Bản án số 469/2020/DS-PT ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 469/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 469/2020/DS-PT ngày 23/12/2020 của TAND tỉnh Tiền Giang về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tiền Giang
Số hiệu: 469/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Bị đơn ông Lê Văn X, anh Lê Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T và chị Lê Thị Ánh Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ kiện, yêu cầu Tòa cho giám định chữ ký của bà M.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 469/2020/DS-PT
Ngày: 23/12/2020
V/v tranh chấp: “Thực hiện nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt
Bà Trần Thị Thu Hằng
- Thư phiên toà: Ông Bùi Lê Lộc - T a án nhân n tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 464/2020/TLPT-DS ngày 10 tháng 11
năm 2020 về việc tranh chấp “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do bản án dân sự thẩm số 47/2020/DS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 543/2020/QĐ-PT ngày 06 tháng 11
năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phan Thị O, sinh năm 1972;
Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Nời đại diện theo ủy quyền: Hunh Hoàng P, sinh năm 1985; (có mt)
Địa chỉ: Đường H, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Theo văn bản ủy quyền ngày 07/12/2020.
- Bị đơn:
1. Lê Văn X, sinh năm 1952; (vắng mặt)
2. Lê Hữu Đ, sinh năm 1985; (có mặt)
3. Lê Thị Hồng T, sinh năm 1989; (vắng mặt)
4. Lê Thị Ánh Đ, sinh năm 1995; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
2
- Người kháng cáo: Bị đơn Văn X, Hữu Đ, Thị Hồng T, Thị
Ánh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Nguyên đơn Phan Thị O, người đại diện theo ủy quyền chị Huỳnh
Hoàng P trình bày: Phan Thị O (tên thường gọi Hai H), từ ngày 20/02/2014
đến ngày 25/02/2017 Hồ Thị M (tên thường gọi Hai L) tham gia chơi hụi
do bà O làm thảo hụi cụ thể:
Dây hụi khui ngày 20/02/2014, hụi 3.000.000 đồng trên một phần, 14
phần, định kỳ bốn tháng khui hụi một lần (theo vụ lúa), M tham gia một phần.
Ngày 30/8/2014, M hốt hụi tiếp tục đóng hụi chết đến tháng 4/2018 M
chết, lúc này dây hụi còn một phần nữa thì mãn hụi (kết thúc);
Dây hụi khui ngày 10/02/2015, hụi 3.000.000 đồng trên một phần, 17
phần, định kỳ bốn tháng khui hụi một lần (theo vụ lúa), M tham gia một phần.
Lần khui hụi thứ nhất, M hốt hụi tiếp tục đóng hụi chết đến tháng 4/2018
M chết, lúc này dây hụi còn bảy phần nữa thì mãn hụi (kết thúc);
Dây hụi khui ngày 25/02/2017, hụi 3.000.000 đồng trên một phần, 15
phần, định kỳ bốn tháng khui hụi một lần (theo vụ lúa), M tham gia một phần.
Ngày 09/6/2017, M hốt hụi tiếp tục đóng hụi chết đến tháng 4/2018 M
chết, lúc này dây hụi còn mười một phần nữa thì mãn hụi (kết thúc);
Dây hụi khui ngày 25/02/2017, hụi 5.000.000 đồng trên một phần, 15
phần, định kỳ bốn tháng khui hụi một lần (theo vụ lúa), M tham gia một phần.
Lần khụi hụi thứ nhất, M hốt hụi tiếp tục đóng hụi chết đến tháng 4/2018
M chết, lúc này dây hụi còn mười một phần nữa thì mãn hụi (kết thúc).
Khi M chết O trao đổi với các hụi viên cho những người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của M gồm: chồng ông Văn X các con ruột của M
ông X là anh Hữu Đ, chị Thị Hồng T, chị Thị Ánh Đ trả lại phần hụi
chết với số tiền gốc M đã nhận (ví dụ hụi 3.000.000 đồng M bỏ 900.000
đồng hốt được 2.100.000 đồng trên một phần thì nay người thừa kế của M chỉ
phải trả 2.100.000 đồng trên một phần chứ không phải trả hụi chết theo thỏa thuận
3.000.000 đồng trên một phần). Nhưng đến khi O đi gom hụi người thừa kế
của bà M không đóng hụi. Bà O đã choàng hụi cho bà M để đảm bảo giao hụi đúng
và đầy đủ cho các hụi viên chưa hốt.
Ngoài ra, bà M có mượn của bà O 02 (hai) chỉ vàng 24K (ngày 28/3/2017), 02
(hai) chỉ vàng 24K (ngày 04/9/2017) và ngày 21/3/2018 mượn 5.000.000 đồng.
Ngày 11/11/2018, tại cuộc hòa giải ấp K, P, huyện T ông X anh Đ đã
thống nhất số tiền hụi, tiền vay số vàng M còn nợ O cam kết trả trong
hạn 01 (một) năm nhưng không thực hiện.
3
Ngày 11/6/2020, tại cuộc hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã P, huyện T ông X
anh Đ ng thống nhất số tiền hụi, tiền vay số vàng mượn, xin trả 50.000.000
đồng số còn lại sẽ trả dần nhưng O không đồng ý.
u cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Văn X, anh Hữu Đ, chị Thị Hồng T chị Thị Ánh
Đ nghĩa vụ liên đới trả cho bà O số tiền nợ hụi 78.400.000 đồng; 5.000.000
đồng tiền vay 04 chỉ vàng 24K (tạm tính giá vàng tại thời điểm khởi kiện
4.700.000 đồng), tổng cộng 102.200.000 đồng. Yêu cầu trả một lần ngày khi án
hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Văn X trình bày: Vợ ông Hồ Thị M (đã chết) tham
gia chơi hụi do bà O làm chủ hụi. Tháng 4/2018 bà O tranh chấp ra UBND xã P,
O khai M còn nợ 78.400.000 đồng, 04 chỉ vàng 24K số tiền 5.000.000
đồng. Tổng cộng 98.000.000 đồng, tại cuộc hòa giải ông các con (Hữu Đ,
Thị Hồng T, Thị Ánh Đ) thống nhất xin trả ½ số nợ 50.000.000 đồng,
do vợ ông còn nợ rất nhiều chủ hụi khác (các chủ hụi khác thống nhất đồng ý cho
gia đình ông trả ½ số nợ xóa nợ còn lại). Ông đã bán 4.000m
2
đất được
400.000.000 đồng và đã trả xong cho các chủ nợ khác, chỉ có bà O là không đồng ý
nhận ½ số nợ nên đến nay gia đình ông chưa trả nợ cho bà O.
Nay bà O khởi kiện ông và các con thì ông cũng xin trả ½ số nợ là 50.000.000
đồng xóa nợ còn lại giữa hai bên, xin trả dần trong thời hạn một năm. (Nếu ý
kiến của con ông Hữu Đ khác ý kiến với ông về thời gian trả 50.000.000
đồng thì ông thống nhất theo ý kiến của con ông (Định).
Bị đơn – anh Hữu Đ trình bày: Anh thống nhất với ý kiến của ông Lê Văn
X ngày 19/8/2020. Gia đình đồng ý trả cho O ½ số nợ 49.000.000 đồng
xóa nợ còn lại và trả số tiền nêu trên trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 24/8/2020.
Bị đơn chị Thị Hồng T trình bày: Chị thống nhất theo ý kiến của cha chị
là ông Văn X và anh chị anh Hữu Đ, chị để cha chị và anh chị toàn quyền
quyết định.
Bị đơn – chị Lê Thị Ánh Đ trình bày: Chị thống nhất theo ý kiến của cha chị là
ông Văn X anh chị anh Hữu Đ, chị để cha chị anh chị toàn quyền
quyết định.
Bản án dân sự thẩm số 47/2020/DS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân
dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ Điều 463, Điều 471 của Bộ luật dân sự
2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án p lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị O đối với bị đơn
ông Lê Văn X, anh Lê Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T và chị Lê Thị Ánh Đ.
4
Buộc ông Văn X, anh Hữu Đ, chị Thị Hồng T chị Thị Ánh Đ
phải liên đới trả O số tiền 102.200.000 đồng, thực hiện một lần khi án hiệu
lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/9/2020, bị đơn ông Văn X, anh Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T
chị Thị Ánh Đ kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xlại vụ
kiện, yêu cầu Tòa cho giám định chữ ký của bà M.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khi kin. B đơn
gi nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau vviệc
giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Văn
X, chị Thị Hồng T chị Thị Ánh Đ, chấp nhận một phần yêu cầu kháng
cáo của anh Hữu Đ, sửa một phần bản án sơ thẩm. Buộc bị đơn ông X, anh Đ,
chị T và chị Đ phải trả cho bà Phan Thị O 98.000.000 đồng.
Qua nghiên cứu toàn btài liệu, chứng cứ trong h sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Hữu Đ, lời trình bày của các
đương skết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện
Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
“Hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản” chưa phù hợp. Cần xác định đây
tranh chấp “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại Điều
615 Bộ luật dân sự. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại quan hệ pháp luật của vụ án, việc
này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Ông Văn X, chị Lê Thị Hồng T chị Thị Ánh Đ đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, xem như từ bỏ việc kháng cáo.
Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn X, chị Lê Thị Hồng T và chị
Lê Thị Ánh Đ.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Hữu Đ, Hội đồng
xét xử thấy rằng:
Bà Hồ Thị M (đã chết vào tháng 4/2018) vợ của ông Văn X mẹ
của anh Hữu Đ, chị Thị Hồng T chị Thị Ánh Đ tham gia chơi hụi
do O làm chủ hụi, các dây hụi từ năm 2014 đến năm 2017. Tại biên bản lấy lời
khai của đương sự ngày 19/8/2020 của Tòa án cấp thẩm, bị đơn ông Văn X
khai: Tháng 4/2018 O tranh chấp ra UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
5
O khai M còn nợ bà O số tiền hụi là 78.400.000 đồng có nợ 04 chỉ vàng 24K
số tiền 5.000.000 đồng tiền vay. Tổng cộng 98.000.000 đồng. Tại cuộc hòa
giải tại ông các con (Hữu Đ, Thị Hồng T, Thị Ánh Đ) thống nhất
xin trả ½ số nợ 50.000.000 đồng, do vợ ông còn nợ nhiều chủ hụi khác họ
thống nhất đồng ý cho gia đình ông trả 50% snợ đồng ý xóa ncòn lại. Ông
đã bán 4.000m
2
đất được 400.000.000 đồng trả nợ xong, chỉ có bà O là không đồng
ý nhận 50% số nợ nên đến nay gia đình ông chưa trả.
Nay bà O kiện ông và các con (Đ, T, Đ) ông cũng xin trả 50% số nợ là
50.000.000 đồng xem như xóa nợ giữa đôi bên. Nhưng xin trả dần trong thời hạn
01 năm (BL 36).
Tại biên bản hòa giải ấp K, P, huyện T, tỉnh Tiền Giang ngày
11/11/2018 ông Văn X thống nhất tiền M nợ hụi 78.400.000 đồng, 04 chỉ
vàng 24k, tiền mượn 5.000.000 đồng (qui ra tiền 19.600.000 đồng), thống nhất số
tiền nợ hụi, vàng, tiền mượn của O 98.000.000 đồng, trả kể từ ngày
11/11/2018 đến ngày 11/11/2019 sẽ trả dứt điểm (nếu sớm sẽ trả dưới sự chứng
kiến của Công an ấp và Tổ hòa giải). Biên bản này có chữ ký của bên bị đơn là anh
Lê Hữu Đ (BL 43e).
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ xác nhận trước ngày 11/11/2018 anh cũng
đã viết bản tiền nợ hụi, nợ vàng, tiền mượn của mẹ anh cho O (Thím 2
Hùng), tổng cộng thành tiền là 98.000.000 đồng (BL 43a)
[4] Xét sự thừa nhận của bị đơn ông Văn X, anh Hữu Đ vviệc Hồ
Thị M vợ của ông X mẹ của anh Đ còn nợ bà O số tiền hụi 78.400.000
đồng và có nợ 04 chỉ vàng 24K và số tiền vay 5.000.000 đồng (qui ra tiền
19.600.000 đồng), tổng cộng 98.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 2
Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
Như vậy s xác định Hồ Thị M nợ Phan Thị O số tiền hụi
78.400.000 đồng, 04 chỉ vàng 24K số tiền vay 5.000.000 đồng (qui ra tiền
19.600.000 đồng), tổng cộng 98.000.000 đồng. Do bà M đã chết nên ông Văn
X, anh Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T và chị Thị Ánh Đ những người thừa kế
phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà M chết để lại.
Bà O khởi kiện yêu cầu ông X, anh Đ, chị T và chị Đ có nghĩa vụ liên đới trả
cho O số tiền nợ hụi 78.400.000 đồng; 5.000.000 đồng tiền vay 04 chỉ
vàng 24K (tính giá vàng tại thời điểm khởi kiện 4.700.000 đồng/chỉ), tổng cộng
102.200.000 đồng. Án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O. Buộc
ông X, anh Đ, chị T chị Đ nghĩa vụ liên đới trả cho O 102.000.000 đồng
chưa xem xét toàn diện chứng cứ của vụ án và bảo đảm quyền lợi của đương s,
được các đương sự thỏa thuận thống nhất tại biên bản hòa giải ấp K, xã P, huyện
T, tỉnh Tiền Giang ngày 11/11/2018. Theo thỏa thuận bên bị đơn là ông X và các
con có nghĩa vụ trả tiền hụi, vàng và tiền mượn do bà M chết để lại còn nợ bà O số
tiền là 98.000.000 đồng.
[5] Bị đơn anh Lê Hữu Đ kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ kiện
yêu cầu cho giám định chữ của M trong giấy biên nhận hụi. Đối với yêu
6
cầu cho giám định chữ của M như nhận định phần [4] không cần thiết.
Do đó không chấp nhận yêu cầu này của anh Đ.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ xin được trả cho O 98.000.000 đồng
như tại biên bản hòa giải ấp K, xã P, huyện T ngày 11/11/2018. Đại diện theo ủy
quyền của ngyên đơn đồng ý cho các bị đơn trả cho O số tiền 98.000.000 đồng.
Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Đ, sửa một
phần bản án sơ thẩm.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là
sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 3 Điều 296, Điều 148 Bộ luật t
tụng dân sự;
Căn cứ Điều 615, Điều 463, Điều 471, Điều 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Văn X,
chị Lê Thị Hồng T và chị Lê Thị Ánh Đ.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo anh Hữu Đ, sửa một phần bản
án dân sự thẩm số 47/2020/DS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh Tiền Giang.
3. Chấp nhận một phầnyêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị O đối
với bị đơn ông Lê Văn X, anh Lê Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T và chị Lê Thị Ánh Đ.
Buộc ông Văn X, anh Hữu Đ, chị Thị Hồng T chị Thị Ánh Đ
phải liên đới trả Phan Thị O số tiền 98.000.000 đồng. Thực hiện khi án hiệu
lực pháp luật.
Kể từ ngày Phan Thị O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông X, anh Đ, chị
T và chị Đ chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật
dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí: Ông Lê Văn X, anh Lê Hữu Đ, chị Lê Thị Hồng T chị Lê Thị
Ánh Đ phải chịu 4.900.000 đồng án phí dân sự thẩm. Ông X, anh Đ, chị T
chị Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 20618 ngày
28/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tiền Giang, khấu trừ còn
phải nộp tiếp 4.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại bà Phan Thị O 2.555.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu
số 20543 ngày 03/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tiền
Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện T, TG;
- CCTHADS huyện T, TG;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Huỳnh Hiếu
Tải về
Bản án số 469/2020/DS-PT Bản án số 469/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất