Bản án số 45/2022/HC-PT ngày 03/03/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2022/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 45/2022/HC-PT ngày 03/03/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Hà Nội
Số hiệu: 45/2022/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/03/2022
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: NKK Vũ Văn T - NBK UBND tỉnh SL
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản



Bản án số: 45/2022/HCPT
Ngày: 03/3/2022

 !"# $%&&'

()

&*%&&+%,-.%/01203&'2&45/.567
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tất Nam;
Ông Hồ Sỹ Hưng.
Thư phiên tòa7 Ông Phạm Thành Trung, Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội7 Trần Thị Minh
Ngọc, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội
xét xử công khai vụ án hành chính thụ số 592/2020/TLPT-HC ngày 19 tháng
11 năm 2020, về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản đất
đai, do kháng cáo của người khởi kiện, người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đối với Bản án hành chính thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 07 tháng 9
năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh SL.
Theo Quyết định đưa v án ra t xử số 1335/2022/-PT ngày 17
tháng 02 m 2022 của Tòa án nhân n cấp cao tại Nội, vụ án có các
đương s sau:
1. Người khởi kiện: Ông VT(Vũ TT), sinh m 1988; địa chỉ: Thôn TY 1,
PK, huyện YC, tỉnh SL; vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của anh VT: Ông ĐC; địa chỉ: Bản KC III,
PK, huyện YC, tỉnh SL (Giấy uỷ quyền tháng 02/2022); mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh VT: Ông NVĐ ông
BVĐ- Luật sư Văn phòng luật Trường Phúc thuộc đoàn luật thành phố Hà
Nội; có mặt.
2. Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân huyện YC, tỉnh SL;
Chủ tịch Ủy nhân dân huyện YC, tỉnh SL;
Đại diện theo pháp luật: Ông LVC - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND)
huyện YC;
Đại diện theo uỷ quyền: ÔngHP - Phó chủ tịch UBND huyện YC (Giấy
uỷ quyền ngày 02/3/2022); mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông ĐC Đồng TB; địa chỉ: Thôn TY 1, PK, huyện YC, tỉnh
SL; mặt.
- Ủy ban nhân dân xã PK, huyện YC, tỉnh SL;
- Chủ tịch UBND xã PK, huyện YC;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng VC - Chủ tịch UBND PK;
vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
897
Theo người khởi kiện anh Thanh VT; người đại diện theo ủy quyền
ông Vũ ĐC trình bày:
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước về việc đi xây
dựng vùng kinh tế mới, năm 1974, gia đình ông ĐC từ ĐH, huyện KĐ, tỉnh
Hưng Yên lên khai hoang xây dựng kinh tế tại thôn KC III, PK, huyện
YC, tỉnh SL. Năm 1978, ông ĐC đã khai hoang khu bãi sậy giáp mặt đường
tỉnh lộ 103 để làm kinh tế; đến năm 1980, Hợp tác KC san ủi khu đất để làm
ao bác Hồ giáp với đất gia đình ông ĐC khai hoang. Năm 1992, ông ĐC đã
tiến hành san ủi đất để xây dựng nhà ở, đồng thời nhận thầu ao từ năm 1994
cho đến năm 2004. Năm 2003, gia đình ông ĐC đã làm đơn xin UBND huyện
YC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Ngày 16/01/2004,
gia đình ông ĐC được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện YC cấp GCNQSDĐ
mang tên VT(Vũ Thanh VT) với diện tích 355m
2
đất tại cụm PK, huyện
YC, tỉnh SL.
Năm 2012, Đoàn thanh tra của UBND huyện YC đến thẩm tra về đất đai
tại PK xác định khu đất của gia đình ông ĐC đang sử dụng thuộc quy
hoạch khuôn viên cây xanh từ năm 2001. Nhưng anh VT gia đình ông ĐC
không chấp nhận kết luận của Thanh tra vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất đó
cho đến nay.
Ngày 07/9/2012, UBND huyện YC ban hành Quyết định số 1362/QĐ-
UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ của anh VT; anh VT gia đình ông ĐC
2
không nhất trí và không nộp lại GCNQSDĐ cho UBND huyện YC.
Tháng 6/2017, gia đình ông ĐC nhận được Thông báo số 81/TB-UBND
ngày 08/6/2017 về việc hủy GCNQSDĐ số V86715 mang tên VTtại thôn
KC III, PK, huyện YC, tỉnh SL. Khi đó, gia đình ông ĐC đang đào móng để
xây nhà.
Do không nhất trí với quyết định thông báo của UBND huyện YC về
việc thu hồi GCNQSDĐ nên anh VT đã khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải
quyết các nội dung sau:
1. Yêu cầu hủy Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày 07/9/2012 của
UBND huyện YC.
2. Yêu cầu hủy Thông báo hủy GCNQSDĐ số 81/TB-UBND ngày
08/6/2017 của UBND huyện YC.
3. Yêu cầu UBND huyện YC phải bồi thường 02 tấn xi măng trị giá
2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) do UBND huyện YC không cho
gia đình ông ĐC xây nhà dẫn đến xi măng bị ngập nước.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông ĐC Đồng TB: Nhất
trí với quan điểm, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Theo ý kiến của người bị kiện UBND huyện YC, Chủ tịch UBND huyện
YC trình bày:
Năm 2012, qua ý kiến của nhân dân bản Kim Chung, UBND huyện YC
đã thành lập đoàn kiểm tra về việc lập hồ sơ giao đất, cấp GCNQSDĐ đối với hộ
anh Văn VT. Trên sở kết luận kiểm tra, thấy rằng việc giao đất cấp
GCNQSDĐ cho anh VT không đúng quy định của pháp luật. Do đó, ngày
07/9/2012, UBND huyện YC đã ban hành Quyết định số 1362/QĐ-UBND về
việc thu hồi GCNQSDĐ số V867152 mang tên VTtại bản KC III, PK,
huyện YC, tỉnh SL. Cùng với đó, UBND huyện YC đã tiến hành tuyên truyền,
vận động đề xuất bố trí cho hộ anh VT một vị trí đất khác, đồng thời yêu
cầu gia đình anh VT phải tuân thủ Quyết định thu hồi GCNQSDĐ của UBND
huyện YC. Tuy nhiên, gia đình anh VT ông ĐC không nhất trí với diện tích
đất UBND huyện YC đã bố trí nên vẫn xây dựng nhà trên diện tích đất
đó.
Ngày 16/3/2017, UBND PK đã ban hành Quyết định đình chỉ số
35/QĐ-UBND về việc chấm dứt xây dựng công trình trái phép trên đất thu hồi
của hộ gia đình anh VT. Tuy nhiên, sau khi có quyết định đình chỉ xây dựng của
UBND xã PK, gia đình ông ĐC vẫn cố tình xây dựng nhà ở trên diện tích đất bị
thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 31/3/2017, UBND huyện YC đã ban hành Thông báo số 38/TB-
UBND về việc yêu cầu gia đình anh VT nộp lại GCNQSDĐ đã bị thu hồi. Do
3
gia đình không chịu giao nộp nên ngày 08/6/2017, UBND huyện YC đã ban
hành Thông báo số 81/TB-UBND về việc hủy GCNQSDĐ số V 867152 đã cấp
cho anh VT.
UBND huyện YC ban hành các quyết định thông báo nêu trên hoàn
toàn đúng quy định của pháp luật bởi lẽ:
Diện tích đất mà gia đình anh VT được cấp có nguồn gốc là đất 5% của
PK quản lý, trên diện tích đất này ao Bác Hồ do HTX KC quản cho
ông ĐC thuê thầu. Quá trình thuê thầu ao cá, ông ĐC dựng một gian nhà gỗ
để sử dụng trông coi tài sản. Năm 2004, thực hiện chủ trương cấp
GCNQSDĐ cho các hộ tại Trung tâm PK, HTX KC đã hợp thức hóa đất
bằng cách lập hồ cho tặng từ ông ĐC sang cho con trai anh VT; trong khi
ông ĐC không có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất được cấp.
Việc giao đất lập hồ cấp GCNQSDĐ giữa ông ĐC sang cho anh
VT không đúng quy định của Luật đất đai 2003.
Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 25 của Nghị định 88/2009/NĐ-
CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ thì “trường hợp quan Nhà nước thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận tự kiểm tra phát hiện giấy chứng nhận đã cấp
trái pháp luật thì trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới quan thanh tra
cùng cấp để thẩm tra…. Nếu qua thẩm tra kết luận giấy chứng nhận cấp
trái pháp luật thì quan Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận ra quyết định thu
hồi giấy chứng nhận đã cấp”.
Do gia đình anh VT, ông ĐC gia đình chính sách, diện ch đất bị thu
hồi nơi duy nhất của gia đình nên UBND huyện YC sẽ bố trí cho gia đình
anh VT một đất khác thuộc vị trí 2 đường Quốc lộ 6C diện tích 294m
2
,
phải nộp tiền sử dụng đất. UBND huyện YC nhất trí hỗ trợ cho gia đình anh VT
69.572.500 đồng tài sản trên đất số tiền trên sẽ được hoàn thiện bằng hồ
hỗ trợ và phương án hỗ trợ tài sản thiệt hại trên đất. Việc ông ĐC không nhất trí
với diện tích đất mà UBND huyện YC đã bố trí, đồng thời cố tình xây dựng nhà
trên diện tích đất bị thu hồi hoàn toàn do lỗi của gia đình ông ĐC . Tuy nhiên,
sau nhiều lần làm việc, đối thoại, gia đình anh VT vẫn không nhất trí với diện
tích đất UBND huyện YC đã bố trí, đồng thời cố tình xây dựng nhà trên đất bị
thu hồi. Từ những căn cứ trên, UBND huyện YC không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của anh Vũ Văn VT.
Tại Bản án hành chính thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 07/9/2020 của
Tòa án nhân dân tỉnh SL, Quyết định:
Căn cứ vào Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1
Điều 348, khoản 1 Điều 366 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 6, Điều 15,
Điều 29 Luật Đất đai 2003; Điều 208 Luật đất đai 2013; khoản 2 Điều 3 Nghị
4
định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ về thi hành luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của luật đất đai; Điểm b khoản 2 Điều 25 Nghị định
88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định về cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất; Điều 17 Nghị định
180/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị; khoản 1, khoản
6 Điều 32 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Bác yêu cầu khởi kiện của anh VT(Vũ Thanh VT) về việc hủy bỏ
Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày 03/8/2012 về việc thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình anh Văn VT, bản KC III, PK,
huyện YC, tỉnh SL Thông báo số 81/TB-UBND ngày 08/6/2017 về việc hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện YC, tỉnh SL.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh VT(Vũ Thanh VT) về
việc buộc UBND huyện YC phải bồi thường 02 tấn xi măng trị giá 2.400.000
đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí hành chính
thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 10/9/2020, ông ĐC người quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 19/9/2020, ông ĐC người đại diện theo uỷ quyền của anh
VTcó đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông ĐC các luật bảo vệ quyền lợi cho anh VTđề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông ĐC sửa quyết định của
bản án sơ thẩm, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của anh VT.
Ông HP đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét
xử bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội nêu quan điểm giải
quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241
Luật tố tụng hành chính bác kháng cáo của ông ĐC, giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm.
:;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến tranh tụng của
các đương sự, ý kiến của luật sư, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử phúc thẩm có nhận định sau:
5
[1]. Về tố tụng: Ngày 02/10/2017, anh VTcó đơn khởi kiện khởi
kiện bổ sung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh SL hủy Thông báo số 81/TB-UBND
ngày 08/6/2017 của UBND huyện YC về việc hủy GCNQSDĐ đã cấp cho anh
VT; hủy Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày 07/9/2012 của UBND huyện YC
về việc thu hồi GCNQSDĐ số V867152 của anh VT đồng thời yêu cầu
UBND huyện YC bồi thường thiệt hại 2 tấn xi măng bị hỏng trị giá
2.400.000đ. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân
dân tỉnh SL thụ lý, giải quyết theo quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật
tố tụng hành chính.
[2]. Xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày
07/9/2012 Thông báo số 81/TB-UBND ngày 08/6/2017 của UBND huyện
YC:
[2.1]. Về thẩm quyền, trình tự ban hành: UBND huyện YC sau khi nhận
được đơn phản ánh đã thành lập đoàn thanh tra xác minh thẩm định lại việc cấp
GCNQSDĐ, sau khi kết luận thanh tra, UBND huyện YC đã ban hành Quyết
định số 1362/QĐ-UBND ngày 07/9/2012 về việc thu hồi GCNQSDĐ của anh
VT. Sau đó, UBND huyện YC đã ra thông báo về việc nộp lại GCNQSDĐ
nhưng anh VT không giao nộp nên UBND huyện YC đã ban hành Thông báo số
81/TB-UBND ngày 08/6/2017 về việc hủy bỏ GCNQSĐ của anh VT. Thẩm
quyền, trình tự ban hành quyết định thông báo của UBND huyện YC đúng
quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày
19/10/2009 của Chính phủ.
[2.2]. Về nội dung của Quyết định số 1362/QĐ-UBND Thông báo số
81/TB-UBND: Ngày 28/9/2003, ông ĐC đã lập Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho con trai anh VTvới diện ch 355m
2
đất. Ngày
16/01/2004, anh VT được UBND huyện YC cấp GCNQSDĐ số V 867152 thửa
số 457, 476 tờ bản đồ số 1 với diện tích 355m
2
đất (trong đó có 200m
2
đất thổ cư
154,6m
2
đất vườn) tại cụm PK, huyện YC, tỉnh SL. Thời điểm anh VT
được cấp GCNQSDĐ này khu vực trung tâm cụm PK đã quyết định phê
duyệt của UBND tỉnh SL phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm cụm
xã, cụ thể Quyết định số 3514/QĐ-UB ngày 13/12/2001 của UBND tỉnh SL.
Mặc trong quyết định không nêu cụ thể, chi tiết, song đối chiếu với bản đồ
quy hoạch sử dụng đất tỉ lệ 1/1.500 Trung tâm cụmPK, huyện YC (kèm theo
quyết định) thấy rằng vị trí đất anh VT được cấp GCNQSDĐ đã được quy hoạch
là đất công viên cây xanh. Do đó, đây không phải là đất ở ổn định, theo quy định
tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 của
Chính phủ thì đất nằm trong quy hoạch không được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
6
Diện tích đất trên không phải đất ổn định, đất đã được quy hoạch chi
tiết sử dụng vào đất khuôn viên cây xanh, việc UBND PK Phòng Tài
nguyên Môi trường thực hiện lập hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trái với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 Luật đất đai (điều kiện chuyển
nhượng); thửa đất số 457, 476 tờ bản đồ số 1 đất 5% do UBND PK quản
lý, ĐC a được cấp quyền sử dụng đất cho hộ ông ĐC . Quá trình xem xét thực
địa hiện nay thấy rằng đất anh VT đang sử dụng được xác định liền kề với đất
5% của xã PK (trước đây là ao cá Bác Hồ do Hợp tác xã KC quản lý, có cho ông
ĐC nhận thầu từ năm 1994 -2004).
Mặt khác, theo ông Nguyễn Văn Ban (nguyên trưởng bản KC giai đoạn
trước năm 2005), ông Trần Văn Vĩnh (nguyên kết toán HTX Kim Chung), ông
Xuân Tứ (nguyên thư chi bộ bản Kim Chung) đều thể hiện nguồn gốc đất
đất 5% của xã, sau được đào thành ao, giao cho HTX KC quản lý, sau này
ông ĐC có thuê thầu ao của Hợp tác xã; việc cấp GCNQSDĐ trên mảnh đất ông
ĐC thuê thầu do chính quyền bản làm trái quy định, mục đích để lấy tiền xây
nhà văn hóa bản, ông Ban còn cho biết phần đất ao cho ông ĐC thuê một
phần đất trống, ông ĐC đã san lấp, tu sửa, đắp lại khoảng đất đó để làm nhà.
Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, UBND huyện YC, UBND PK
không còn lưu giữ các tài liệu giấy tờ liên quan đến việc xác định vị trí cụ thể
diện tích đất 5% của xã, việc thuê thầu giữa ông ĐC HTX Kim Chung. Tuy
nhiên, ngay sau khi Kết luận thanh tra số 1323/KL-UBND ngày 03/8/2012
của UBND huyện YC Quyết định số 1362/QĐ-UBND của UBND huyện YC
thì tại Biên bản kiểm tài sản trên đất thu hồi của gia đình anh VT lập hồi 10
giờ 30 phút ngày 18/9/2012 sự tham gia của Chủ tịch UBND PK, Phòng
Tài nguyên Môi trường huyện YC, ông ĐC anh VT; sau khi được nghe
thông qua Kết luận thanh tra số 1323/KL-UBND, Quyết định số 1362/QĐ-
UBND của UBND huyện YC, ông ĐC đã ý kiến: Đồng ý với kết luận của
thanh tra yêu cầu cấp đất cho gia đình vị trí mới tương xứng với đất đang
sử dụng (ông ĐC trực tiếp tên vào biên bản). Như vậy, thể thấy rằng ông
ĐC hoàn toàn đồng ý với kết luận thanh tra liên quan đến nguồn gốc đất xác
định là đất 5% do UBND xã PK quản lý.
Do đó, căn cứ xác định diện tích đất anh VT được cấp GCNQSDĐ
đất 5% của PK. UBND huyện YC cấp GCNQSDĐ số V867152 cho anh VT
ngày 16/01/2004 trái với quy định của Luật đất đai. UBND huyện YC ban
hành Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày 07/9/2012 thu hồi GCNQSDĐ của
anh VT Thông báo số 81/TB-UBND ngày 08/6/2017 hủy bỏ GCNQSĐ của
anh VT căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp thẩm đã bác
yêu cầu khởi kiện của anh VT căn cứ; Hội đồng xét xử phúc thẩm không
7
chấp nhận kháng cáo hủy Quyết định số 1362/QĐ-UBND Thông báo số
81/TB-UBND.
[3]. Đối với yêu cầu của người khởi kiện buộc UBND huyện YC phải bồi
thường thiệt hại 02 tấn xi măng bị hỏng do không được xây dựng tr giá
2.400.000đ: Sự việc gia đình anh VT mua 2 tấn xi măng về để xây dựng công
trình kiến trúc thật, tuy nhiên thời điểm mua 2 tấn xi măng trên vào đầu
tháng 3/2017. Tại thời điểm nêu trên, quyết định thu hồi GCNQSDĐ đối với anh
VT đã hiệu lực pháp luật; do đó, anh VT gia đình ông ĐC không
quyền xây dựng các công trình trên đất bị thu hồi. Do anh VT vẫn cố tình thực
hiện, nên ngày 16/3/2017 UBND PK đã ban hành Quyết định đình chỉ số
35/QĐ-UBND về việc chấm dứt xây dựng công trình trái phép trên đất thu hồi
của anh VT Thông báo số 01/TB-UBND ngày 16/3/2017 về việc cấm các
phương tiện vận tải, máy xúc, máy ủi, người lao động chuyên chở vật liệu xây
dựng, đào xúc, thi công công trình trên diện tích đất đã quyết định thu hồi
giấy chứng nhận. Việc ban hành các quyết định hành chính nói trên của UBND
PK đúng thẩm quyền, đúng quy định tại Điều 17 Nghị định số
180/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật xây dựng về xử vi phạm trật tự xây dựng đô thị, Điều 208 Luật
đất đai 2013. Thiệt hại được xác định do lỗi của anh VT gia đình ông ĐC .
Tòa án cấpthẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại 2 tấn xi măng
của anh VT căn cứ; Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
yêu cầu bồi thường thiệt hại 2 tấn xi măng của anh VT.
[4]. V án p: Do kháng o không được chp nhận n anh
VTphi chịu án phí hành cnh phúc thm. Tại phiên tòa pc thẩm ông Vũ
ĐC đề ngh xem t miễn án p hành cnh phúc thẩm vì ông là người cao
tui; theo quy định tại điểm đ khon 1 Điều 12 Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 ca y ban Tng v Quc hi
quy định về án p, l phí Tòa án thì ông ĐC đưc miễn án phí nh chính
phúc thm.
các lẽ trên,
<8=>;7
n cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ
Quc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
8
Không chấp nhận kháng cáo của anh VTvà ông ĐC; giữ nguyên
quyết định của Bản án hành chính thẩm số 06/2020/HC-ST ngày 07/9/2020
của Tòa án nhân dân tỉnh SL.
Về án phí: Anh VTphải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc
thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng theo Biên lai số 0000117 ngày
15/9/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh SL. Ông ĐC không phải chịu án
phí hành chính phúc thẩm.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-VKSND cấp cao tại Hà Nội;
-TAND tỉnh SL;
-VKSND tỉnh SL;
- Cục THADS tỉnh SL;
-Các đương sự;
-Lưu hồ sơ vụ án, TANDCC HN.
?@ABCD
D EF
GH&I&'JKL%&
D
.MNO%//PJQ%R2S5
D EF
GH&I&'JKL%&
9
Tải về
Bản án số 45/2022/HC-PT Bản án số 45/2022/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất