Bản án số 45/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 45/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 45/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 45/2021/HNGĐ-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Chợ Mới (TAND tỉnh An Giang) |
| Số hiệu: | 45/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/02/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Lê Thị D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Bá H, yêu cầu được nuôi con chung, nợ chung, tài sản chung không có |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 45/2021/HNGĐ-ST
Ngày:
02-02-2021
V/v tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đào Thị Thu Vân;
2. Bà Đặng Thị Kim Xuyến.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà
Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 677/2020/TLST-HNGĐ ngày 08
tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 28/2021/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện
C, tỉnh An Giang; có mặt
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện
C, tỉnh An Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà
Lê Thị D trình bày: Bà và ông Nguyễn Bá H tự nguyện chung sống với nhau năm
2012, hôn nhân do hai bên tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống, bà và ông
H sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân
2
do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung. Bà và ông
H ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy,
bà Lê Thị D xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên
ông yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Bá H.
Về con chung: Bà và ông H có 01 (một) con chung tên Nguyễn Dư H, sinh
ngày 3/5/2015, hiện cháu H do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà D yêu
cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu ông H cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Bá H đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông
báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nhưng ông H vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình
bày.
Bị đơn, ông Nguyễn Bá H vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội
đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Lê Thị D với ông Nguyễn Bá H.
Bà Lê Thị D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chung Võ Dư
H, sinh ngày 3/5/2015; ông Nguyễn Bá H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do ông Nguyễn Bá H đang cư trú tại xã
T, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Tòa án nhân dân
huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
3
[2]. Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông
Nguyễn Bá H, yêu cầu được nuôi con chung. Đây là quan hệ tranh chấp về hôn
nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thụ
lý quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
[3]. Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng
xác định nguyên đơn bà Lê Thị D, bị đơn ông Nguyễn Bá H.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Bá H đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay. Do đó, căn cứ khoản 1
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
* Về nội dung:
[4].Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông H tự nguyện sống chung với nhau
năm 2018, đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 10/4/2014
do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà D, ông H. Vì vậy,
hôn nhân giữa bà D và ông H là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống, bà và ông H bất đồng quan điểm, tính tình không hợp,
ông H không quan tâm đến vợ con, bà và ông H không còn sống chung từ năm
2017 đến nay, ông H không tới lui hàn gắn tình cảm và chăm sóc con chung; bà D
nộp đơn khởi kiện ly hôn Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng ông H không đến Tòa án để làm việc, thể hiện ông H không mong muốn
hàn gắn tình cảm với bà D.
Căn cứ lời khai của nguyên đơn, chứng cứ trong hồ sơ, thể hiện giữa bà D,
ông H không còn tình cảm, ông, bà đã ly thân trong thời gian dài, không liên lạc
với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được. Tại phiên tòa, bà D xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn
của bà D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia
đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D.
[5]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nguyễn Dư
H, sinh ngày 3/5/2015. Hiện cháu H do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà
D yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con
cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện
nay cháu H đã sống ổn định với bà D. Bà D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung, ông H cũng không có ý kiến phản đối. Tại biên bản xác minh ngày
16/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thì cháu H sống với bà D phát
triển tốt về tinh thần và thể chất, nhà bà D gần trường học, trạm y tế, đảm bảo về
việc học hành cũng như chăm sóc sức khỏe cho cháu H. Do đó, Hội đồng xét xử căn
cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà D là được tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H.
4
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi
con, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem
xét giải quyết
[8]. Về nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét
giải quyết.
[9]. Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chợ Mới về quan điểm giải quyết án.
[10]. Về án phí: Bà Lê Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điếm a khoản 1 Điều 39,
Điều 68, khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị
D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 10 tháng 4 năm 2012 do Ủy ban nhân
dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp bà D, ông H không còn giá trị pháp lý.
Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01
con chung tên Nguyễn Dư H, sinh ngày 3/5/2015.
Ông Nguyễn Bá H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Thị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông
Nguyễn Bá H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp
dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
5
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm
300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0008934 ngày 08 tháng 10 năm
2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà D đã nộp
đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày
tuyên án. Riêng ông H vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày
bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND H. Chợ Mới;
- TAND tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS H. Chợ Mới;
- UBND xã K;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Nguyễn Thị Thi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm