Bản án số 453/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 453/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 453/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 453/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH (MSB); giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 78/2026/DS-ST, ngày 12/5/2026 của TAND Khu vực 1- Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 453/2026/DS-PT Bản án số 453/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 453/2026/DS-PT Bản án số 453/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn;
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thu Hằng và bà Nguyễn Thị Hải Âu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 214/2026/DSPT, ngày 15 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế vô hiệu và tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2026/DS-ST, ngày 12/5/2026 của Toà án nhân
dân Khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
403/2026/QĐXXPT-DS, ngày 12 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
435/2026/QĐPT-DS, ngày 27/8/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP HH (MSB);
Địa chỉ: Số 54A NCT, phường LH, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Lâm Huy Th, sinh năm 1992;
Chức vụ: Giám đốc Tố tụng cấp 1; Số CCCD: ************;
Địa chỉ: Lô A33 – A34 đường 2/9, phường HC, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Đỗ Hồng T, sinh năm 1982; Số CCCD: ************.
Địa chỉ: Tổ dân phố 12, phường TA, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông YD, sinh
năm 1992; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà HT; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
2. Ông YQ; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 453/2026/DS-PT
Ngày 22/9/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín
dụng, yêu cầu tuyên bố văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế vô hiệu và tuyên bố hợp đồng
thế chấp vô hiệu.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
3. Ông Y C; địa chỉ: Buôn LK, xã ĐP, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
4. Bà H Ph; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
5. Ông Y Ph; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
6. Ông Y Ng; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
7. Ông Y Lu; sinh năm: 2007; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng
mặt.
8. Ông Y L; sinh năm: 2009; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng
mặt.
9. Bà H N; sinh năm: 2013; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
10. Bà HGr; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK,
tỉnh Đắk Lắk) (bà HGr đồng thời là người đại diện hợp pháp của ông Y L bà bà H N);
vắng mặt.
11. Ông YDo; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
12. Bà HLô; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt
13. Ủy ban nhân dân xã NK, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
Người khng co: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH (MSB).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Quá trình ký kết hợp đồng tín
dụng:
- Ngày 21/11/2023, ông Đỗ Hồng T có đơn đề nghị cấp tín dụng kiêm phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP HH (MSB) – Chi nhánh Đăk Lăk. Hạn
mức thẻ tín dụng: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
- Ngày 15/12/2023 ông Đỗ Hồng T ký Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ
số: 196680.19254/2023/HĐCV với Ngân hàng TMCP HH (MSB) - Chi nhánh Đăk
Lăk, hai bên TN việc Ngân hàng cho ông Đỗ Hồng T vay tiền theo nội dung thỏa
thuận sau đây: Số tiền vay: 530.000.000 đồng (Năm trăm ba mươi triệu đồng); Thời hạn
vay: 240 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Hoàn vốn mua BĐS; Phương thức cho vay:
Cho vay từng lần.
+ Lãi suất cho vay: áp dụng từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 18/12/2024
là 6.8%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên: 19/12/2024.
+ Trả nợ gốc, lãi: gốc trả đều, lãi trả tính theo dư nợ thực tế giảm dần.
- Ngày 29/12/2023 ông Đỗ Hồng T ký Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ
số: 198446.22301/2023/HĐCV với Ngân hàng TMCP HH (MSB) – Chi nhánh Đăk
Lăk, hai bên TN việc Ngân hàng cho ông Đỗ Hồng T vay tiền theo nội dung thỏa
thuận sau đây:
+ Số tiền vay: 228.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tám triệu đồng).
3
+ Thời hạn vay: 240 tháng
+ Mục đích sử dụng vốn: Hoàn vốn mua BĐS.
+ Phương thức cho vay: Cho vay từng lần.
+ Lãi suất cho vay: áp dụng từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 28/12/2024
là 6.8%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần. ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên: 29/12/2024.
+ Trả nợ gốc, lãi: gốc trả đều, lãi trả tính theo dư nợ thực tế giảm dần.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là:
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 18, diện tích 1145,3m2, tại
địa chỉ: Xã NK, huyện L1, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DM 213178, vào sổ cấp GCN:
VP00192 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2023 cập nhật
chuyển nhượng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023. Theo Hợp đồng thế chấp số
5254850, số công chứng 010496, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày
15/12/2023 tại Văn phòng công chứng ĐL. Địa chỉ: 121-123 YJ, phường TN, thành
phố BMT, tỉnh Đăk Lăk. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định của pháp luật.
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 18, diện tích 542,6m2, tại
địa chỉ: Xã NK, huyện L1, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DM 213185, vào sổ cấp GCN:
VP00191 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2023 cập nhật
chuyển nhượng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023. Theo Hợp đồng thế chấp số
29.12/2023, số công chứng 010986, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày
29/12/2023 tại Văn phòng công chứng ĐL. Địa chỉ: 121-123 YJ, phường TN, thành
phố BMT, tỉnh Đăk Lăk. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định của pháp luật.
Qu trình ký kết hợp đồng tín dụng
Thực hiện theo Đơn đề nghị cấp tín dụng kiêm phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng ngày 21/11/2023, MSB – Chi nhánh Đăk Lăk đã phát hành cho ông Đỗ Hồng T
thẻ tín dụng hạn mức: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Thực hiện Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 196680.19254/2023/HĐCV
ngày 15/12/2023, MSB – Chi nhánh Đăk Lăk đã giải ngân cho ông Đỗ Hồng T số tiền
530.000.000 đồng (Năm trăm ba mươi triệu đồng).
Thực hiện Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 198446.22301/2023/HĐCV
ngày 29/12/2023, MSB – Chi nhánh Đăk Lăk đã đã giải ngân cho ông Đỗ Hồng T số tiền
228.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tám triệu đồng).
Trong quá trìnHThực hiện hợp đồng, ông Đỗ Hồng T đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ theo Hợp đồng cho vay, Khế ước nhận nợ đã ký kết, dẫn đến khoản vay bị nợ quá
hạn kéo dài. Tạm tính đến ngày 15/01/2026 khoản vay của ông Đỗ Hồng T đã quá
hạn 710 ngày. Mặc dù, MSB đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần nhưng ông Đỗ Hồng
T vẫn không Tực hiện nghĩa vụ trả nợ cho MSB.
4
Tổng dư nợ khoản vay của ông Đỗ Hồng T tạm tính đến ngày 12/05/2026 còn
nợ MSB là: 986.608.124 đồng (Chín trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm lẻ tám ngàn
một trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó:
Đơn vị tính: Đồng
Hợp đồng
Nợ gốc
Nợ lãi
Nợ lãi quá
hạn/Phí
196680.19254/2023/HĐCV
523.375.001
111.412.528
3.184.207
198446.22301/2023/HĐCV
225.148.980
47.625.943
1.368.685
Thẻ tín dụng
48.173.968
24.919.400
1.400.000
Tổng cộng
796.697.949
183.957.871
5.952.893
Do đó, Ngân hàng TMCP HH khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
BMT (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk) giải quyết các vấn đề sau:
Buộc ông Đỗ Hồng T có nghĩa vụ thanh toán cho MSB toàn bộ dư nợ gốc và
lãi vay theo Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số: 196680.19254/2023/HĐCV
ngày 15/12/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số:
198446.22301/2023/HĐCV, ngày 29/12/2023; Khoản thẻ tín dụng theo Đơn đề nghị
cấp tín dụng kiêm phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/11/2023 đã ký giữa
MSB – Chi nhánh Đăk Lăk với ông Đỗ Hồng T. Tổng số tiền tạm tính đến ngày
12/05/2026 là 986.608.124 đồng (Chín trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm lẻ tám ngàn
một trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc là 796.697.949 đồng; Nợ lãi là
183.957.871 đồng; Nợ lãi quá hạn/Phí là 5.952.893 đồng.
Kể từ ngày 13/05/2026, ông Đỗ Hồng T còn phải chịu lãi suất phát sinh trên dư
nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay, Hợp
đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong trường hợp ông Đỗ Hồng T không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ
dư nợ nêu trên, thì MSB được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho MSB, cụ thể là:
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 18, diện tích 1145,3m2, tại
địa chỉ: Xã NK, huyện L1, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DM 213178, vào sổ cấp GCN:
VP00192 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2023 cập nhật
chuyển nhượng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023. Theo Hợp đồng thế chấp số
5254850, số công chứng 010496, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
15/12/2023 tại Văn phòng công chứng ĐL. Địa chỉ: 121-123 YJ, phường TN, thành
phố BMT, tỉnh Đăk Lăk. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định của pháp luật.
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 18, diện tích 542,6m2, tại
địa chỉ: Xã NK, huyện L1, tỉnh Đăk Lăk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DM 213185, vào sổ cấp GCN:
VP00191 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2023 cập nhật
5
chuyển nhượng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023. Theo Hợp đồng thế chấp số
29.12/2023, số công chứng 010986, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
29/12/2023 tại Văn phòng công chứng ĐL. Địa chỉ: 121-123 YJ, phường TN, thành
phố BMT, tỉnh Đăk Lăk. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định của pháp luật.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo nêu trên được dùng
để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đỗ Hồng T đối với MSB. Nếu số tiền thu được
từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Đỗ
Hồng T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết khoản nợ cho MSB.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng TMCP HH (MSB) không đồng ý với toàn bộ yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bởi lẽ:
Việc văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của các thành viên trong hộ
gia đình ông YB vô hiệu thì Ngân hàng không biết và không buộc phải biết. Tại thời
điểm thế chấp, ông Đỗ Hồng T là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 47 và 147
cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk
Lắk) theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Đỗ
Hồng T. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, chứng thực theo đúng quy định của
pháp luật và đã được đăng ký thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo
đúng quy định của pháp luật. Ngân hàng cũng đã tiến hànHThẩm địnHThực tế tài sản
thế chấp và được ông Đỗ Hồng T xác định hiện nay đang là người trực tiếp quản lý,
sử dụng các tài sản trên đất. Do đó, Ngân hàng là người thứ ba ngay tình, cần được
bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập là ông YD trình bày: Bố mẹ ông là ông YB và bà HGr (ông
YB đã mất ngày 24/6/2023 theo Giấy chứng tử số 09/2023 ngày 06/7/2023 tại UBND
xã NK, huyện L1) có tất cả 10 người con chung gồm có:
1. Ông YD: hiện đã lập gia đình riêng và đang sinh sống tại Buôn Bu, xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk).
2. Bà HT; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK,
tỉnh Đắk Lắk)
3. Ông YQ; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK,
tỉnh Đắk Lắk)
4. Bà H Ph; địa chỉ: Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK,
tỉnh Đắk Lắk)
5. Ông Y C; địa chỉ: Buôn LK, xã ĐP, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã ĐP,
tỉnh Đắk Lắk)
6
6. Ông Y Ph; hiện đã lập gia đình riêng và đang sống tại Buôn Bu, xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
7. Ông Y Ng; hiện đã lập gia đình riêng và đang sống tại Buôn Bu, xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
8. Ông Y Lu; hiện đang sống cùng với mẹ là bà HGr tại Buôn Bu, xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
9. Ông Y L; hiện đang sống cùng với mẹ là bà HGr Buôn Bu, xã NK, huyện
L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
10. H N; sinh năm: 2013; hiện đang sống cùng với mẹ là bà HGr tại Buôn Bu,
xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5 tại Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSD đất số R 580 826 do UBND huyện KN,
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 là tài sản chung của cha mẹ.
Năm 2012, tôi kết hôn và tách khẩu ra khỏi hộ ông YB. Tháng 6/2023 bố tôi
mất không để lại di chúc. Tài sản của bố mẹ tôi vẫn do mẹ tôi và các anh chị em quản
lý ổn địnHTừ đó đến nay, không có ai tranh chấp.
Quá trình làm việc tại Tòa án mới được biết, ngày 25/7/2023, em trai là Y C đã
được chỉnh lý biến động chủ sử dụng đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5 tại Buôn
Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSD đất
số R 580 826, việc chỉnh lý biến động được dựa trên Văn bản phân chia di sản thừa
kế đề ngày 13/7/2023 được chứng thực tại UBND xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk.
Tôi là hàng thừa kế thứ nhất của ông YB, nhưng tôi không hề biết và cũng
không ký vào Văn bản phân chia di sản thừa kế đề ngày 13/7/2023 với nội dung để
lại toàn bộ diện tích đất, tài sản trên đất cho ông Y C. Tôi không đồng ý với nội dung
của văn bản nói trên vì theo phong tục tập quán của người dân tộc MnôngT sau khi
bố mẹ mất, tài sản sẽ được chia cho con gái, chứ không chia cho con trai
Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của mình cũng như cho các thành viên của gia đình, tôi khởi kiện độc
lập đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk giải quyết các vấn đề sau: - Tuyên
nội dung văn bản phân chia di sản thừa kế đề ngày 13/7/2023 được chứng thực tại
UBND xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là UBND xã NK, tỉnh Đắk Lắk) vô hiệu.
- Tuyên hủy nội dung chỉnh lý biến động chủ sử dụng cho ông Y C trên
GCNQSD đất số R 580 826 do UBND huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000
cho hộ ông YB, hủy các GCNQSD đất số DM 213178 và DM 213185 do Văn phòng
Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày 29/9/2023 cho ông Y C (được chỉnh lý
biến động sang tên chủ sử dụng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023).
7
Tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên giữa ông
Đỗ Hồng T với Ngân hàng TMCP HH là vô hiệu.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH đối với ông Đỗ Hồng T
về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Y C
trình bày:
Ông là con của ông YB và bà HGr (Bố tôi là YB đã mất). Bố mẹ tôi có tất cả
10 người con chung như YD đã trình bày.
Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5 tại Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSD đất số R 580 826 do UBND huyện KN,
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 là tài sản chung của bố mẹ ông.
Sau khi bố mất, không để lại di chúc. Trước đó, ông có vay tiền của một người
đàn ông tên là Nguyễn Ngọc N ở BMT (địa chỉ cụ thể ở đâu thì ông không được
biết). Sau đó ông N có hướng dẫn ông là làm tục sang tên GCNQSD đất từ hộ ông
YB sang tên tôi để làm thủ tục vay vốn ngân hàng để có tiền trả cho ông N.
Do ông không biết chữ, nên toàn bộ hồ sơ giấy tờ đều do ông N làm. Sau đó
ông N có yêu cầu ông gọi mẹ và các anh chị em lên UBND xã lên để ký giấy tờ. Khi
đó chị gái là HT và em trai là YD đi làm xa, không có ở nhà nên không biết và không
đến ký, cũng vì không biết chữ nên ông N nói ông ký chỗ nào thì ông ký vào chỗ đó,
còn nội dung của các văn bản là gì thì ông hoàn toàn không được biết.
Sau khi sang được tên GCNQSD đất thì ông N lại nói là không vay được Ngân
hàng nên đã giới thiệu cho ông vay tiền của bà Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1991; địa
chỉ: Tổ dân phố 5, phường Tân Lập, thành phố BMT để lấy tiền trả cho ông N.
Vào khoảng tháng 10 năm 2023, ông có vay của bà Nguyễn Thị L2 số tiền
300.000.000 đồng. Sau đó bà L2 có tính cả gốc và lãi thành 418.000.000 đồng. Để
vay tiền, ông có đưa bà L2 GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số DM 213178 và GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số DM 213185 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng
ngày 29/9/2023 cho ông (ông Y C). Sau đó bà L2 có viết giấy thế chấp và yêu cầu
ông cùng vợ là H Wen Đăk Cắt ký tên, điểm chỉ. Do không biết chữ nên khi bà L2
yêu cầu ký tên và điểm chỉ thì ông và vợ cùng làm theo, còn nội dung cụ thể như thế
nào thì ông không hiểu.
Sau đó, bà L2 có nói ông lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Đỗ Hồng T để làm tin và nói khi nào ông có tiền trả cho bà L2 thì ông T sẽ sang
tên lại cho ông. Do tin tưởng bà L2 và do không hiểu biết pháp luật nên ông đã ký
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Hồng T, còn nội dung cụ
thể như thế nào ông không được biết.
8
Ông xác định, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Hồng T chỉ
là hìnHThức để cấn trừ số tiền đã vay cho bà Nguyễn Thị L2, còn ông Đỗ Hồng T là
ai thì ông không biết. Trên thực tế, ông chưa bàn giao đất cho ông Đỗ Hồng T, thửa
đất số 47, tờ bản đồ số 18 vẫn do mẹ là bà HGr, anHTrai là YQ và chị gái là HT quản
lý, sử dụng từ trước đến nay. Còn thửa đất số 147, tờ bản đồ số 18 vẫn do ông YDo
và bà HLô quản lý, sử dụng.
Đến khi Tòa án nhân dân thành phố BMT (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 –
tỉnh Đắk Lắk) xuống xem xét, thẩm định tại chỗ, ông mới được biết ông T đã thế
chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất 47 và thửa đất số 147, cùng tờ bản đồ số 18
theo GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM
213178 và GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM
213185 cho Ngân hàng TMCP HH.
Nay Ngân hàng khởi kiện ông Đỗ Hồng T yêu cầu trả tiền và xử lý tài sản bảo
đảm là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 47 và thửa đất số 147, cùng tờ bản đồ số
18 theo GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM
213178 và GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM
213185 thì ông không đồng ý. Đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp giữa ông Đỗ
Hồng T với Ngân hàng là vô hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà HT, ông YQ, bà H Ph, ông Y Ph, ông Y Ng, ông Y Lu, ông Y L; sinh năm
2009, bà H N; sinh năm: 2013, bà HGr (bà HGr đồng thời là người đại diện hợp pháp
của ông Y L bà bà H N) TN như ý kiến của ông YQ trình bày như sau:
Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5 tại Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk
(nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSD đất số R 580 826 do UBND huyện KN,
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 là tài sản chung của bố mẹ là ông YB và bà HGr.
Khoảng năm 2010, bà HT (là con gái lớn trong nhà) lập gia đìnHThì bố mẹ đã
cho bà HT một phần diện tícHThuộc thửa đất nói trên để làm nhà ra ở riêng. Việc cho
đất chỉ nói bằng miệng, không lập thành văn bản, bà HT đã dựng nhà và ở ổn địnHTừ
đó đến nay (là căn nhà thứ 4 trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ).
Năm 2023, Bố chúng tôi mất không để lại di chúc thì mẹ tôi và một số anh chị
em vẫn sinh sống ổn địnHTrên diện tích đất đó, không tranh chấp với ai.
Quá trình làm việc tại Tòa án, chúng tôi mới được biết, ngày 25/7/2023, ông Y
C đã được chỉnh lý biến động chủ sử dụng đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5 tại
Buôn Bu, xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) theo
GCNQSD đất số R 580 826, việc chỉnh lý biến động được dựa trên Văn bản phân
chia di sản thừa kế đề ngày 13/7/2023 được chứng thực tại UBND xã NK, huyện L1,
tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, ông Y C đã tách diện tích đất nói trên thành 02 thửa là 47 và
147, cùng tờ bản đồ số 18, sau đó ông Y C đã chuyển nhượng diện tích đất nói trên
cho ông Đỗ Hồng T.
9
Chúng tôi xác định, từ trước đến nay, gia đình chúng tôi chỉ trực tiếp quản lý,
sử dụng đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 18. Còn thửa đất số 147, tờ bản đồ số 18
là do ông YDo và bà HLô trực tiếp quản lý, sử dụng không có bất kỳ tranh chấp nào,
cũng không có ai đến yêu cầu gia đình chúng tôi phải giao đất.
Đối với văn bản phân chia di sản thừa kế đề ngày 13/7/2023, chúng tôi xác
định, khi ông YB mất, hàng thừa kế thứ nhất của ông YB gồm 11 người, tuy nhiên,
văn bản phân chia di sản thừa kế chỉ có 09 người ký tên, điểm chỉ, không có chữ ký
của ông YD và bà bà HT là không đúng quy định.
Bà HT cũng không đồng ý với nội dung của Văn bản phân chia di sản thừa kế
nói trên vì theo phong tục tập quán của người dân tộc MnôngT sau khi bố mẹ mất, tài
sản sẽ được chia cho con gái, chứ không chia cho con trai, mặt khác, trên đất cũng đã
có nhà do bà HT xây và ở ổn định.
Đối với 09 người có ký tên trong Biên bản phân chia di sản thừa kế đều xác
định: Chỉ ký và điểm chỉ tại trang số 3 trong Văn bản phân chia di sản thừa kế là chữ
viết và điểm chỉ của mình. Tuy nhiên, những người này không hề được đọc và được
biết về nội dung văn bản.
Đối với chữ ký đứng tên YQ tại mục những người thừa kế không phải là chữ ký
của ông và ông không biết và không ký vào văn bản này. Tuy nhiên, do hiện nay ông
YD đang có yêu cầu độc lập đề nghị tuyên hủy văn bản nói trên vì lý do thiếu người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông YB nên ông không có yêu cầu Tòa án tiến
hànHTrưng cầu giám định chữ ký này.
Đối với yêu cầu độc lập của ông YD cũng là ý kiến của chúng tôi. Đề nghị Tòa
án xem xét, giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông YD.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH đối với ông Đỗ Hồng T,
chúng tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bà HLô trình bày: Bà là hàng xóm
của gia đình bà HGr.
- Ngày 10/12/2000 Uỷ ban nhân dân huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp cho hộ HLô
diện tích đất 2425m
2
, thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 05, tại xã NK, huyện KN,
tỉnh Đắk Lắk. Theo giấy chứng nhận QSD đất số R 580815. Gia đình bà trực tiếp
quản lý, sử dụng, xây nhà và canh tác đất từ đó đến nay không tranh chấp với ai.
- Việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cấp giấy chứng nhận QSD
đất số DM 213185, cấp ngày 29/9/2023 mang tên cho Y C chồng lên đất của bà (và
một phần chồng lên đất YD) bà hoàn toàn không biết. Tới khi Tòa án nhân dân thành
phố BMT đến xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp của ông Đỗ Hồng T
(nguồn gốc là ông YC chuyển nhượng cho ông T) thì bà mới biết Văn phòng đăng ký
đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận QSD đất số DM 213185, cấp ngày
29/9/2023 mang tên cho YC là cấp vào phần đất của gia đình bà (diện tích đất 2425m2,
10
thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 05, tại xã NK, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk. Theo giấy
chứng nhận QSD đất số R 580815) và khi đó bà mới biết thửa đất số 28, tờ bản đồ số
05, tại xã NK, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận QSD đất số R 580815
của gia đình bà nay là thửa số 147, tờ bản đồ số 18, tại xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk.
- Đối với việc ông Đỗ Hồng T vay tiền Ngân hàng, nay Ngân hàng khởi kiện
yêu cầu ông T trả tiền thì bà không có liên quan. Trong trường hợp xử lý tài sản đã
thế chấp (là diện tích đất đã cấp bìa đỏ nhầm lên phần đất của bà), thì bà không đồng
ý vì đây là tài sản của gia đình quản lý, sử dụng từ năm 1990 cho đến nay không tranh
chấp với ai và cũng đã được cấp giấy CNQSD đất cho hộ gia đình bà không liên quan
gì đến việc tranh chấp của Ngân hàng với ông Đỗ Hồng T và ông YC.
Việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cấp giấy chứng nhận QSD
đất số DM 213185, cấp ngày 29/9/2023 mang tên cho YC chồng lên đất của bà thì đề
nghị Tòa án hủy GCNQSD đất nói trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia
đình bà. ĐâYChỉ là ý kiến để Tòa án xem xét, ngoài ra bà không có yêu cầu khởi kiện
độc lập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông YDo trình bày: Ông là hàng xóm của
gia đình bà HGr.
- Ngày 10/12/2000 Uỷ ban nhân dân huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp cho hộ YB
Byă (là bố vợ) diện tích đất 560m
2
, thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 05, tại xã NK,
huyện KN, tỉnh Đắk Lắk. Theo giấy chứng nhận QSD đất số R 580828.
- Đến năm 2007, ông lập gia đình với chị HT (là con của ông YB Byă). Theo
phong tục của người đồng bào MnôngT là con gái út trong gia đình được thụ thưởng
các quyền có liên quan đến tài sản, nên bố mẹ vợ tặng cho lại diện tích đất trên cho
vợ chồng con gái út vào năm 2007. Vì là người trong gia đình nên việc tặng cho
không làm văn bản gì nhưng ông YB Byă đã giao lại giấy chứng nhận QSD đất số R
580828 bản gốc cho vợ chồng ông giữ và nhận đất, quản lý, canHTác, sử dụng từ đó
đến nay. Sau khi nhận tặng cho, vợ chồng ông đã xây dựng 02 căn nhà và trồng cà
phê (Bố vợ ông đã chết khoảng năm 2020).
- Đến năm 2016 ông có liên hệ tới Uỷ ban nhân dân xã NK, huyện L1 để làm
thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng. Nhưng Uỷ ban
xã trả lời bằng miệng là chưa có chủ trương. Vì vậy, từ đó đến nay vợ chồng ông
chưa làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy vẫn đứng tên hộ YB Byă.
Nhưng trên thực tế vợ chồng ông vẫn đang quản lý, sử dụng ổn định.
- Việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cấp giấy chứng nhận QSD
đất số DM 213185, cấp ngày 29/9/2023 mang tên cho YC chồng lên đất của ông (và
một phần chồng lên đất của HLô), ông hoàn toàn không biết. Tới khi Tòa án nhân
dân thành phố BMT đến xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp của ông
Đỗ Hồng T (nguồn gốc là ông YC chuyển nhượng cho ông T) mới biết Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận QSD đất số DM 213185, cấp ngày
11
29/9/2023 mang tên cho YC là cấp vào phần đất của vợ chồng ông (diện tích đất
560m
2
, thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 05, tại xã NK, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk.
Theo giấy chứng nhận QSD đất số R 580828), khi đó ông mới biết thửa đất số 29, tờ
bản đồ số 05, tại xã NK, huyện KN, tỉnh Đắk Lắk, theo giấy chứng nhận QSD đất số
R 580828 của gia đình ông nay là thửa số 147, tờ bản đồ số 18, tại xã NK, huyện L1,
tỉnh Đắk Lắk
- Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả tiền thì ông không có liên quan.
Trong trường hợp xử lý tài sản đã thế chấp (là diện tích đất đã cấp bìa đỏ nhầm lên
phần đất của ông), thì ông không đồng ý. Vì đó là tài sản của gia đình quản lý, sử
dụng từ năm 1987 (trước là gia đình bố vợ, sau là vợ chồng ông) cho đến nay và đã
được cấp giấy CNQSD, không có tranh chấp với ai, không liên quan gì đến việc tranh
chấp của Ngân hàng với ông Đỗ Hồng T và ông YC.
Việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cấp giấy chứng nhận QSD
đất số DM 213185, cấp ngày 29/9/2023 mang tên cho YC chồng lên đất của ông Tì
đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất nói trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
gia đình ông. Ông xác định đâYChỉ là ý kiến để Tòa án xem xét, ngoài ra không có
yêu cầu khởi kiện độc lập.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Đỗ
Hồng T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại bản n dân sự sơ thẩm số: 78/2026/DS-ST, ngày 12/5/2026 của Toà n
nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều Điều 117, 122, 123, 131, 133, 317, 609, 651 của Bộ luật Dân
sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
YD.
- Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 13/7/2023 được
chứng thực tại UBND xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
vô hiệu.
12
- Tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày
09/12/2023 giữa bên chuyển nhượng ông YC với bên nhận chuyển nhượng ông Đỗ
Hồng T đối với thửa đất số 47 và thửa đất số 147 cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk theo các GCNQSD đất lần lượt là DM 213178 và DM
213185 là vô hiệu.
- Hủy nội dung chỉnh lý biến động chủ sử dụng cho ông YC trên GCNQSD đất
số R 580 826 do UBND huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 cho hộ ông
YB, huỷ các GCNQSD đất số DM 213178 và DM 213185 do Văn phòng Đăng ký đất
đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày 29/9/2023 cho ông YC (được chỉnh lý biến động
sang tên chủ sử dụng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023)
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5254850 ngày
15/12/2023; Hợp đồng thế chấp số 29.12/2023 ngày 29/12/2023 giữa ông Đỗ Hồng T
với Ngân hàng TMCP HH vô hiệu.
Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết
hậu quả của Hợp đồng vô hiệu bằng một vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
[2]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH
Buộc ông Đỗ Hồng T phải trả cho Ngân hàng TMCP HH Tổng số tiền tính đến
ngày 12/5/2026 là: 986.608.124 đồng (Chín trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm lẻ tám
nghìn một trăm hai mươi bốn đồng), trong đó:
+ Nợ gốc là: 796.697.949 đồng
+ Lãi trong hạn: 183.957.871 đồng
+ Lãi quá hạn: 5.952.893 đồng
Kể từ ngày 13/5/2026, ông Đỗ Hồng T tiếp tục phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số:
196680.19254/2023/HĐCV ngày 15/12/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số:
198446.22301/2023/HĐCV ngày 29/12/2023; Đơn đề nghị cấp tín dụng kiêm phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/11/2023 mà các bên đã ký kết cho đến khi thanh toán
xong toàn bộ khoản vay.
[3]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH đối với yêu
cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5254850,
ngày 15/12/2023 và Hợp đồng thế chấp số 29.12/2023, ngày 29/12/2023.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định.
- Ngày 21/5/2026, nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH kháng cáo một phần nội
dung bản án dân sự sơ thẩm.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị đơn ông Đỗ Hồng T vắng mặt
13
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH (MSB)
đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên ý kiến.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thư ký, Thẩm phán và
Hội đồng xét xử tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đương sự thực
hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH
(MSB), giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định; đã nộp
tạm ứng án phí theo quy định; là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Thửa đất số 47 và 147 cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK, huyện L1, tỉnh
Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk) có nguồn gốc là được tách ra từ thửa đất số 48,
tờ bản đồ số 5, diện tích 1.625m² theo GCNQSD đất số R 580826 do UBND huyện
L1 cấp ngày 10/12/2000 cho hộ ông YB. Ngày 24/6/2023, ông YB chết, không để lại
di chúc.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông
YB có 10 người gồm: Bà HGr, ông YC, bà H Ph, ông Y Lu, ông Y Ph, ông YQ, ông
Y L, ông Y Ng và bà H N đã đến UBND xã NK lập văn bản thỏa thuận phân chia tài
sản thừa kế với nội dung: “Sau khi họp gia đình chúng tôi TN để lại toàn bộ diện tích
đất, tài sản gắn liền với đất (bao gồm tài sản thừa kế: 50% sở hữu của ông YB và 50%
của các thành viên hộ gia đình đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên
cho ông YC sinh năm 10/10/1997, số CCCD: ************, cấp ngày 22/09/2021
tại Cục cảnh sát QLHC về TTXH, hộ khẩu thường trú tại: Buôn LK, xã ĐP, huyện L1
được toàn quyền sử dụng, quản lý và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, ông YC phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính của người sử
dụng đất cho nhà nước theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ theo quy định tại Điều 609, Điều 651 của Bộ luật Dân sự, việc phân
chia di sản thừa kế phải có sự TN của tất cả những người thừa kế theo pháp luật. Tuy
nhiên, ông YD và bà HT xác định không biết và không đồng ý với nội dung văn bản
phân chia di sản thừa kế ngày 13/7/2023. Việc UBND xã NK chỉ căn cứ vào xác nhận
thông tin về nơi cư trú ngày 10/7/2023 của Công an xã NK để chứng thực Văn bản
14
phân chia di sản thừa kế ngày 13/7/2023 là bỏ sót hàng thừa kế thứ nhất của ông YB,
không bảo đảm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117
Bộ luật dân sự năm 2015; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của những người đồng
thừa kế không tham gia giao dịch.
[2.2]. Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông YD
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc hủy nội dung chỉnh lý biến
động chủ sử dụng cho ông YC trên GCNQSD đất số R 580 826 do UBND huyện KN,
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 cho hộ ông YB, huỷ các GCNQSD đất số DM
213178 và DM 213185 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày
29/9/2023 cho ông YC (được chỉnh lý biến động sang tên chủ sử dụng cho ông Đỗ
Hồng T ngày 18/10/2023). Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 13/7/2023, ngày
25/7/2023, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L1 đã chỉnh lý biến động
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.625m² theo
GCNQSD đất số R 580826 cho ông YC. Do Văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu
nên nội dung chỉnh lý biến động nói trên cũng không đúng quy định của pháp luật.
Sau khi được chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất, ông YC đã thực hiện thủ
tục tách thửa đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.625m² (trong đó có
190m² đất bị thu hồi) thành thửa đất số 47 và 147, cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk, theo các GCNQSD đất số DM 213178 và DM 213185 do
Chi phòng đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày 29/9/2023.
Sau khi thực hiện thủ tục tách thửa, ông YC không trực tiếp quản lý, sử dụng
đối với các diện tích đất nói trên, nhưng ông Chiến vẫn lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nói trên cho ông Đỗ Hồng T Sau đó, ngày 09/10/2023, ông YC đã
lập chuyển nhượng lại 02 thửa đất nàYCho ông Đỗ Hồng T. Ngày 18/10/2023, ông
Đỗ Hồng T được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L1 chỉnh lý biến động
chủ sử dụng với 02 thửa đất nói trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù các đương sự không có yêu cầu tuyên
bố đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông YC và ông Đỗ Hồng T vô hiệu
nên cần tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày
09/10/2023 giữa ông YC với ông Đỗ Hồng T đối với thửa đất số 147 và thửa đất số
47 cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk là vô hiệu, đồng thời cần
thiết phải hủy nội dung chỉnh lý biến động chủ sử dụng cho ông YC trên GCNQSD
đất số R 580 826 do UBND huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 cho hộ
ông YB, huỷ các GCNQSD đất số DM 213178 và DM 213185 do Văn phòng Đăng
ký đất đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày 29/9/2023 cho ông YC (được chỉnh lý biến
động sang tên chủ sử dụng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023).
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
chỉnh lý biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với
kết quả giải quyết của Tòa án.
15
Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, ông Đỗ
Hồng T được quyền khởi kiện ông YC bằng một vụ án khác theo quy định của pháp
luật.
Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông YD, tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
13/7/2023 vô hiệu, 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/12/2023
giữa ông YC với ông Đỗ Hồng T là vô hiệu, hủy nội dung chỉnh lý biến động chủ sử
dụng cho ông YC, tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5254850 và hợp
đồng số 29.12/2023 là vô hiệu. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP HH buộc ông Đỗ Hồng T phải trả cho Ngân hàng TMCP HH tổng số tiền tính
đến ngày 12/5/2026 là: 986.608.124 đồng (Chín trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm lẻ
tám nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH (MSB) không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo là có căn cứ nên không chấp
nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP HH (MSB); giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 78/2026/DS-ST, ngày 12/5/2026 của TAND Khu vực 1- Đắk
Lắk.
[2] Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều Điều 117, 122, 123, 131, 133, 317, 609, 651 của Bộ luật Dân
sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
YD.
16
- Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 13/7/2023 được
chứng thực tại UBND xã NK, huyện L1, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã NK, tỉnh Đắk Lắk)
vô hiệu.
- Tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày
09/12/2023 giữa bên chuyển nhượng ông YC với bên nhận chuyển nhượng ông Đỗ
Hồng T đối với thửa đất số 47 và thửa đất số 147 cùng tờ bản đồ số 18 tại xã NK,
huyện L1, tỉnh Đắk Lắk theo các GCNQSD đất lần lượt là DM 213178 và DM
213185 là vô hiệu.
- Hủy nội dung chỉnh lý biến động chủ sử dụng cho ông YC trên GCNQSD đất
số R 580 826 do UBND huyện KN, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/12/2000 cho hộ ông
YB, huỷ các GCNQSD đất số DM 213178 và DM 213185 do Văn phòng Đăng ký đất
đai tỉnh Đắk Lắk cấp cùng ngày 29/9/2023 cho ông YC (được chỉnh lý biến động
sang tên chủ sử dụng cho ông Đỗ Hồng T ngày 18/10/2023)
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
chỉnh lý biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với
kết quả giải quyết của Tòa án.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5254850 ngày
15/12/2023; Hợp đồng thế chấp số 29.12/2023 ngày 29/12/2023 giữa ông Đỗ Hồng T
với Ngân hàng TMCP HH vô hiệu.
Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết
hậu quả của Hợp đồng vô hiệu bằng một vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH.
Buộc ông Đỗ Hồng T phải trả cho Ngân hàng TMCP HH tổng số tiền tính đến
ngày 12/5/2026 là: 986.608.124 đồng (Chín trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm lẻ tám
nghìn một trăm hai mươi bốn đồng), trong đó: Nợ gốc là: 796.697.949 đồng, Lãi
trong hạn: 183.957.871 đồng và Lãi quá hạn: 5.952.893 đồng.
Kể từ ngày 13/5/2026, ông Đỗ Hồng T tiếp tục phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số:
196680.19254/2023/HĐCV, ngày 15/12/2023; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số:
198446.22301/2023/HĐCV, ngày 29/12/2023; Đơn đề nghị cấp tín dụng kiêm phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/11/2023 mà các bên đã ký kết cho đến khi thanh toán
xong toàn bộ khoản vay.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP HH đối với yêu cầu
xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5254850 ngày
15/12/2023 và Hợp đồng thế chấp số 29.12/2023 ngày 29/12/2023.
4. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Hồng T phải chịu 3.500.000 đồng tiền chi phí xem xét
17
thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng TMCP HH số tiền 3.500.000 đồng tạm ứng chi
phí tố tụng đã nộp sau khi thu được từ ông Đỗ Hồng T.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Đỗ Hồng T phải chịu 42.198.000 đồng (làm tròn số).
+ Ngân hàng TMCP HH không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại
số tiền 18.578.000 tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000729 ngày 16 tháng 01
năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk (nay là
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Đắk Lắk).
+ Ông YD không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông YD là người đồng bào
dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đã được miễn
nộp tiền tạm ứng án phí
- Về án phí DSPT: Ngân hàng TMCP HH phải chịu 300.000 đồng khấu trừ vào
số tiền đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai số: 0006645 ngày 10/6/2026 của
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Đắk Lắk.
Trường hợp bản án được thi hànHTheo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
Thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 1 - Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 453/2026/DS-PT Bản án số 453/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 453/2026/DS-PT Bản án số 453/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất