Bản án số 40/2018/HNGĐ-ST ngày 09/04/2018 của TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 40/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 40/2018/HNGĐ-ST ngày 09/04/2018 của TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nghĩa Hưng (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 40/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/04/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Trần Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
T ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án s: 40/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 09 - 4 - 2018.
V/v tranh chấp về hôn nhân và
gia đình.
CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Văn Rạng.
- Ông Đàm Văn Kiều.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú Thư ký Toà án.
Ngày 09/4/2018 ti tr s Toà án nhân dân huyn N m phiên toà xét x sơ
thm công khai v án th s: 181/2017/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm
2017. V tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa v án ra xét x s:
11/2018/QĐXX-ST ngày 12/3/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2018/QĐST
- HNGĐ ngày 30/3/2018 gia các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H Sinh năm: 1993;
Địa chỉ: Thôn 10, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
- Bị đơn: Anh Trần Văn H Sinh năm: 1991;
Địa chỉ: Đội 4 Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa vắng mặt chị H và anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Phạm Thị H vắng mặt (đã đơn xin
xét xử vắng mặt) nhưng trong đơn khởi kiện lập ngày 10/12/2017 cũng như lời khai
của chị Phạm Thị H tại các buổi làm việc thể hiện: Chị kết hôn với anh Trần Văn H
vào tháng 01/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N,
tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì xảy
ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống dẫn đến v
chồng thường xuyên xảy ra xát cãi chửi nhau, mặc đã được gia đình động
viên khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Đến tháng
01/2017 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình
cảm giữa chị anh H không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích
2
hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét giải
quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về con chung: Chị Phạm Thị H trình bày giữa chị anh H một con
chung cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/7/2015 kể từ khi vợ chồng ly thân con
chung do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nhưng đến tháng 12/2017 anh H
xin đón về nhà chơi với ông bà nội, khi chị đến đón con về thì anh H không cho chị
đón con. Vợ chồng ly hôn chị H xin nhận trực tiếp nuôi cháu Trần Tuấn T
không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh chị H.
Về tài sản chung của vợ chồng chị H khai vợ chồng chị không tài sản
chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị H đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt (anh H đã được triệu tập hợp
lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không do) nhưng tại các buổi
làm việc anh Trần Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Phạm Thị H vào tháng
01/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam
Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống a thuận hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì
mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm
sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến vchồng thường
xuyên xảy ra xát cãi chửi nhau, đến đầu tháng 01/2017 thì vợ chồng anh sống ly
thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn
anh xác định tình cảm giữa anh và chị H vẫn còn, anh H muốn chị H về đoàn tụ với
gia đình tiếp tục nuôi dạy con cái trưởng thành mặt khác gia đình anh gia đình
công giáo nên anh không nhất trí ly hôn.
Về con chung anh Trần Văn H xác định vợ chồng một con chung cháu
Trần Tuấn T, sinh ngày 25/7/2015 kể từ khi vợ chồng ly thân con chung do chị H
trực tiếp chăm c nuôi dưỡng nhưng tháng 12/2017 anh đã đón con về N .
Nếu vợ chồng phải ly hôn thì anh H nguyện vọng nuôi cháu T không yêu cầu
chị H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng anh H.
Về tài sản chung anh H xác định vợ chồng không tài sản chung, anh
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự căn cứ vào kết quả tranh luận tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về ttụng: Anh Trần Văn H trú tại huyện N. Nay chPhạm Thị H
đơn xin ly hôn anh Trần Văn H Tòa án nhân dân huyện N thụ giải quyết
đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị H anh Trần Văn H đều
3
vắng mặt nhưng chị H đã đơn xin xét xvắng mặt, còn anh H đã được triệu tập
hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa đây lần thứ hai vậy Hội đồng xét xử
căn cứ các Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo
quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H anh Trần Văn H
vào tháng 01 năm 2014 trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại UBND N
một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau
khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn sau đó vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng
quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Mặc dù
được gia đình hai bên động viên khuyên giải nhưng không thành vợ chồng ly thân
nhau từ tháng 01/2017. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị
Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng chị được ly hôn. Anh Trần Văn H
quan điểm tình cảm giữa anh chị H vẫn còn, anh muốn chị H vđoàn tụ với gia
đình tiếp tục nuôi dạy con cái trưởng thành mặt khác gia đình anh là gia đình công
giáo nên anh không đồng ý ly hôn với chị H.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị H anh Trần Văn H phát
sinh, vchồng đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay. Trong quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để hai bên hội đoàn tụ nhưng đến nay
tình cảm vợ chồng chị H và anh H vẫn không được cải thiện, vợ chồng chị H anh H
vẫn sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy tình cảm vợ chồng không còn,
hội đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị H xin ly hôn
xét thấy căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét quan điểm của anh Trần Văn H không nhất trí ly hôn con n nhỏ
mong muốn chị H vđoàn tụ với gia đình tiếp tục nuôi dạy con i trưởng
thành mặt khác gia đình anh lại là gia đình công giáo, nhưng anh H cũng thừa nhận
việc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến
nay và trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để hai bên có cơ hội
đoàn tụ nhưng đến nay tình cảm vchồng anh chị vẫn không được cải thiện. Do
vậy việc anh H không nhất trí ly hôn chị H xin được đoàn tụ không căn cứ
do vậy không được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Phạm Thị H anh Trần n H một con chung
cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/7/2015 kể từ khi vợ chồng ly thân con chung do
chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nhưng đến tháng 12/2017 anh H đón con về
N nuôi dưỡng. Chị H xin nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu T không yêu cầu
4
anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H, phía anh H cũng
nguyện vọng nuôi cháu Trần Tuấn T và không yêu cầu chị H phải đóng góp cấp
dưỡng nuôi con cùng anh H.
Xét nguyện vọng của chị H anh H chính đáng, phù hợp với pháp luật,
nhưng xét thấy cháu T hiện còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy Hội đồng xét x
cần chấp nhận giao cháu T cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với
quy định tại khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân gia đình. Việc chị H không yêu cầu
anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị hoàn toàn tự nguyện
không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật vì vậy được chấp
nhận. Anh Trần Văn H phải trách nhiệm giao con chung cháu Trần Tuấn T,
sinh ngày 25/7/2015 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng phù hợp.
[4] Về tài sản chung vợ chồng: Chị Chị Phạm Thị H anh Trần Văn H đều
thống nhất xác định vchồng không tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự thẩm chị Phạm Thị H phải nộp theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[1] - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H.
[2] - Về con chung: Xử giao cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/7/2015 cho chị
Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con
cùng chị H. Anh Trần Văn H phải trách nhiệm giao con chung cháu Trần
Tuấn T, sinh ngày 25/7/2015 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng. Không ai được ngăn
cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
[3] - Án phí dân sự thẩm chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số BB/2012/06181
ngày 19/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, chị H đã nộp đủ án phí
dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng
mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống
đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dântnh;
- VKSND huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Các đương sự;
- UBND xã N;
- Lưu văn phòng; HSVA.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Phạm Hùng Phƣơng
Tải về
Bản án số 40/2018/HNGĐ-ST Bản án số 40/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất