Bản án số 41/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 41/2018/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 41/2018/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 41/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Cầu Giấy (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 41/2018/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chị H đơn phương ly hôn với anh Đ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26/10/2018
V/v: ly hôn giữa chị H, anh Đ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thế Kỷ
- Bà Đỗ Hảo Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Ngọc Tiến - Thư ký Toà án nhân dân quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đình Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 26/10/2018, Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xét xử
sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 173/2018/TLST-HNGĐ
ngày 09 tháng 4 năm 2018 về "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
116/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2018; Quyết định hoãn phiên
tòa số 118/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/10/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H – sinh năm 1978. (có mặt).
Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do
ĐKHKTT: Phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Lê Công Đ - sinh năm 1980. (có mặt).
Nghề nghiệp: Thợ cơ khí tự do
ĐKHK: Xã P, huyện U, tỉnh Quảng Ninh. Hiện trú tại: Phường D, quận C,
Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, các ý kiến trình bầy tại Tòa án, nguyên đơn - chị Nguyễn
Thị Minh H trình bày:
Chị và anh Lê Công Đ kết hôn ngày 03/3/2003 tại UBND phường Q, quận C
thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh
phúc đến khoảng giữa năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ
hay ghen tuông vô cớ. Đến năm 2009 thì mâu thuẫn tiếp tục về vấn đề tài chính, do
anh Đ cờ bạc nợ nần, chị phải vay tiền để trả nợ thay cho chồng và gia đình chồng.
Kể từ đó cho đến nay, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau và không
còn quan tâm đến nhau nữa. Từ tháng 6/2017 đến nay, tuy vợ chồng sống chung
một nhà, nhưng không ăn chung, không ngủ chung, việc ai người nấy lo, kinh tế
hoàn toàn riêng biệt, không còn liên quan gì đến nhau. Trước khi nộp đơn ra Tòa
2
án, chị đã nộp đơn ra tổ hòa giải của Tổ dân phố và UBND phường để hòa giải. Tổ
hòa giải đã hòa giải nhiều lần, nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không được
cải thiện. Chị đã thông báo cho anh Đ biết việc chị nộp đơn xin ly hôn ra Tòa án,
anh Đ lúc thì đồng thuận ly hôn, lúc thì căng thẳng, không hợp tác. Nay chị xác
định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh Đ để ổn định cuộc sống.
Về con chung: chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Lê Minh N, sinh ngày
07/01/2003 và cháu Lê Nhật L, sinh ngày 23/7/2009. Sau ly hôn, chị có nguyện
vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung và chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng
nuôi con. Nếu mỗi người nuôi một con thì không phải cấp dưỡng cho nhau. Nếu
anh Đ nuôi cả hai con thì chị sẽ chu cấp tiền học cho cả hai con theo thông báo của
nhà trường. Hiện tại chị kinh doanh tự do, mức thu nhập bình quân 20.000.000
đồng/tháng. Nhà chị đang ở hiện nay là của mẹ đẻ chị, do vậy mẹ đẻ chị sẽ tạo điều
kiện về chỗ ở cho chị sau ly hôn để nuôi con.
Về tài sản chung, nhà ở, công nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Sau ly hôn, tự chị lo chỗ ở như hiện nay.
Trong bản tự khai, các biên bản làm việc tại tòa án, bị đơn - anh Lê Công Đ
trình bày:
Về thời gian, địa điểm, cũng như điều kiện kết hôn giữa hai vợ chồng như chị
H trình bày là đúng, anh không có ý kiến gì. Trong quá trình chung sống vợ chồng
anh cũng có mâu thuẫn. Về các mốc thời điểm mâu thuẫn như chị H trình bày là
đúng, tuy nhiên mâu thuẫn không kéo dài liên tục. Khoảng 02 năm gần đây, do con
cái học hành không được theo ý muốn và chị H không tôn trọng chồng con nên mâu
thuẫn vợ chồng căng thẳng. Sau mỗi lần mâu thuẫn, anh luôn tìm cách đề hòa giải
giữ gìn hạnh phúc gia đình. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị H, anh không muốn
ly hôn. Đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.
Về con chung: anh và chị H có 02 con chung như chị H trình bày. Trong trường
hợp vợ chồng không tiếp tục chung sống, anh xin được nuôi cháu Lê Minh N, chị H
nuôi cháu Lê Nhật L. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện nay
anh đang làm nghề cơ khí, thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/tháng. Sau ly hôn anh
không còn chỗ ở nào khác tại Hà Nội, do vậy, nếu được giao nuôi con, anh sẽ thuê
nhà ở hoặc đưa con về Quảng Ninh để ăn học.
Về tài sản chung, nhà ở, công nợ chung: anh Đ không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Sau ly hôn, tự anh lo chỗ ở.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Chị H vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh Đ. Sau ly hôn, chị H xin được trực tiếp
nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài
sản chung, nhà ở, công nợ, chị H không yêu cầu giải quyết. Sau ly hôn tự chị lo chỗ
ở.
- Anh Đ xác định vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, nhưng anh không muốn ly hôn
và xin đoàn tụ. Nếu ly hôn, anh xin nuôi cháu Lê Minh N và để chị H nuôi cháu Lê
Nhật L. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Nếu chị H được giao
3
nuôi cả hai con theo nguyện vọng của các con thì anh đồng ý, anh sẽ cấp dưỡng cho
con tùy theo khả năng sau. Về tài sản chung, nhà ở và công nợ, anh không yêu cầu
giải quyết, sau ly hôn tự anh lo chỗ ở.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, qua phần trình bày của
đương sự và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân
quận Cầu Giấy nhận thấy: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng
quan hệ pháp luật có tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập
đầy đủ các chứng cứ, thực hiện trình tự cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp
luật, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Tuân thủ các quy định tại của Bộ
luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đảm bảo nguyên tắc xét xử, sự
có mặt của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đúng quy định.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Tòa án có vi phạm về thời hạn giải quyết vụ án.
Về nội dung: Xác định chị H, anh Đ kết hôn tự nguyện, hợp pháp. Quá trình
chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau,
không còn quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã phân
tích, giải thích pháp luật và hòa giải để chị H và anh Đ quay về đoàn tụ, nhưng chị
H vẫn kiên quyết xin được ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Nhận thấy, mục
đích hôn nhân không đạt được, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
1 điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H. Sau
ly hôn, giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi
con đối với anh Đ. Về tài sản, nhà ở, công nợ, các bên đương sự cùng không yêu
cầu giải quyết nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngày 30/3/2018, chị
Nguyễn Thị Minh H nộp đơn xin ly hôn anh Lê Công Đ tại Tòa án nhân dân quận
Cầu Giấy. Tại thời điểm chị H nộp đơn xin ly hôn, anh Lê Công Đ đang cư trú tại
Phường D, quận C, Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia
đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý giải quyết vụ án là đúng
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Quan hệ pháp luật phải giải quyết là tranh
chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn.
[2]. Xét về yêu cầu xin ly hôn: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Lê Công Đ
kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03/3/2003 tại UBND phường Q, quận C,
thành phố Hà Nội thể hiện một hôn nhân hợp pháp. Theo các bên đương sự xác
nhận thì cuộc sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, kéo dài, thường xuyên
đánh chửi nhau, đến nay không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Tuy nguyên
nhân mâu thuẫn các bên đưa ra là không thống nhất, bên này đổ lỗi cho bên kia,
nhưng điều đó thể hiện cuộc sống có nhiều bất đồng quan điểm. Quá trình giải
quyết vụ án, tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải cho chị H, anh Đ để tìm giải pháp
4
hàn gắn cuộc sống gia đình, nhưng chị H đều cương quyết xin ly hôn. Về phía anh
Đ có lần tham gia hòa giải, có lần không tham dự thể hiện bản thân anh Đ cũng
không thể hiện thiện chí hòa giải đoàn tụ. Tại phiên tòa hôm nay, anh Đ cũng xác
định cuộc hôn nhân có nhiều mâu thuẫn, không hoàn toàn hạnh phúc, thường xuyên
đánh, cãi chửi nhau.
Theo ý kiến tổ dân phố nơi anh Đ, chị H chung sống và ý kiến gia đình chị H
thể hiện: cuộc sống vợ chồng chị H, anh Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến
đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đã lâu. Tổ dân phố và gia đình hai bên đã
hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả.
Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án tiếp tục hòa giải nhưng chị H xác định tình cảm
không còn, cương quyết xin ly hôn. Anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng không có
giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận
Cầu Giấy đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh Đ hiện đã trầm trọng, mâu thuẫn
kéo dài đã lâu, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm không còn, mục
đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Cuộc sống hôn
nhân của chị H, anh Đ đã không còn tuân thủ Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình.
Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp
nhận đơn xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Đ.
[3]. Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung và cùng đề nghị được
nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần
căn cứ vào nguyện vọng của con với mục đính nhằm đảm bảo sự phát triển đầy đủ,
thuận lợi cho con trẻ. Chị H và anh Đ đều làm tự do, có thu nhập cơ bản đảm bảo.
Hiện nay cả hai con chung của chị H, anh Đ đều đang ở tại Phường D, quận C, TP
Hà Nội. Các con của chị H và anh Đ đều có nguyện vọng xin được ở với chị H nếu
bố mẹ ly hôn. Sau ly hôn, chị H có nơi ở ổn định tại nhà hiện nay đang ở. Về phía
anh Đ chưa có nơi ở ổn định sau ly hôn. Do vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của
con trẻ, đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng đối với cả hai con chung của chị H,
anh Đ, Xét thấy cần thiết giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do
chị H không yêu cầu và anh Đ có ý kiến sẽ đóng góp tiền nuôi con sau nên tạm
hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đ cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc có
sự thay đổi khác. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con chung.
[4].Về tài sản chung, công nợ chung, nhà ở: các bên đương sự cùng không
yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sau ly hôn, nếu các bên có tranh
chấp, có yêu cầu khởi kiện, sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác. Sau ly hôn các
bên tự lo chỗ ở.
[5].Về án phí: chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[6].Quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

5
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83
Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 24; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh H
Chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn anh Lê Công Đ.
2.Về con: Giao hai con chung là cháu Lê Minh N, sinh ngày 07/01/2003 và
cháu Lê Nhật L, sinh ngày 23/7/2009 cho chị Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi
dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lê Công Đ cho đến khi chị
H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
3.Về tài sản chung, công nợ chung, nhà mua chung: chị Nguyễn Thị Minh H
và anh Lê Công Đ không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét. Sau ly hôn,
nếu các bên có tranh chấp, có yêu cầu khởi kiện, sẽ được giải quyết bằng một vụ
án khác. Chị H, anh Đ tự lo chỗ ở sau ly hôn.
4.Về án phí: chị Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn
sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005812 ngày 09/4/2018, tại Chi cục Thi hành án dân
sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.
Quyền kháng cáo đối với bản án: chị Nguyễn Thị Minh H và anh Lê Công
Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-Các đương sự
-TAND TP Hà Nội.
-VKSND quận Cầu Giấy + HN.
-Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
-UBND phường Q, quận C, TP Hà Nội
-Lưu hồ sơ.
-Lưu văn phòng TAND Quận Cầu Giấy.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Mạnh Hải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 04/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 27/2025/HNGĐ-ST ngày 27/07/2025 của TAND tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về bạo lực gia đình
Ban hành: 27/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 22/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 14/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 23/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 17/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 04/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 04/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm