Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang
Số hiệu: 40/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả 85.000.000đồng. Bị đơn chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn được hoàn lại án phí
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10-AN GIANG
Bản án số: 40/2025/DS-ST
Ngày: 28-8-2025
V/v “Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thanh;
2. Ông Phan Văn Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-An Giang tham gia phiên
tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10-An Giang
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 282/2024/TLST-DS ngày
27 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng đặt cọctheo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXST-DS ngày 06/8/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim T, sinh năm 1975 (có mặt);
Số CCCD: 089175025358 cấp ngày 18/01/2022;
Cư trú: Tổ 15, Khóm V, thị trấn V, C, An Giang. (Nay là Tổ 15, Khóm V, xã
V, An Giang).
Điện thoại liên lạc: 0338.119.090.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn chị T ông Phạm Thái
B, sinh năm 1971- Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư A. Địa chỉ: Tổ D,
H, xã A, An Giang (có đơn xin vắng mặt).
Điện thoại: 0913.068.687
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976 (có mặt);
Số CCCD: 089076019879 cấp ngày 10/6/2023
Cư trú: Tổ A, Khóm V, thị trấn V, C, An Giang. (Nay là Tổ 15, Khóm V, xã
V, An Giang).
2
Điện thoại liên lạc: 0396.817.716
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Tuấn K, sinh năm 1984;
Cư trú: Tổ A, Khóm V, thị trấn V, C, An Giang. (Nay là Tổ A, Khóm V, xã V, An
Giang); (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ cũng như tại phiên
tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Kim T trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất chị định xây cất nhà của ông Đặng Văn Q
Nguyễn Thị B1 lập di chúc để lại cho vợ chồng chị. Hiện tại, chị chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do gia đình chị không còn nơi nào để ở, nên
ngày 10/4/2024 chị với anh T1 có ký hợp đồng xây dựng, thỏa thuận chị giao khoán
tiền cho anh T1 mua vật tư, công thợ để xây dng hoàn tất căn nhà tiền chế, diện
tích ngang khoảng 4,2m x dài 15m, với tổng số tiền 170.000.000 đồng. hợp
đồng không đề ngày tháng cụ thể, nhưng tại phần cuối hợp đồng thể hiện ngày giao
nhận tiền cọc là 10/4/2024 dương lịch. Anh T1 người trực tiếp ký tên và ghi thêm
dòng chữ “Tuôi nhận cộc số tiền chín mươi triệu đồng của Nguyễn Kim T”.
Chị đã giao tiền cho anh T1 đủ đợt 1 90.000.000 đồng đanh T1 xây nhà. Thời
điểm chuẩn bị xây nhà, chị không có làm đơn xin phép địa phương.
Ngày 27/4/2024 khi tiến hành thi công đào móng thì anh Đặng Tuấn K ra ngăn
cản, không cho anh T1 công nhân thi công công trình, do vậy anh T1 không
xây dựng được. Khi đó có công an thị trấn V đến giải quyết, vụ việc trên chị đã gửi
đơn hòa giải ở y ban xã ngày 09/5/2024.
Cùng ngày 09/5/2024, chị đến gặp anh T1 thương lượng, hỏi anh T1 ý kiến
thế nào? Anh T1 trả lời là đồng ý chờ khi nào Tòa án xử xong vụ tranh chấp giữa
chị với anh K đến khi nào chị yêu cầu xây dựng thì tiếp tục công việc. Anh T1
cho rằng chị yêu cầu anh T1 chờ thời gian 02 tháng để tiếp tục xây dựng nhà là
hoàn toàn không , thực tế là chị đã báo cho anh T1 là ngưng, không xây dựng nữa
để anh T1 thể lãnh làm nhà cho người khác, khi nào chị giải quyết với anh K xong
thì cho hay. Sự việc trao đổi giữa hai bên không ai chứng kiến. Chị xác định nguyên
nhân ngưng việc thi công là do anh K tranh chấp đất, không phải do chị tự ý hủy hợp
đồng
Đến ngày 07/11/2024, chị đến gặp anh T1 một lần nữa để trao đổi
thương lượng trừ lại stiền anh T1 đã mua vật tư, trừ thêm tiền công 05 triệu
đồng, còn lại bao nhiêu tiền thì yêu cầu anh T1 trả lại. Khi đó, anh T1 không đồng ý
và nói để anh về trao đổi với ông B2. Sau đó, vài ngày anh T1 trả lời là tiền đã chia
cho anh em thợ hồ xài hết rồi, nên không còn tiền trả lại và anh cũng không biết tiền
mua vật bao nhiêu để trả. Chị mới yêu cầu lấy lại sắt, nhưng anh T1 không đồng
ý. Hiện tại toàn bộ vật tư đều do anh T1 đang quản lý, số vật tư đó anh đã sử dụng
hay xử lý thế nào chị hoàn toàn không biết.
Chị đồng ý trả chi phí ngày khởi công động thổ cho anh T1 5.000.000 đồng.
Nay chị yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 nghĩa vụ trả lại chị số tiền cọc 85.000.000
đồng lãi suất 10% từ ngày 10/9/2024 đến ngày tòa án xét xử. Tuy nhiên, để tạo
3
điều kiện cho anh T1, chị đồng ý rút lại yêu cầu không tính lãi. Đồng thời, đồng ý
trừ lại số tiền đá 4x6cm mà anh T1 đã mua là 1.410.000đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn
T1 trình bày: Anh thống nhất với nội dung trình bày của chị T về việc ký hợp đồng
xây dựng và nhận tiền cọc, phần cuối hợp đồng thì anh là người trực tiếp ghi, ký tên
và lăn tay vào.
Ngày 27/4/2024, khi tiến hành đào móng thi công thì anh Đặng Tuấn K đến
ngăn cản, sau đó công an thị trấn mời các bên về làm việc, nội dung thế nào thì anh
không biết. Chị T có đến nói, kêu anh chờ 01 tuần để giải quyết tranh chấp với anh
K xong thì cho xây dựng, anh cũng chmột tuần. Hết thời gian thì chị T nói anh chờ
thêm nữa, anh trả lời là cho chị T thêm hai tháng nữa tính từ thời gian khởi công.
Hết thời hạn 02 tháng thì hai bên không gặp nhau để trao đổi gì thêm.
Sau đó, chị T đến gặp anh (không nhớ thời gian) đyêu cầu anh đưa hóa
đơn mua vật tư, chứ không có yêu cầu lấy lại sắt nchị T trình bày. Khi đó, anh có
báo thời gian đã hơn khoảng 7-8 tháng chưa xây dựng nên anh đã chia tiền
cho anh em nhân công xài hết. Chị T yêu cầu trả lại 85.000.000đồng, anh không
đồng ý.
Chị T cho rằng ngày 09/5/2024 thông báo ngưng việc xây dựng hoàn
toàn không có, thực tế chị T kêu anh chờ 01 tháng, anh mới cho thêm 01 tháng
nữa, tổng thời gian chờ chị T giải quyết việc mẫu thuẫn với anh K 02 tháng, đ
thể tiếp tục xây dựng.
Do khi anh nhận xây nhà thì anh có thỏa thuận với 07 người (anh đều không
(biết họ tên, chỉ biết tên thường gọi). Anh đã chia tiền đều cho 07 người này. Gồm
04 thợ và 03 phụ hồ. Việc đưa tiền cho những người này, anh đều có ghi sổ. Anh sẽ
cung cấp chứng cứ về việc chi tiền cho những người trên cho Tòa án sau.
Toàn bộ vật anh mua gồm sắt nhiều loại, đá 4x6cm 03khối, do thời
gian đã lâu nên anh không nhớ cụ thể số tiền. Hiện tại anh đang quản lý toàn bộ vật
tư, một số sắt anh đã sử dụng cá nhân, còn lại vẫn để ở nhà anh. Anh đồng ý trả lại
phần sắt đã mua cho chị T, đối với phần đá thì trong thời gian chờ đợi xây dựng, đã
bị mất hết nên không trả lại được. Do tiền cc đã chia hết cho nhân công, anh sẽ tìm
cách để liên hệ những người này để động viên họ trả tiền lại cho chị T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Tuấn K trình bày:
Trước đây, dòng họ tranh chấp chia thừa kế với chị T, kết quả giải quyết
thống nhất chừa phần đất 247m
2
chị T định xây nhà nêu trên, làm nền để xây mồ
mả ông bà. Chị T đã khởi kiện tranh chấp về phần đất này tại Tòa án nhân dân khu
vực 10-An Giang, nhưng chưa được thụ lý. Nay chị T xây cất nthì anh không
đồng ý.
Vào ngày 27/4/2024, chị T thuê anh T1 để đào móng khởi công xây cất
nhà thì anh đến ngăn cản. Hai bên xảy ra cự cãi thì công an thị trấn đến giải quyết.
Ngày 09/5/2024 Ủy ban nhân dân thị trấn có mời anh chị T đến để lập biên bản
hòa giải về việc tranh chấp đất, không có mời anh T1.
4
Đối với việc tranh chấp hợp đồng xây dựng, hợp đồng đặt cọc giữa anh T1
chị T thì anh hoàn toàn không biết và không có ý kiến.
Tại phiên tòa:
* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt, nhưng
gửi văn bản trình bày quan điểm:
Hợp đồng đặt cọc được xác lập giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, mặc dù
nội dung chưa ràng, nhưng đã thể hiện rõ ý chí của hai bên. Bên đặt cọc đã giao
tiền, bên nhận cọc đã tiến hành thi công. Do vậy, không bên nào lỗi trong việc
thực hiện Hợp đồng; việc không tiến hành thi công công trình nhà ở cho chị T được
do anh Đặng Tuấn K đến tranh chấp ngăn cản, đây điều kiện khách quan.
hợp đồng không thực hiện được, nhưng bđơn không trả lại tiền cho nguyên đơn
là không đúng. Bị đơn cho rằng đã mua vật tư, do không xây dựng nên đã trả lại cửa
hàng được hoàn tiền, còn lại số sắt do không sử dụng nên bị rỉ sét, mất giá trị.
Đây là việc của bị đơn, vì bđơn không chở vật tư lại giao trả cho nguyên đơn. Hơn
nữa, biên bản ghi nhận ý kiến của chị Thị Tuyết L (con của bà V- cửa hàng 8
Vẹn) ngày 06/8/2025 là chưa đúng đối tượng, chưa chính xác.
Mặt khác, anh T1 cho rằng tất cả số tiền mà anh nhận của nguyên đơn, anh đã
chia hết cho các người thợ, đòi lại không được. Vì anh không biết họ ở đâu là không
sở. Bởi lẽ, thợ phụ hồ do anh T1 thuê, tiền đưa cho họ do anh T1 tự
khai…Do đó, có việc chia tiền cho thợ hay không, là trách nhiệm của bị đơn, không
liên quan đến nguyên đơn.
Tổng số tiền bị đơn nhận là 90.000.000đồng, tổng số tiền mua đá và công thợ
3.860.000đồng. Nguyên đơn đồng ý trừ chi phí 5.000.000đồng, là cao hơn
1.140.000đồng, như vậy là có lợi cho bị đơn.
Từ những do trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc bị đơn nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 85.000.000đồng
và lãi suất theo quy định từ ngày 10/9/2024 cho đến ngày Tòa án xét xử.
- Nguyên đơn: Thống nhất với nội dung trình bày của Luật sư, không ý kiến
tranh luận, nhưng chị tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu
tính lãi suất.
- Bị đơn: Không ý kiến tranh luận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-An Giang phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án ktừ khi
thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Các bên đương sự thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc
để xây dựng nhà, bị đơn đã nhận đủ tiền cọc 90.000.000đồng. Thế nhưng, vào
ngày khởi công, anh K đến ngăn cản nên việc xây dựng nhà bị ngưng lại. Nay nguyên
5
đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền cọc 85.000.000 đồng, đồng ý trừ lại số
tiền công ngày khởi công 5.000.000đồng. Phía bị đơn không đồng ý trả tiền
nêu lý do là số tiền cọc anh đã mua vật tư và trả công thợ. Xét việc xây dựng không
thể tiếp tục là do nguyên nhân khách quan. Bị đơn nhận tiền thì phải có nghĩa vụ trả
tiền phù hợp. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ. Đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ca nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số
tiền 85.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn về việc
không yêu cầu tính lãi suất. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vquan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Thời điểm thụ vụ
án, xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, quá trình giải
quyết vụ án sau khi làm ý kiến, yêu cầu của các đương sự, nay xác định lại
quan hệ tranh chấp vụ án là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản
3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn trú tại V, An Giang, căn cứ quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10-An Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
người bảo vệ quyền, lợi ích cho nguyên đơn đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều
227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những
người tham gia tố tụng theo thủ tục chung.
[3] Vnội dung tranh chấp: Căn cứ Hợp đồng đặt cọc đxây dựng nhà, không
thể hiện thời gian, nhưng được các bên thống nhất giao dịch ngày 10/4/2024, nguyên
đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn nghĩa vụ trả lại số tiền cọc đã nhận 85.000.000
đồng, cho rằng công trình không thi công được nữa do bên thứ ba ngăn cản. Bị
đơn không đồng ý trả tiền nên phát sinh tranh chấp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét hợp đồng đặt cọc: Mặc dù nội dung và hình thức hợp đồng chưa đảm bảo
do không đề cụ thể ngày, tháng, năm, nhưng đã thể hiện ý chí của các bên đều
thống nhất ngày 10/4/2024, chị T đã giao cho bị đơn số tiền 90.000.000đồng tiền
cọc để xây dựng nhà ở. Bị đơn đã tiến hành động thổ thi công ngày 24/7/2024. Như
vậy, giao dịch giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp
luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận, việc xây dựng nhà
không thể tiếp tục thi công do anh Đặng Tuấn K đến ngăn cản, tranh chấp
đất với chị T. Điều này được thể hiện qua biên bản hòa giải ngày 09/5/2024 của Ủy
ban nhân dân V (cũ). Như vậy, thực tế cho thấy, ý chí các bên đều muốn thực
hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, nhưng công trình không thể tiếp tục thi công
được do yếu tố khách quan, không phải là lỗi của các bên tham gia. Do đó, bị đơn
đã nhận tiền cọc, nhưng không xây dựng nhà nữa thì phải nghĩa vụ trả lại tiền cọc
là phù hợp.
6
Tuy nhiên, Hội đồng xét xxem xét đến số tiền mua vật ng thợ do
các bên khai nhận trong quá trình thực hiện hợp đồng: Nguyên đơn xác định đã giao
khoán cho bị đơn mua vật tư và công thợ. Bị đơn anh T1 cũng thừa nhận sau khi hai
bên ký kết hợp đồng, anh đã mua vật tư các loại như sắt, đá, ... số tiền theo hóa đơn
cung cấp là 52.020.000đồng. Theo thỏa thuận giữa bị đơn và cửa hàng thì cửa hàng
sẽ giao trước một số vật tư gồm sắt và đá để phục vụ vào ngày khởi ng, khi bước
vào giai đoạn xây dựng, sẽ giao số vật tư còn lại theo yêu cầu của anh T1. Do không
xây nhà nữa nên bị đơn anh T1 đã đổi trả số vật (vật cửa hàng chưa giao)
cho cửa hàng, để nhận lại số tiền khoảng 20.000.000đồng. Lời khai này của bị đơn
phù hợp với nội dung Biên bản xác minh ngày 06/8/2025 của Tòa án tại cửa hàng
vật liệu xây dựng 8 Vẹn. Đáng lẽ, khi nhận hoàn tiền vật tư, anh T1 phải trả số tiền
khoảng 20.000.000đồng trên cho nguyên đơn, nguyên nhân ngưng hợp đồng
không phải do nguyên đơn chủ động hủy hợp đồng do yêu tố khách quan.
Trong khi, ý chí anh T1 cho rằng ngưng việc xây nhà, nên mới đến cửa hàng đổi trả
vật tư lấy tiền, nhưng lại không đồng ý trả tiền mà nại lý do số tiền này chia hết cho
thợ là không phù hợp. Vì thực tế, không việc xây dựng thì không thể nào trả công
thợ. Tại phiên tòa, anh lại khẳng định do đổi trả vật tư cho cửa hàng trong
thời gian chờ, khi nào chị T báo sẽ tiếp tục xây dựng. Như vậy, trong lời khai của
anh đã sự mâu thuẫn. nếu trong thời gian chờ thì càng không thể trả vật tư.
Bởi vì, nếu trả hết vật tư thì khi chị T báo tiếp tục xây dựng thì lúc đó không có vật
tư để làm công trình ngay.
Riêng số vật giao trước để phục vụ ngày khởi công bao gồm sắt và đá. Bị
đơn khai đã sử dụng một số sắt vào nhu cầu cá nhân, đồng ý trả số sắt còn lại, toàn
bộ 03 khối đá thì không còn. Phía nguyên đơn không đồng ý nhận, vì sắt đã bị rỉ sét,
mất công dụng cũng không đồng ý trừ lại số tiền sắt đã mua, chỉ đồng ý trừ lại
tiền mua đá. Hội đồng xét xử nhận thấy, do các bên thỏa thuận giao khoán việc mua
vật nên trách nhiệm quản đối với số vật thuộc vanh T1 nên Hội đồng xét
xử không thể xem xét trừ lại tiền mua sắt. Việc nguyên đơn đồng ý trừ lại tiền mua
đá 4x6cm theo hóa đơn là 1.410.000đồng cho bị đơn là hợp lý.
Đối với việc anh T1 cho rằng đã chia tiền cho 07 người, gồm 4 thợ và 03 phụ
hồ. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu anh T1 cung cấp danh sách đầy đủ họ tên, năm
sinh, địa chỉ của những người này để làm rõ vấn đề, nhưng anh đã không cung cấp
đầy đủ năm sinh. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét. Hơn nữa, bản
thân anh T1 xác định, việc anh thỏa thuận với thợ xây được giao khoán anh
không trách nhiệm báo với chị T về việc thỏa thuận với thợ xây như thế nào. Cho
nên anh nại ra việc chia tiền hết cho các thợ vấn đề giữa anh với các thợ, không
liên quan đến nguyên đơn. Nay không đồng ý trả lại tiền, trong khi chưa xây nhà nên
là điều bất hợp lý.
Như vậy, số tiền đặt cọc là 90.000.000đồng. Tuy nhiên, phía chị T đồng ý trừ
lại số tiền công thợ ngày khởi công 2.450.000đồng, tiền mua đá nêu trên
1.410.000đồng, tổng cộng là 3.860.000đồng, số tiền nguyên đơn tính tròn là
5.000.000đồng, nên chị T chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 85.000.000đồng, nvậy
lợi cho bị đơn. Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại 85.000.000đồng.
7
[4] Kết quả xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 06/8/2025 xác định: Diện tích
đất tranh chấp đất trống, không công trình xây dựng, nhưng được đào 03 móng,
kích thước ngang khoảng 3 tấc, dài 03 tấc, chiều sâu khoảng 02 tấc. Ngoài ra, còn
03 khối đá 4x6cm được để nhờ trên đất ông Đặng Đức T2. Hiện trạng nêu trên,
phù hợp với lời khai của các bên đương strong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên
tòa, các bên đều thống nhất không ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét.
[5] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu xem xét tính lãi suất 10% t ngày
10/9/2024 đến ngày Tòa án xét xử. Tuy nhiên, tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý rút
lại yêu cầu này. Xét việc rút lại yêu cầu không tính lãi suất của nguyên đơn t
nguyện, không trái pháp luật và có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại đối với diện tích đất
tranh chấp, tổng cộng là 836.000đồng. Do yêu cầu được chấp nhận nên nguyên đơn
không phải chịu; bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định. Xét quan
điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận chị T không phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 328 của Bộ luật Dân sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
X:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim
T. Buộc anh Nguyễn Văn T1 nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Kim T số tiền là
85.000.000 đồng (T3 mươi lăm triệu đồng).
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim T
về việc rút lại yêu cầu tính lãi suất.
Kể từ ngày Đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất theo quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Về chi phí tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 nghĩa vụ trả cho chị
Nguyễn Kim T số tiền là 836.000 đồng (T3 trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
4. Về án phí:
8
- Chị Nguyễn Kim T không phải chịu án phí, nên được hoàn lại 2.125.000đồng
(Hai triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu
thu số 0007896 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành,
An Giang. Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10-An Giang.
- Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 4.250.000đ (Bốn triệu, hai trăm năm mươi
nghìn đồng) án phí dân s sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết
hợp lệ.
Trường hp bn án, quyết định đưc thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut
Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân
sự, người có quyn li, nghĩa v liên quan có quyn tha thun thi hành án, quyn
yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy
định ti các Điều 6, 7 và Điu 9 ca Lut Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án
đưc thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND KV 10-An Giang;
- THADS KV 10-An Giang;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Thị Mỹ Linh
9
10
11
Tải về
Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 40/2025/DS-ST Bản án số 40/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất