Bản án số 38/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
38_2023_DS-PT_ PHU YEN
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
38_2023_DS-PT_ PHU YEN
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Yên |
| Số hiệu: | 38/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Tấn H và Nguyễn Hồng T về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 38/2023/DS-PT
Ngày: 12/5/2023
V/v tranh chấp ranh giới
bất động sản liền kề
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Mai Tấn Hoàng.
Các Thẩm phán: ông Lê Trúc Lâm và bà Vũ Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Ý Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: ông Lê Văn Đẳng -
Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 118/2022/DSPT ngày
12/12/2022 về việc “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề”. Do bản án dân
sự sơ thẩm số 27/2022/DS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân
huyện T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2023/QĐ-PT ngày
02 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐ-PT ngày 15
tháng 02 năm 2023; Thông báo thời gian mở phiên tòa số 52/TB-TGXX ngày
12/4/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: thôn N, xã
A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Lưu Ngọc
C – Luật sư, Văn phòng Luật sư N, Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bị đơn: ông Nguyễn Hồng T, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: thôn N, xã A,
huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Võ Thị D, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: thôn N, xã A, huyện T, tỉnh
Phú Yên. Có mặt.
2/ Ông Nguyễn Kim H, sinh năm; 1970; Nơi cư trú: thôn N, xã A, huyện
T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người kháng cáo: nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2020, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa
nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H trình bày: ông có thửa đất số 48, tờ bản đồ 33
(đo đạc năm 2012), diện tích 185,8m
2
loại đất ONT+BHK, tại thôn N, xã A,
huyện T, tỉnh Phú Yên. Có giới cận: Đông giáp đất nhà ở của ông Nguyễn S,
Tây giáp đất nhà ở của ông Nguyễn Hồng T, Nam giáp đất đồn biên phòng, Bắc
giáp đường giao thông nông thôn. Đất nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông
Nguyễn Kim H, đến khoảng tháng 10/2020 hộ ông Nguyễn Hồng T tự ý xây
tường rào lấn chiếm qua phần đất của ông khoảng 5,33m
2
, đo đạc thực tế là
5,8m
2
, nên ông yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông.
* Tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Hồng T trình
bày: Thửa đất số 49, liền kề với thửa đất của ông Nguyễn Kim H (đã chuyển
nhượng lại cho ông Nguyễn Tấn H) là của gia đình ông, ông đã xây dựng nhà ở
trên 20 năm, phần trên không của diện tích đất này có tấm đan máng nước từ khi
xây dựng nhà đến nay. Đối với diện tích thực tế bị lấn chiếm 5,8m
2
, vợ chồng
ông sử dụng ổn định, các ranh giới liền kề trong đó có ông H sử dụng trước khi
chuyển nhượng cho ông H không tranh chấp. Trong quá trình cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông là Nguyễn Hồng T và Võ Thị D, có
xác nhận của các chủ đất ranh giới liền kề, ông H có xác nhận vào mốc ranh
giới. Năm 2020 vợ chồng ông xây dựng tường rào trên tường rào cũ vào có dịch
vào phần đất do ông sử dụng đất, nên ông không chấp nhận yêu cầu của ông H. Đề
nghị công nhận diện tích đất đang tranh chấp là của vợ chồng ông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị D thống nhất như lời
trình bày của ông T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Kim H trình bày:
Thửa đất số 48 do vợ chồng ông được cấp quyền sử dụng với diện tích là 165m
2
(giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ). Vợ chồng ông chuyển nhượng diện
tích đất này cho ông H và giao giấy tờ lại cho ông H để làm thủ tục, thời điểm
vợ chồng ông chuyển nhượng đất cho ông H, ranh giới đất liền kề giữa vợ chồng
ông và ông T là đường thẳng, vợ chồng ông làm tường gạch, trồng trụ chia ranh
giới còn hiện nay thì ông không biết vì vợ chồng ông đã chuyển nhượng xong nên
không quan tâm. Ranh giới đất liền kề giữa vợ chồng ông và ông T có khoảng trên
20 năm có nhiều người sống gần đó biết việc này và vợ chồng ông cũng không
tranh chấp gì đối với ranh giới này, vì trước khi chuyển nhượng, vợ chồng ông và
ông T cùng sống ở đó không tranh chấp.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2022/DS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
Căn cứ vào: Điều 35; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 105, Điều 107; Điều 115
và Điều 175 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Tấn H đối với bị đơn ông Nguyễn Hồng T.
3
Công nhận quyền sử dụng đất ranh giới liền kề và giao diện tích đất 5,8m
2
thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 33, đo đạc năm 2012, đất có giới cận: Đông giáp
đất ông Nguyễn Tấn H, Tây giáp đất bà Lê Thị Như T, Nam giáp giáp đất đồn
biên phòng, Bắc giáp đường liên thôn cho vợ chồng ông Nguyễn Hồng T quản
lý, sử dụng (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).
Vợ chồng ông Nguyễn Hồng T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm
quyền để làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về tài sản trên đất: ông T tiếp tục quản lý, sử dụng miếng đan máng nước
theo biên bản định giá ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng; quy
định thi hành án và thời hạn kháng cáo của đương sự.
Ngày 25/10/2022, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn và Luật sư của mình giữ nguyên ý kiến của mình về yêu cầu
khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn giữ nguyên ý kiến trình bày, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của
Thẩm phán, HĐXX và những người tham gia tố tụng là đúng quy định. Về nội
dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương
sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Diện tích đất tranh chấp 5,8m
2
có giới cận: Đông giáp đất của ông
Nguyễn Tấn H; Tây giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hồng T; Nam giáp đất
của Đồn biên phòng; Bắc giáp đường liên thôn. Diện tích đất này nguyên đơn
cho rằng trước đây thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Kim H sau đó
ông H chuyển nhượng lại cho ông vào năm 2019. Tại bút lục số 68 lời khai của
ông H thể hiện: ranh giới đất giữa vợ chồng ông và ông T như tường rào đá thể
hiện trên đất ông T, thời điểm vợ chồng ông chuyển nhượng đất cho ông H,
ranh giới liền kề giữa vợ chồng ông và ông T là đường thẳng và ông khẳng
định chỉ chuyển nhượng cho ông H 165m
2
, ông không tranh chấp ranh giới
này.
Lời khai của ông H là phù hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
UBND huyện T cấp cho ông ngày 12/01/2009; phù hợp giấy chứng nhận QSD
đất UBND huyện T cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Hồng T; phù hợp bản đồ đo
đạc năm 1997, còn bản đồ đo đạc năm 2012, ranh giới là đường gấp khúc như
ý kiến của nguyên đơn. Tại công văn 2087/CV-CNVPĐK ngày 05/9/2022 của
4
Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện T thể hiện quá trình đo vẽ hiện trạng khu đất
chuyển nhượng là do căn cứ theo bản đồ đo đạc chỉnh lý năm 2012, chi nhánh
không đi kiểm tra hiện trạng chỉ cho thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và chỉnh lý trang 3 trên Giấy chứng nhận QSD đất.
Từ các phân tích trên, có cơ sở xác định ranh giới thửa đất 48 và 47, tờ
bản đồ 33 là đường thẳng, được các chủ sử dụng thống nhất xác định ranh giới.
Ông Nguyễn Tấn H là người nhận chuyển nhượng QSD đất cần tôn trọng ranh
giới đã được các chủ sử dụng đất cũ xác định. Tại biên bản xem xét thẩm định
ngày 16/3/2023 thể hiện có 02 trụ bên tông trên đất tranh chấp, nguyên đơn
cho rằng trụ, rào lưới B40 có sẵn từ trước đến nay không xác định được ai
trồng trụ và rào lưới, còn bị đơn khẳng định là do mình trồng trước khi nguyên
đơn nhận chuyển nhượng. Do đó cần chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát
tại phiên tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm, tài sản có trên đất tranh chấp gồm trụ
bê tông và lưới B40 thuộc quyền sở hữu của bị đơn.
[2] Về chi phí đo vẽ thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và án phí: Đương sự
phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn H, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Áp dụng: Điều 35; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 105, Điều 107; Điều 115 và Điều 175 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn H theo đơn khởi kiện
ngày 11/12/2020 đối với ông Nguyễn Hồng T.
Công nhận quyền sử dụng đất ranh giới liền kề và giao diện tích đất 5,8m
2
thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 33, đo đạc năm 2012, đất có giới cận: Đông giáp
đất Nguyễn Tấn H; Tây giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hồng T; Nam giáp
đồn biên phòng; Bắc giáp đường liên thôn, tọa lạc tại thôn N, xã A, huyện T,
tỉnh Phú Yên cho ông Nguyễn Hồng T được quyền sử dụng đất (Có sơ đồ thửa
đất kèm theo). Ông Nguyễn Hồng T được quyền sở hữu hàng rào lưới B40 và
các trụ bê tông có trên đất tranh chấp
Ông Nguyễn Hồng T được tiếp tục quản lý, sử dụng miếng đan máng nước
theo biên bản định giá ngày 12/9/2022 của TAND huyện T.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm
thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có yêu cầu.
[2] Về chi phí phí tố tụng: Ông Nguyễn Tấn H phải chịu chi phí đo vẽ,
xem xét thẩm định và định giá tài sản 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Chi phí xem
5
xét thẩm định tại chỗ ở cấp phúc thẩm 3.500.000đ, mỗi bên phải chịu
1.750.000đ nên ông Nguyễn Hồng T phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn H
1.750.000đ.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Tấn H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ
thẩm, 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng tại biên lai
thu tiền số 0004593 ngày 23/02/2021 và 0005648 ngày 07/11/2022 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông H đã nộp đủ.
[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- TANDCC tại Đà Nẵng;
- TAND H T;
- Chi cục THADS H T;
- Lưu: HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Tấn Hoàng
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Tấn Hoàng
7
8
-
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm