Bản án số 443/2022/HNGĐ-ST ngày 11/07/2022 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 443/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 443/2022/HNGĐ-ST ngày 11/07/2022 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đông Anh (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 443/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/07/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 443/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11/7/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:Ngô Thị Yêm.
Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- Thư phiên toà: Ông Nguyn Đăng Hùng Cán b Toà án nhân
dân huyn Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyn Đông Anh, Thành ph Hà Ni
tham gia phiên tòa: Bà Lê Th Thanh Vân- Kim sát viên.
Ngày11/7/2022, ti Tr s Toà án nhân dân huyn Đông Anh, Thành phố
Ni xét x sơ thm v án hôn nhân gia đình th s: 64/2022/TLST-HNGĐ ngày
22 tháng 02 năm 2022 về việc: Tranh chấp lyn theo Quyết định đưa v án ra t
x s: 45/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022, gia các đương s:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị A, sinh năm 1983.
Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã N, huyện L, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Số 24, ngõ 62, X, phường Y, quận Z, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1980.
Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn M, xã N, huyện L, Thành phố Hà Nội.
Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn
chị Trương Thị A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn B ngày
03/11/2006 trên sở tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân
N, huyện L, Thành phố Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại
thôn M, N, huyện L, Thành phố Nội. Cuộc sống vợ chồng sống hòa thuận
đến khoảng năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm sống, tính cách không hợp nhau trong nhiều vấn đề dẫn đến vợ chồng
hay xích mích, bất hoà, thỉnh thoảng xô xát. Vợ chồng đã ly thân từ ngày
12/12/2021 cho đến nay, chị chuyển ra ngoài thuê nhà ở, hai bên không trách
nhiệm với nhau. Gia đình đã động viên, hoà giải cho hai vợ chồng nhưng không
2
kết quả. Nay chị xác định tình cảm vchồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng
không thể khắc phục nên chị xin được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Vợ chồng 03 con chung cháu Nguyễn Thùy C, sinh
ngày 10/8/2007, cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/3/2011 cháu Nguyễn
Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017. Hiện nay cả 03 cháu Dg với anh B. Ly hôn, chị
xin nuôi cháu E, để anh B nuôi cháu C, cháu D không yêu cầu Tòa án giải
quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện nay, chị đang m việc tại Công ty TNHH đầu tư thương mại xây
dựng Tân Tín Phát, thu nhập khoảng gần 9.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, chị còn
làm thêm bán hàng online, thu nhập thêm khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Về chỗ
ở: Chị thuê nhà có hợp đồng thuê nhà và ổn định, lâu dài, diện tích đủ rộng tại s
24, ngõ 62 X, phường Y, quận Z, Thành phố Hà Nội nên hoàn toàn khả năng
nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí như chị Trương Thị A khai về thời
gian, điều kiện kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn giữa của vợ chồng.
Nay chị A xin ly hôn thì anh đồng ý và không níu kéo.
- Về con chung: Vợ chồng 03 con chung cháu Nguyễn Thùy C, sinh
ngày 10/8/2007, cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/3/2011 cháu Nguyễn
Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017. Từ khi vợ chồng ly thân, cả 03 con đều với anh,
chị A chưa lần nào về thăm con, giữa chị A các con chỉ liên hệ qua điện thoại.
Ly hôn, anh xin nuôi cả 03 con không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp
dưỡng nuôi con chung do chị A không đủ cách, đạo đức để nuôi con. Đồng
thời đề nghị Tòa án xem xét đến nguyện vọng của các con.
Hiện nay, anh đang công nhân khí làm sắt, thép, thêm chở hàng bên
khu Đa Hội, Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thu nhập khoảng
12.000.000-13.000.000 đồng/tháng. Về chỗ ở: Anh các con đang cùng với
bố mẹ anh tại thôn M, N, huyện L, Thành phố Hà Nội. Điều kiện ăn rộng
rãi, thoải máin hoàn toàn có khả năng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh xác định không yêu cầu Toà án giải quyết sau khi
nhiều lần đã được Toà án giải thích pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ đối với
vấn đề tài sản.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn chị Trương Thị A vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh
Nguyễn Văn B. Chị xác định nguyên nhân mâu thuẫn chính do anh B nhiều
lần có hành vi bạo hành đối với chị.
+ Về con chung: Chị xin nuôi cháu Nguyễn Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017, để
anh B nuôi cháu Nguyễn Thùy C, sinh ngày 10/8/2007, cháu Nguyễn Hoàng D,
3
sinh ngày 06/3/2011 không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi
con chung.
+Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn B xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh
đồng ý ly hôn. Anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn chính là do chị A ngoại tình
và bị gia đình anh bắt quả tang.
+ Về con chung: Anh xin nuôi cả 03 con chung không yêu cầu Tòa án
giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm
về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư đã tuân theo đúng quy định của pháp luật,
không vi phạm tố tụng.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về việc
giải quyết vụ án:
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị A đối với anh Nguyễn
Văn B.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017 cho chị A
trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Thùy C, sinh ngày 10/8/2007, cháu
Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/3/2011 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm
hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A, anh B cho đến khi từng con chung
thành niên hoặc có sự thay đổi khác.
+ Về tài sản chung: Không đặt ra xem t, giải quyết do đương sự không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu có trong h sơ vụán được thm tra ti phiên
toà và căn c vào kết qu tranh lun ti phiên toà. Hi đồng xét x nhn định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trương Thị A yêu cu Tòa án gii quyết ly
hôn, đây tranh chp v hôn nhân gia đình thuc thm quyn ca Tòa án theo
quy định ti Khoản 1 Điều 28 B lut t tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn B
hiện đang trú trên địa bàn huyện Đông Anh. Do vy, thm quyn gii quyết
v án thuc v Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy đnh ti Đim a
Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 B lut t tng dân s.
[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị A anh Nguyễn Văn B:
Anh chị tự nguyện kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân N, huyện L, Thành phố Nội ngày 03/11/2006 nên quan hệ
hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
4
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị A: Về quá trình chung sống
mâu thuẫn: Các đương strình bày: Sau khi đăng kết hôn tổ chức lễ
cưới, vợ chồng chị A, anh B về chung sống cùng gia đình anh B tại thôn M,
N, huyện L, Thành phố Nội. Đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không
hợp nhau, không sự tin tưởng lẫn nhau nên hay xảy ra cãi nhau, thỉnh thoảng
xát, dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, hai bên hầu như không trách
nhiệm gì với nhau và ly thân từ ngày 12/12/2021.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần
các đương sự đến Tòa án làm việc tổ chức được phiên hòa giải cho các đương
sự về đoàn tụ với nhau.Tuy nhn, các đương sự, đặc biệt bên phía anh B không có
biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng, tại phiên hòa giải, hai bên đu thống
nhất vợ chồng không còn tình cảm nhất t việc ly hôn.
Tại phiên tòa, chị A vẫn giữ quan điểm xin ly hôn, anh B xác định tình cảm
vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn hoàn toàn tự nguyện. Do đó, cần ghi
nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Trương Thị A và anh Nguyễn Văn B theo quy
định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình để các bên ổn định cuộc sống riêng.
[4]Về con chung: Chị A, anh B 03 con chung cháu Nguyễn Thùy C,
sinh ngày 10/8/2007, cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/3/2011 và cháu
Nguyễn Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017. Hiện nay, cả 03 con đang với anh B tại
thôn M, xã N, huyện L, Thành phố Hà Nội.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, chA xin nuôi cháu Nguyễn
Tuệ E, để anh B nuôi cháu Nguyễn Thùy C và cháu Nguyễn Hoàng D; Anh B xin
nuôi cả 03 con và hai bên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng
nuôi con chung.
* Xét yêu cầu nuôi con của các đương sự: Xác minh tại chính quyền địa
phương và tài liệu do các đương sự cung cấp thể hiện:
+ Về chỗ ở: Anh Nguyễn Văn B đang trú ổn định tại thôn thôn M,
N, huyện L, Thành phố Hà Nội. Chị Trương Thị A đang thuê nhà có hợp đồng ổn
định tại số 24, ngõ 62 X, phường Y, quận Z, Thành phố Hà Nội.
+ Về công việc thu nhập: Anh B đang công nhân khí (Sắt, thép)
cho một doanh nghiệp nhân tại khu Đa Hội, phường Châu Khê, thành phố Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thu nhập khoảng 12.000.000 đồng - 13.000.000 đồng/tháng.
Chị A đang làm việc tại Công ty TNHH đầu thương mại xây dựng
Tân Tín Phát, thu nhập khoảng gần 9.000.000 đồng/tháng.
+ Về nguyện vọng của các con: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu
cầu anh B người đang chăm sóc cả 03 con của anh chị đưa các con lên Tòa án
để ghi lời khai, tuy nhiên anh B không thực hiện mặc anh người đề nghị
Tòa án xem xét đến nguyện vọng của các con. Đến ngày 30/6/2022, cháu
Nguyễn Thùy C mới văn bản thể hiện nguyện vọng của cháu muốn với anh
5
B.Cháu Nguyễn Hoàng D cháu Nguyễn Tuệ E chưa lấy được lời khai, tuy
nhiên, cháu E chưa đủ 07 tuổi, 02 cháu đều sống phụ thuộc Tòa án không lấy
lời khai nếu có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ
em trong trường hợp này.
Như vậy, anh B, chị A đều thu nhập chỗ ổn định, không ai bị hạn
chế quyền đối với con chưa thành niên nên đều có khả năng nuôi con. Việc anh B
trình bày chị A không đủ đạo đức cách nuôi con không căn cứ chứng
minh. Yêu cầu nuôi con của anh chị đều là chính đáng. Xét công việc và mức thu
nhập của anh B hiện nay cao hơn chị A, tuy nhiên nếu nuôi 03 con không thể
đảm bảo được việc phát triển toàn diện nhất cho các con. Cháu C nguyện
vọng muốn ở với bố, cháu D con trai, xem xét đến phong tục tập quán và vùng
miền thì giao cháu C, cháu D cho anh B nuôi là hợp . Với mức thu nhập của chị
A thì chỉ thể đảm bảo nuôi được 01 con. Xét cháu E độ tuổi nhỏ nhất, lại
con gái, tâm sinh cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ hơn nên giao
cháu E cho chị A nuôi là hợp lý.
Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ em theo Luật hôn nhân
gia đình, cần giao cháu C, cháu D cho anh B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng;
Giao cháu E cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con
chung cho chị A, anh B đến khi các con chung, con nuôi thành niên hoặc sự
thay đổi khác phù hợp với thực tiễn, đạo đức hội các quy định của pháp
luật.
[5] Về tài sản chung: Chị A, anh B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do
đó, Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Ván phí: Nguyên đơn chị A phải chịu án phí ly hôn thẩm không
giá ngạch.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương s được quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về
đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39;
Điều 203, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
6
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trương
Thị A và anh Nguyễn Văn B.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 90, đăng ngày 03/11/2006 tại Ủy ban
nhân dân N, huyện L, Thành phố Nội cấp cho chị Trương Thị A anh
Nguyễn Văn B không còn giá trị pháp lý).
2. Về con chung: Chị A, anh B 03 con chung cháu Nguyễn Thùy C,
sinh ngày 10/8/2007, cháu Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 06/3/2011 và cháu
Nguyễn Tuệ E, sinh ngày 18/9/2017.
Ly hôn, giao cháu Nguyễn Tuệ E cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng; Giao
cháu Nguyễn Thùy C cháu Nguyễn Hoàng D cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng;
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị A, anh B đến khi từng con
chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.
Chị A, anh B đều quyền nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung,
không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết do đương sự
không yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Trương Thị A phải chịu 300.000(Ba trăm nghìn) đồng án
phí ly hôn thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000(Ba trăm nghìn) đồng tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 46022 ngày 22/02/2022 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Xác nhận chị A đã nộp đủ án phí.
Án x công khai sơ thm. Các đương s có quyn kháng cáo trong thi
hn 15 ngày, k t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự; -
VKSND huyện Đông Anh;
- TAND thành phố Hà Nội;
- THA dân sự huyện Đông Anh;
- UBND xã N;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Lâm Bình
Tải về
Bản án số 443/2022/HNGĐ-ST Bản án số 443/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất