã về nhà với gia đình nhà tôi từ đó cho đến nay không quay vchung
sống cùng anh Cường nữa. Bản thân tôi được biết vợ chồng chị Thắm, anh Cường
chung sống với nhau hay xảy ra cãi nhau anh Cường còn đánh đập chị Thắm
nhưng chị Thắm vẫn cam chịu phải chăm con nhỏ. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ
chồng giữa chị Thắm anh Cường không còn thương yêu nhau. Việc chị Thắm
làm đơn xin ly hôn anh Cường thì tôi không ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án:
3
+ Về việc tuân theo pháp luật ttụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ đến
khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà
hôm nay, Thẩm phán Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng với quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa
vụ của đương sự, bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập vắng mặt
tại phiên tòa đã không chấp hành đúng quy định ca Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên
toà. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Cần chấp nhận ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm anh
Nguyễn Mạnh Cường.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 01/02/2011 cho
chị Nguyễn Th Thắm trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi
con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không nên không đề nghị Tòa án giải
quyết.
Về án phí: Chị Thắm phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bđơn và kết quả tranh tụng tại phiên
tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Anh Cường đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 31/7/2018,
nhưng anh Cường vắng mặt không đến phiên tòa. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa
ấn định lịch phiên tòa vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 13/8/2018 giao quyết định
này cho anh Cường. Tại phiên tòa hôm nay anh Cường bị đơn không phản tố,
vắng mặt tại phiên a không do. Đây là lần thứ hai anh Cường vắng mặt
không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Cường.
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Cường và chị Thắm kết hôn với nhau có đăng ký
kết hôn cưới hỏi theo phong tục địa phương nên quan h hôn nhân giữa anh
Cường và chị Thắm là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do bất
đồng về quan điểm sống (chị Thắm cho rằng anh Cường không chịu tu trí làm ăn,
không quan tâm đến vợ con lại hay đánh đập chị) dẫn tới việc cuối năm 2015 chị
Thắm về nbố mđcủa chị tại địa chỉ Thôn Cầu Ván, Dương Đức, huyện
Lang Giang, tỉnh Bắc Giang, hai người sống ly thân với nhau từ đó, không ai còn
quan tâm đến ai nữa. Xét thấy nh trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần xử cho Nguyễn
Thị Thắm được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Cường (theo Điều 56- Luật n nhân
gia đình 2014).
4
+ Về con chung: Vợ chồng anh chị một con chung cháu Nguyễn Đức
Anh, sinh ngày 01/02/2011, hiện nay cháu đang cùng với anh Cường. Chị Thắm
yêu cầu trực tiếp nuôi con. Xét về điều kiện kinh tế thu nhập thì chị Thắm
công ăn việc làm ổn định, đảm bảo đnuôi con. Anh Cường không công ăn việc
làm ổn định nên không đảm bảo cho việc nuôi con. Hiện cháu Nguyễn Đức Anh đã
trên 7 tuổi và có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu
Nguyễn Đức Anh nên cần giao cho chị Thắm trực tiếp chăm c nuôi dưỡng phù
hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: chị Thắm và anh Cường không đề nghị
Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Thắm phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 Điều 83
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án
phí, lệ phí tòa án;
Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228;
Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thắm anh
Nguyễn Mạnh Cường.
Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày
01/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Thắm trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Thắm không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con quyền thăm nom con chung, không ai
được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thắm phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về
ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Thắm đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/06795 ngày
04/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận chị Thắm
đã nộp 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thắm được quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Mạnh Cường được quyền
5
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản
án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND TP Bắc Giang;
- CCTHA-DS TP Bắc Giang;
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Trường
6
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Trường
Tải về
Bản án số 48/2018/HNGĐ-ST Bản án số 48/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất