Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp ly hôn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bảo Lâm (TAND tỉnh Lâm Đồng)
Số hiệu: 40/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2019
V/v tranh chấp: “Ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Biên
Các Hội thẩm nhân dân: Hồ Thị Hồng Liên
Bà Nguyễn Thị Tài
- Thư phiên tòa: Thị Thúy Thành-Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện B tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Hà-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm
Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân và gia
đình thụ số 82/2019/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp
Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐXXST-HNGĐ
ngày 23 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ChNguyễn Thị Ái V, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2019 của chị Nguyễn Thị Ái V quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ái V anh Nguyễn Xuân T quen
biết và tìm hiểu nhau trong khoảng hơn 01 năm thì được hai bên gia đình đồng ý,
tổ chức lễ cưới theo phong tục tự nguyện đăng kết hôn UBND L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/3/2004.
Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh quá nhiều mâu thuẫn do cả hai
quan điểm sống khác nhau về tình cảm, công việc nên phần ai người đó sống,
không quan tâm chăm sóc vợ con. Nguyên nhân do anh T ham chơi cờ bạc, n
2
nần, khi xảy ra mâu thuẫn anh T đánh đập vợ con. Quá trình mâu thuẫn cứ o
dài đến nay không thể hàn gắn được, chị V đã dọn ra ngoài riêng, vợ chồng
không còn sống chung với nhau từ tháng 4/2019 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng
không còn, nếu kéo dài gây ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người cả con
cái. Nay chị V yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Xuân T
2. Về con chung: Quá trình sống chung vợ chồng 02 con chung
Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19/06/2005, Nguyễn Xuân V, sinh ngày 07/12/2007,
nay chị V đồng ý nhận nuôi cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19/06/2005 cho đến
khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung và đồng ý
giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân V, sinh ngày 07/12/2007
cho đến khi con đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản chung: Qúa trình sống chung vợ chồng tài sản chung
nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Đến hiện tại vợ chồng không có nợ chung.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân, tài sản chung, nợ chung thống nhất như chị V trình
bày, nhưng không đồng ý ly hôn với chị V, tài sản chung tự thoả thuận không
yêu cầu Toà án giải quyết, về nợ chung đã giải quyết xong không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hoà giải nhưng không thành.
Sau đó chị Nguyễn Thị Ái V có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải nữa.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu nêu trên, đồng
thời chị V yêu cầu được nuôi cả hai con chung cho đến khi đủ 18 tuổi và yêu cầu
anh T cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng, thời
điểm cấp dưỡng từ khi vợ chng ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý
vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phát biểu ý kiến v
việc giải quyết vụ án như sau:
Giao con chung Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19/06/2005 cho chị V trực
triếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Xuân V, sinh ngày 07/12/2007 cho
anh T trực triếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không ai phải
cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung chị V, anh T tự thoả thuận không
yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, vnợ chung
không nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí đề nghị buộc
chị V phải chịu án phísơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái
V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T nên xác định quan hệ
tranh chấp Ly hôn” thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái V và anh Nguyễn Xuân T
quen biết tìm hiểu nhau trong khoảng hơn 01 năm tđược hai bên gia đình
đồng ý, tổ chức lễ cưới theo phong tục tự nguyện đăng kết hôn UBND
L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/3/2004 hôn nhân hoàn toàn tự
nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Trong thời gian sống chung, chị Nguyễn Thị Ái V anh T đều thừa nhận
giữa vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nay chị V anh T thống nhất
thuận tình ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận về việc thuận
tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ái V và anh Nguyễn Xuân T.
[3] Về con chung: Trong thời gian sống chung, chị Nguyễn Thị Ái V và anh
Nguyễn Xuân T với nhau 02 người con chung Nguyễn Xuân T, sinh ngày
19/6/2005 và Nguyễn Xuân V, sinh ngày 04/12/2007. Hiện nay các con chung do
chị Nguyễn Thị Ái V đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, các cháu
trình bày nguyện được với mẹ. Tuy nhiên, Để giảm bớt gánh nặng cho cả
hai bên nên giao con chung Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19/6/2005 cho chị
Nguyễn Thị Ái V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, giao con chung là
Nguyễn Xuân V, sinh ngày 04/12/2007 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến
khi đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là hợp lý và phù hợp với
quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ái V anh Nguyễn Xuân T đều
trình bày đvợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét
xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ái Vvà anh Nguyễn Xuân T đều trình
bày không có n Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ái V xin ly n nên buộc chị V phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55,
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật
dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôncủa chị Nguyễn Thị Ái V
với anh Nguyễn Xuân T.
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ái V Nguyễn Xuân
T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19/6/2005
cho chị Nguyễn Thị Ái V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, giao con
chung Nguyễn Xuân V, sinh ngày 04/12/2007 cho anh Nguyễn Xuân T trực
tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay
đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy
định của luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Ái V phải chịu 300.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm xin ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Ái
V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0012881 ngày
11/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B, chị Nguyễn Thị Ái V đã nộp
đán phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai nguyên đơn, bị đơn đều có mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a,
Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND huyện B;
- Chi cục THADS huyện B;
- UBND xã L;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ. Trần Văn Biên
Tải về
Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất