Bản án số 40/2019/KDTM-ST ngày 06/11/2019 của TAND Quận 9, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2019/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2019/KDTM-ST ngày 06/11/2019 của TAND Quận 9, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thi công
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 9 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 40/2019/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/11/2019
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
____________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________________________________________
Bản án số: 40/2019/KDTM-ST
Ngày: 06-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng thi công.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Đăng Vạn.
2/ Ông Nguyễn Chí Quý.
- Thư phiên tòa: Đậu Thị Hải Hoài - Thư Tòa án nhân n
Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 tham gia phiên tòa:
Trương Thị Ngọc Huệ Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ
số 57/2018/TLST-KDTM ngày 17 tháng 12 năm 2018 về Tranh chấp hợp đồng
thi côngtheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2019/QĐXXST-KDTM
ngày 08 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/QĐST-KDTM
ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí
Minh, giữa:
1/ Nguyên đơn: Công ty ĐPT.
Trụ sở tại: số x đường Y, khu phố Phước Hiệp, phường Trường Thạnh,
Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Đào Đ, sinh năm
1984, chức danh: Giám đốc.
Địa chỉ: số a khu phố 2, phường Phước Long B, Quận 9, Thành phố Hồ
Chí Minh
2/ B đơn: Công ty TL
Trụ stại: số c đưng Z, t6, khu ph Ích Thạnh, phường Tờng Thạnh,
Quận 9, Thành phHồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của b đơn: Ông Nguyễn TL, sinh năm
1983, chức danh: Giám đốc.
2
Địa chỉ: số c đường Z, tổ 6, khu phố Ích Thạnh, phường Trường Thạnh,
Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Thân H, sinh năm 1949
Bà Vũ T, sinh năm 1987
Cùng địa chỉ: số j (số mới g) khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 26/9/2018 của Công ty D, trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Đào Đ là ni đại din theo pháp lut của
nguyên đơn trình bày:
Tháng 11 năm 2016, Công ty TL (gọi tắt Công ty L) Công ty ĐPT
(gọi tắt Công ty D) thỏa thuận với nhau về việc thi công xây dựng theo đó
Công ty D nhận khoán gọn (trọn gói phần vật tư nhân công) để thi công hoàn
thiện toàn bộ căn nhà tại số j khu phố 6, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai do
Thân H làm chủ đầu theo đúng hồ thiết kế bảng báo giá đã được hai
bên thống nhất. Hai bên không kết hợp đồng nhưng làm Quyết toán công
trình ngày 02/6/2017.
Số tiền khoán thi công theo thỏa thuận 550.000.000 đồng, bao gồm tất
cả các chi phí để thực hiện nội dung công việc (chi phí vật , lợi nhuận, thuế..).
Trong quá trình thi công, nếu phát sinh tăng hoặc giảm khối lượng các hạng
mục xây lắp, hai bên sẽ cùng bàn bạc và thỏa thuận để làm sở cho việc thanh
toán. Thực hiện theo thỏa thuận, Công ty L đã ứng trước cho Công ty D số tiền
165.000.000 đồng vào tháng 11/2016 và 120.000.000 đồng vào tháng 12/2016.
Công ty D đã thi công công trình đúng thời gian hai bên thỏa thuận 65
ngày kể từ ngày Công ty L bàn giao mặt bằng và đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Trong quá trình thi công phát sinh một số hạng mục với tổng chi pphát
sinh là 42.272.000 đồng, Công ty L cũng đồng ý thanh toán.
Sau khi thi công xong công trình, ngày 02/6/2017, Công ty L Công ty
D làm Quyết toán công trình trong đó Công ty L xác nhận còn nợ Công ty D
số tiền 301.872.000 đồng hẹn ngày 15/01/2018 trả 200.000.000 đồng, ngày
30/01/2018 trả 100.000.000 đồng.
Tuy nhiên, đến hẹn Công ty L không thực hiện việc thanh toán cho Công
ty D đã được nhắc nhở nhiều lần do đó Công ty D khởi kiện yêu cầu a án
buộc Công ty L phải trả 01 lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp
luật cho Công ty D số tiền còn thiếu khi thi công hoàn thiện căn nhà tại số j khu
phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 301.872.000
đồng. Công ty D không yêu cầu Công ty L phải trả tiền lãi chậm trả.
Bị đơn Công ty L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn
vắng mặt không do nên vụ án không tiến hành hòa giải được được đưa
ra xét xử công khai.
3
Ngày 05/7/2019, ông Nguyễn TL Đơn xin hoãn phiên tòa ngày
09/7/2019 với do ông đi làm xa, không trực tiếp nhận giấy triệu tập của Quý
tòa nên không kịp phản hồi hay tập hợp hồ để trình bày với Tòa. Trong quá
trình hợp tác công việc, Công ty Đại Thịnh Phát đã không thực hiện đúng nội
dung các bên đã thỏa thuận gây nhiều thiệt hại cho Công ty L. Trong q
trình thanh quyết toán Công ty Đại Thịnh Phát do ông Đ người đại diện theo
pháp luật nhiều lần dẫn người tới uy hiếp dùng lực ép ông phải nhận
sai nội dung đã thực hiện.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thân H trình bày: là chủ
căn nhà số j khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Công ty L thuê Công ty D thi công. đã thanh toán toàn bộ tiền thi công
cho Công ty L theo hợp đồng thi công con gái T với Công ty L
thông qua tài khoản của con gái bà. Bà không ký hợp đồng thi công với Công ty
L và Công ty D
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T trình bày: người
trực tiếp hợp đồng để thuê Công ty L thi công căn nhà số 4/18A khu phố 6,
phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mẹ làm chủ sở
hữu. người giám sát toàn bộ quá trình thi công căn nhà trên trực tiếp
làm việc ng như thanh toán tiền với bên Công ty L. không biết Công ty D,
chỉ biết ông Đ người được Công ty L thuê để thi công căn nhà của mẹ bà.
Giữa bà và Công ty L, Công ty D cũng như ông Đ không có ký hợp đồng 3 bên.
Đối với các hạng mục phát sinh của căn nhà trong quyết toán ngày 02/6/2017
giữa Công ty L và Công ty D tchỉ việc xây tường nhà chú Sáng chi
phí vận chuyển làm theo yêu cầu của bên bà, còn những hạng mục khác
chuyện nội bộ giữa Công ty L Công ty D, không liên quan. Chi phí
phần phát sinh theo yêu cầu của bà nói trên, cũng như tiền thi công căn nhà,
đã thanh toán đầy đủ cho bên Công ty L. Riêng số tiền 32.750.000 đồng tương
đương 5% giá trị hợp đồng là tiền bảo hành thì Công ty L không lấy vì bên Công
ty L không sửa nhà nếu nhà hư hỏng, số tiền này Công ty L nói dùng để
thuê thợ sửa lại nhà khi nhà bị hại. Vấn đề thanh toán giữa Công ty L
Công ty D, không biết. không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì. Theo
bà, nếu Công ty L xác nhận nợ Công ty D thì nên trả tiền, những vấn đề khác, bà
không có ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn Công ty D do ông Đào Đ người đại diện theo pháp luật vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Công ty L phải trả 01 lần ngay sau khi
bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cho ng ty D số tiền còn thiếu khi thi
công hoàn thiện căn nhà tại số j khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai do H làm chủ sở hữu, 301.872.000 đồng theo Quyết
toán công trình ngày 02/6/2017. Công ty D không yêu cầu ng ty L phải trả
tiền lãi chậm trả.
Ông Đ trình bày: Công ty D nhận thi công căn nhà của H theo thỏa
thuận với Công ty L. Giữa H, T với Công ty L Công ty D không
4
kết hợp đồng 3 bên. Trong quá trình thi công, mọi vấn đề phát sinh cũng như
việc giao nhận tiền bạc Công ty D đều làm việc, giao dịch trực tiếp với Công ty
L chkhông làm việc với H, T. Sau khi thi công xong căn nhà, do phía
Công ty L không thanh toán tiền theo quyết toán nên Công ty D nhờ H, T
đôn đốc Công ty L trả tiền. Do không có giao dịch với bà H, bà T nên Công ty D
không yêu cầu bà H, T phải trả tiền thi công. Công ty D đã giao nhà cho phía
Công ty L đúng thời hạn hai bên thỏa thuận.
Công ty L vng mt dù đã đưc Tòa án triu tp hp lđến ln thứ 2.
Bà Thân H và bà Vũ T vắng mặt nhưng có đơn đề xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Th tc th lý, cp tống đạt văn bn, np tin tm ng
án phí đúng theo qui định ca pháp lut. Tòa án vi phm thi hn chun b xét
x. Thm phán thc hin nhim v, quyn hạn đúng quy định ca pháp lut. Gi
quyết định xét x cho các đương s, Vin kim sát nhân dân Quận 9, cũng n
vic gi h để Vin kim sát nghiên cứu được thc hiện đúng quy đnh pháp
luật. Xác định đúng ngưi tham gia t tng trong v án, ti phiên tòa xét x
vng mặt đương s đúng theo ca pháp lut. Hội đồng xét x thc hiện đúng
quyn hạn theo quy đnh pháp lut. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự,
người đại diện ủy quyền của đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tháng 11 năm 2016, Công ty D và Công ty L thỏa
thuận nhận thi công trọn gói căn nhà số j, khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Hai bên không kết hợp đồng nhưng sau khi
hoàn thành công việc bàn giao căn nhà cho phía bà H, hai bên kết
Quyết toán công trình ngày 02/6/2017 xác nhận lại các thỏa thuận của hai bên
nên đây được coi hợp đồng của hai bên. Công ty D đã thực hiện việc thi công
và giao nhà đúng thỏa thuận 2 bên, các hạng mc phát sinh, phía Công ty Lcũng
đồng ý thanh toán. Theo nội dung Quyết toán công trình ngày 02/6/2017 thì
Công ty L chưa thanh toán cho Công ty D số tiền 301.872.000 đồng nên đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty D: Buộc Công ty L
phải thanh toán cho Công ty D số tiền còn thiếu khi thi công căn nhà số 4/18A
khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
301.872.000 đồng.
Án pdân sự thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại
giá ngạch, Công ty L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty D
khởi kiện yêu cầu Công ty L phải trả cho Công ty D số tiền còn thiếu khi thi
công hoàn thiện căn nhà tại số j, khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai là 301.872.000 đồng theo Quyết toán công trình ngày
02/6/2017 nên đây vụ án tranh chấp về hợp đồng thi công thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
Theo Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên số 0313560190 của Công ty L do Phòng đăng kinh
doanh Sở Kế hoạch Đầu Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp kèm theo Văn
bản số 8061/ĐKKD-THKT ngày 28/12/2018 thì Công ty L có trụ sở chính tại số
c đường Z, tổ 6, khu phố Ích Thạnh, phường Trường Thạnh, Quận 9, Thành phố
Hồ Chí Minh và đến nay Công ty L chưa đăng giải thể nên căn cứ quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
- Việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Theo Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên của Công ty D, đăng lần đầu ngày 15/09/2016, đăng
thay đổi lần thứ 1 ngày 12/09/2017 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty
D là ông Đào Đ, chức danh: Giám đốc do đó việc ông Đào Đ tham gia tố tụng
với tư cách đại diện của nguyên đơn là hợp lệ nên chấp nhận.
Bị đơn Công ty L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần
thứ hai nhưng vẫn vắng mặt (không mặt người đại diện theo pháp luật cũng
như người đại diện theo ủy quyền) không do nên căn cứ quy định tại
điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân snăm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty L.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thân H, T vắng mặt
nhưng đơn đnghị xét xử vắng mặt do đó căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
H, bà T.
Các đương sự tham gia thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vtố tụng.
Các bên đương sự không yêu cầu mời người làm chứng nên Hội đồng xét xử
không xem xét mời người làm chứng trong vụ án.
- Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng
cứ nào khác tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ
nào khác.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
6
[3.1] Xét Quyết toán công trình ngày 02/6/2017 giữa Công ty D và Công
ty L:
Căn cứ Danh mục các ngành nghề kinh doanh của Công ty L và Công ty
D thì cả hai đều chức năng xây dựng nhà do đó sau khi thi công xong căn
nhà của bà Thân H tại số j, khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai, Công ty D Công ty L lập Quyết toán công trình ngày
02/6/2017 để xác nhận lại các hạng mục đã thi công theo thỏa thuận của hai bên,
giá trị hợp đồng, phần đã thanh toán, phần chưa thanh toán, các hạng mục phát
sinh … là phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 117, 118, 119 của Bộ
luật Dân sự năm 2015; Điều 138, Điều 139, Điều 141 của Luật Xây dựng 2014;
Điều 6 của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ. Do đó
đây được coi là hợp đồng thi công làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[3.2]. Xét tại Đơn xin hoãn phiên tòa ngày 05/7/2019, ông Nguyễn TL
cho rằng: Trong quá trình hợp tác công việc, Công ty Đại Thịnh Phát đã không
thực hiện đúng nội dung các bên đã thỏa thuận gây nhiều thiệt hại cho Công
ty L. Trong quá trình thanh quyết toán Công ty Đại Thịnh Phát do ông Đ
người đại diện theo pháp luật nhiều lần dẫn người tới uy hiếp dùng lực ép
ông phải ký nhận sai nội dung đã thực hiện.
Phía Công ty D không thừa nhận ý kiến trình bày trên của ông L; và trong
suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng ntại phiên tòa, ông L cũng n
Công ty L không cung cấp bất kỳ tài liệu chứng cứ chứng minh cho trình bày
trên của mình nên Hội đồng xét xử không sở xem xét chấp nhận nội dung
trình bày trên của ông L.
[3.3] Xét nội dung Quyết toán công trình ngày 02/6/2017:
Theo xác nhận của Công ty L tại Quyết toán công trình ngày 02/6/2017 và
sự thừa nhận của H, T thì phía Công ty D đã thi công xong căn nsố j
khu phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bàn giao
nhà cho phía Công ty L; Công ty L cũng đã giao nhà cho bà H, bà T sử dụng.
Đồng thời tại bản Quyết toán trên, Công ty L cũng xác nhận chưa thanh
toán cho Công ty D số tiền 301.872.000 đồng ngày 30/12/2017, Công ty L
hẹn: ngày 15/01/2018 trả trước 200.000.000 đồng ngày 30/01/2018 trả
100.000.000 đồng, đến hẹn không trả chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Do Công ty L không thực hiện việc thanh toán tiền thi công nên Công ty
D khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty L phải trả cho Công ty D số tiền còn
thiếu khi thi công hoàn thiện căn nhà tại số j, khu phố 6, phường Tam Hiệp,
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo xác nhận của Công ty L tại Quyết toán
công trình ngày 02/6/2017 với số tiền 301.872.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Công ty D không yêu cầu Công ty L trả tiền lãi chậm trả nên Hội đồng xét
xử ghi nhận.
[4] Án phí dân s thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ quy định tại
7
Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 26
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí lệ phí Tòa án, bị đơn Công ty Tuấn Linh phải chịu án phí thẩm với số
tiền là: 5% x 301.872.000 đồng = 15.093.600 đồng;
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1
Điều 39, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khon 3 Điều 228, Điều
266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 138, Điều 139, Điều 141 của Luật Xây dựng 2014; Điều 6
của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính ph
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty ĐPT:
Buộc Công ty TL phải thanh toán một lần, ngay khi án hiệu lực pháp
luật, cho Công ty D số tiền còn thiếu khi thi công hoàn thiện căn nhà tại số j khu
phố 6, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo xác nhận tại
Quyết toán công trình ngày 02/6/2017 301.872.000đ (ba trăm lẻ một triệu tám
trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty ĐPT không yêu cầu Công ty TL phải
thanh toán tiền lãi chậm trả.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân snăm 2015, tương ng với thời
gian chưa thi nh án.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại
giá ngạch Công ty TL phải chịu 15.093.600đ (mười lăm triệu không trăm
chín mươi ba nghìn sáu trăm đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9.
Hoàn lại cho Công ty ĐPT số tiền 7.546.800đ (bảy triệu năm trăm bốn
mươi sáu nghìn tám trăm đồng) tạm ứng án phí Công ty ĐPT đã nộp theo biên
lai thu tiền số AA/2018/0009013 ngày 30/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 9.
3/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
8
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
4/ Về quyền kháng cáo:
Công ty ĐPT được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktừ tuyên
án.
Công ty TL, bà Thân H, bà T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND Q.9;
- Chi cục THADS Q.9;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hợi
Tải về
Bản án số 40/2019/KDTM-ST Bản án số 40/2019/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất