Bản án số 42/2023/DS-PT ngày 20/04/2023 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 42/2023/DS-PT ngày 20/04/2023 của TAND tỉnh Nghệ An về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Nghệ An
Số hiệu: 42/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/04/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai, NĐ C và T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 42/2023/DS-PT
Ngày 20 4 - 2023
V/v: “Tranh chấp đất đai”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ph
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tr
Bà Thái Thị Hồng V
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Trần
Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử
phúc thẩm công Khi vụ án Dân sự thụ lý số: 03/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm
2023 về việc “Tranh chấp đất đai”.
Do Bản án dân sự thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2022 của
Tòa án nhân dân C bị kháng o;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s78/2023/QĐ-PT ngày 24
tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn ThCh, sinh năm 1937 (bà Ch chết ngày 06/3/2023);
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Ch: Ông
Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Thị C (các con của Ch) thống nhất ủy quyền cho
Trần Thị H, sinh năm 1969 tham gia tố tụng. Bà H có mặt;
Đều trú tại: Xóm Xuân Đường, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1959 Bùi Thị Kh, sinh năm 1954
(vợ ông T). Người đại diện theo ủy quyền của Kh: Ông Nguyễn Anh T (chồng
Kh).Kh vắng, ông T có mặt;
Đều trú tại: Xóm Xuân Đường, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị C, sinh năm 1959. Trú tại: Xóm 12, Diễn Yên, huyện
Diễn Châu, Nghệ An. Vắng mặt;
2. Ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1973 (vắng mặt)
3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1969. Có mặt;
2
Đều trú tại: Xóm Xuân Đường, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C, ông Nh: Trần Thị H, sinh năm
1969; Trú tại: Xóm Xuân Đường, Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Có
mặt
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ch, nguyên đơn;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm vụ án có nội dung:
Trong đơn khởi kiện đngày 22/04/2020, các lời Khi, hòa giải trong qtrình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Ch; bà Trần Thị H người đại
diện theo ủy quyền của Ch, ông Nguyễn Văn Nh người quyền lợi ngĩa v
liên quan trong vụ án thống nhất trình bày: V chng Nguyn Th Ch ông
Nguyễn Văn T (ông T chết năm 2007) s dng thửa đất thửa số 617, tờ bản đồ 113-
61, diện tích 896m
2
, nguồn gốc ông cha tạo lập để lại cho ông T, bà Ch sinh sống
được thể hiện tn bản đồ 299 thửa đất số 847 diện tích 876m
2
; tại xóm Xuân
Đường, Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, Nghệ An. Cùng thời điểm, thửa đất tứ
cận: Pa Bắc tiếp giáp đất hộ ông Nguyễn Văn M và hộ ông Nguyễn Anh T, phía Tây
giáp đường 253, phía Đông giáp phần đất Đ và anh T . Đến thời điểm hiện tại,
ngoài phần tiếp giáp với hộ ông T thì phần tiếp giáp với các hộ liền kề khác không
tranh chấp gì. Năm 1993 khi thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, chủ trương cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đo vẽ bản đồ 364, đến ngày 20/8/1999 gia đình
ông Nguyễn Văn T đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc
cấp giấy QSDĐ dựa vào bản đồ 364, việc đo vẽ bản đồ về phần đất của ông Nguyễn
Văn T bà Nguyễn Thị Ch đã thể hiện trên bản đồ 364 hoàn toàn chính xác, gia
đìnhCh không có khiếu nại hay tranh chấp gì về bản đồ 364.
Tháng 9 năm 1993 Trần Thị H kết hôn với ông Nguyễn Văn Nh con trai của
ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị Ch. Sau khi kết hôn vợ chồng ra ở riêng tại một
khu đất khác nhưng cũng trong xóm Xuân Đường, đến tháng 10 (ÂL) năm 2012, vợ
chồng bà H, ông Nh về ở chung trong vườn của ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị
Ch, vợ chồng xây dựng nhà riêng không ở chung nhà của ông T, bà Ch. Khoảng tháng
8 năm 2012 gia đình ông T đã dập bcây để chuẩn bị cho việc đổ tông sân và xây
bờ bao, H (con dâu Ch) đã trực tiếp sang nhà ông T yêu cầu ông T không được
đổ tông tông T hứa sẽ cào bê tông không đổ nữa nhưng sau đó 2 ngày thì ông T
không thực hiện mà đổ bê tông, xây bờ bao lấn chiếm sang phần đất của ông T, bà Ch.
Tháng 10/2012 gia đình bà Ch gửi đơn lên xã Diễn Đoài nộp đơn cho ông Giao nhưng
mãi không thấy giải quyết. Đến năm 2020, do tranh chấp mâu thuẫn kéo dài nên bà Ch
ủy quyền cho H tiếp tục làm đơn lên Diễn Đoài yêu cầu giải quyết hòa giải
nhưng không thành. Căn cứ chứng M việc ông T, bà Kh lấn chiếm đất đó là: đối chiếu
hình thể bản đồ 364 với hiện trạng đất hiện nay sự sai lệch; Căn cứ thứ 2 là bcây
ông T dập xuống để đổ bê tông xây bờ bao là của gia đình ông T, bà Ch.
3
Nay bà Nguyễn Thị Ch làm đơn khởi kiện buộc ông Nguyễn Anh T, Bùi Th
Kh trả lại cho bà Ch 20m
2
đất lấn chiếm tại thửa số 617, tờ bản đồ 113-61.
Thời điểm gia đình ông T, Ch đang tranh chấp đất thì chưa được cấp đổi
GCNQSDĐ. Nay chính quyền địa phương đã cấp đổi GCNQSDĐ cho gia đình ông T,
Kh vấn đề này do cấp thẩm quyền thực hiện, gia đình Ch không ý kiến
gì. Bà Ch chỉ yêu cầu ông T, Kh trả lại phần đất lấn chiếm của gia đình Ch
20m
2
.
Vợ chồng ông Nguyễn Anh T Bùi ThKh (vợ ông T) thống nhất trình bày:
Thửa đất ông T, Kh đang sử dụng do bố mđể lại. Đây đất thổ cư được sử
dụng ổn định từ năm 1980, đến năm 1999 được UBND huyện Diễn Châu cấp Giấy
chứng nhận QSDĐ số L108990 ngày 20/8/1999. Thửa đất hiện tại vợ chồng ông T,
Kh đang sử dụng thửa đất 616, tờ bản đồ 113-61 theo bản đồ 364. Thửa đất này
được gộp từ 02 thửa theo bản đồ 299: 01 thửa của ông Nguyễn Văn Doan (bố đẻ ông
T); 01 thửa do ông Nguyễn Văn M tặng cho ông T. Bản đồ 364 được đo vđể cấp
GCNQSDĐ cho ông T, Kh hoàn toàn chính xác. Phần đất tiếp giáp với các hộ
xung quanh đều sử dụng ổn định, không tranh chấp gì. Gia đình ông T, Kh làm
nhà xây tường bao năm 1996, khi đó ông Nguyễn Văn T (chồng Ch) còn sống
rất M mẫn, hai bên gia đình đã thống nhất ranh giới nên gia đình ông T, bà Kh mới
xây dựng được tường bao như hiện trạng. Hai bên sử dụng đất ổn định, không có tranh
chấp gì. Sau khi tiến hành đo đạc bản đồ kỹ thuật số thì có chênh lệch. Theo hiện trạng
hiện nay thì đất của hai gia đình đều tăng: Thửa đất ông T, Kh tăng 58m
2
; thửa đất
Ch tăng 39m
2
. Nguyên nhân diện tích thửa đất của ông tăng diện tích là do sai số do
đo đạc qua các thời kỳ.
Kết quả diện tích đo đạc theo bản đồ kỹ thuật sông T, Kh hoàn toàn thống
nhất và hiện tại thửa đất đã được cấp đổi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.
Nay Nguyễn Thị Ch làm đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông (ông T, bà
Kh) trả lại 20m
2
ông T, Kh không chấp nhận vì ông T, Kh không lấn chiếm đất
của bà Ch.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26;
điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều
157, 158, khoản 1, Điều 165, 166, Điều 70, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3, Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuyên
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Ch về việc buộc ông
Nguyễn Anh T Bùi Thị Kh tháo dphần bờ bao, mặt sân tông trả lại phần
diện tích đất lấn chiếm 5,3m
2
(Năm phẩy ba mét vuông) tại vị trí giáp ranh giữa
thửa đất số 617, tờ bản đồ 113-61 (thửa mới thửa 245, tờ bản đồ 28) của Ch với
thửa đất 616, tờ bản đồ 113-61 (thửa mới 246, tờ bản đồ 28) của ông Nguyễn Anh T
Bùi Thị Kh phần kéo dài từ Tây (Giáp đường 253) vphía Đông kích thước
16,63m.
4
Cụ thể tứ cận của thửa đất của bà Nguyễn Thị Ch và ông Nguyễn Anh T, bà Bùi
Thị Kh sử dụng như sau:
- Phần đất của Nguyễn Thị Ch, ông Nguyễn Văn T sử dụng: Phía Đông giáp
đất Thu, ông Tài kích thước 18,21m; Phía Tây giáp đường nhựa 253 kích thước
16,74m; Phía Nam giáp đất ông Kiên kích thước 51,22m; Phía Bắc giáp đất ông T,
Kh kích thước 54,31m.
Diện tích: 940,4m
2
tại thửa đất số 617, tờ bản đồ 113-61 (thửa mới thửa 245, tờ
bản đồ 28); Địa chỉ xóm Xuân Đường, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Có sơ đồ sử dụng đất kèm theo.
- Phần đất của ông Nguyễn Anh T Bùi Thị Kh sử dụng: Phía Đông giáp đất
Thu, ông ông Ích kích thước 12,56m; Phía Tây giáp đường nhựa 253 kích thước
15,02m; Phía Nam giáp đất ông T bà Ch kích thước 55,74m; Phía Bắc giáp đất ông
Tm, ông Long, ông Ích thước 58,15m.
Diện tích: 872m
2
tại thửa đất 616, tờ bản đồ 113-61 (thửa mới 246, tờ bản đồ
28); Địa chỉ xóm Xuân Đường, xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Có sơ
đồ sử dụng đất kèm theo.
Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022, Nguyễn Thị Ch đơn kháng cáo với nội dung:
Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại toà bộ bản án yêu cầu ông Nguyễn Anh T tháo dỡ
tường bao trả lại diện tích đất 20m
2
đã lấn chiếm của gia đìnhCh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện uỷ quyền của những người kế thừa quyền
nghĩa vụ t tụng của Nguyễn Thị Ch giữ nguyên nội dung kháng cáo; hai bên
không thỏa thuận được quan điểm giải quyết vụ án; các đương sự không xuất trình
thêm các tài liệu gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá quá trình
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử,
Thư phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn
những người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71,
Điều 72, Điều 294 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đnghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Ch
(những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị Ch); giữ nguyên
Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm Nguyễn Thị Ch
chết, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị Ch, gồm
ông Nguyễn Văn Nh, bà Nguyễn Thị C (các con của Ch) ủy quyền cho bà Trần Thị
5
H tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử
đã hỏi ý kiến của các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử v án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét ni dung kháng cáo ca Nguyn Th Ch, thy rng: Gia đình
Nguyn Th Ch gia đình ông Nguyễn Anh T, Bùi Th Kh s dng hai thửa đất
lin k nhau. Theo đó, thửa đất của bà Nguyễn Thị Ch, theo bản đồ 299 thuộc thửa đất
số 847, diện tích 876m
2
, theo bản đồ 364 đo vẽ năm 1995 thuộc thửa đất số 617, t
bản đồ 113-61, diện tích 896m
2
, nay thửa 245, tờ bản đồ số 28, diện tích 935,1m
2
,
nguồn gốc của bố mông Nguyễn Văn T tạo lập để lại cho ông T, Ch sử
dụng. Căn cứ tờ bản đồ 364, UBND huyện Diễn Châu đã cấp Giấy chứng nhận QSD
đất ngày 20/8/1999 đối với thửa đất mang tên ông Nguyễn Văn T. Thửa đất của gia
đình ông Nguyễn Anh T, Bùi Thị Kh có nguồn gốc được gộp t02 thửa đất theo
bản đồ 299 thuộc thửa đất số 832, diện tích 476m
2
thửa đất số 848 diện tích 320m
2
(01 thửa là của cụ Nguyễn Văn Doan bố đẻ của ông T 01 thửa do ông Nguyễn Văn
M tặng cho ông T). Căn cứ tờ bản đồ 364, hai thửa đất gia đình ông T, Kh nhập
thành một thuộc thửa đất số 616, tbản đồ 113-61, diện tích 819m
2
đã được UBND
huyện Diễn Châu cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Anh T ngày 20/8/1999.
Kết quả xem xét thẩm định tại ch ngày 28/10/2021, theo yêu cầu của gia đình
Nguyễn Thị Ch thể hiện ranh giới liền kề giữa hai thửa đất của gia đình Ch
gia đình ông T hình gấp khúc 06 đoạn nối liền nhau. Đối chiếu với hình thể hai
thửa đất theo tờ bản đồ 364 (BL 76, 78,79, 104,105) thì ranh giới hai thửa đất đang
tranh chấp hình gấp khúc của 03 đoạn thẳng nối liền nhau; chiều rộng giáp đường
253 theo hiện trạng sử dụng đất của Ch chiều rộng 16,74m (đo trên bản đồ
364 16,6m) tăng 0,14m và hai gia đình đã xác định sdụng ổn định từ trước đến
nay. Hơn nữa, kết quả đo vẽ xác định diện tích thực tế sử dụng của hai gia đình đều
tăng so với diện tích theo tờ bản đồ 364 xác định. Do đó, người đại diện theo ủy quyền
của những người kế thừa quyền nghĩa vụ của Ch cho rằng thửa đất gia đình
Ch cạnh bám đường 253 dài 17m hiện nay còn 16,6m còn thiếu 40cm do gia đình
ông Nguyễn Anh T, Bùi Thị Kh lấn chiếm sang thửa đất gia đình Nguyễn Thị
Ch diện ch 20m
2
không sở. Mặt khác, trong quá trình giải quyết tranh chấp
tại cấp thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm, Trần Thị H người đại diện theo ủy
quyền của Ch ông Nh ông T, Kh đều xác định: Việc UBND huyện Diễn
Châu n cứ vào tbản đồ 364 cấp GCNQSD đất cho gia đình Nguyễn Thị Ch
gia đình ông Nguyễn Anh T ngày 20/9/1999 hoàn toàn chính xác, gia đình Ch
không có khiếu nại gì đối với bản đồ 364.
Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm đầu tiếp giáp đường 253 và điểm cuối
của đoạn đứt gãy được các bên đương sự xác định không có tranh chấp, phù hợp với
bản đồ 364 xác định phần diện tích gia đình ông T, Kh lấn chiếm, buộc gia đình
ông T, Kh phải trả lại phần diện tích 5,3m
2
đất cho gia đình Nguyễn Thị Ch
có căn cứ.
6
Từ những nội dung phân tích, đánh giá nêu trên, không căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của Nguyễn Thị Ch (người đại diện theo ủy quyền của những người kế
thừa quyền và nghĩa vụ ca bà Ch), cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của
Nguyễn Thị Ch được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch; Giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số: 02/2022/DS-ST ngày 14/4/2022 của Tòa án nhân huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho những người
kế thừa quyền và nghĩa vụ ca bà Nguyễn Thị Ch;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- TAND huyện Diễn Châu;
- Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Ph
Tải về
Bản án số 42/2023/DS-PT Bản án số 42/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất