Bản án số 379/2022/HC-PT ngày 30/08/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 379/2022/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 379/2022/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 379/2022/HC-PT ngày 30/08/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Hà Nội |
| Số hiệu: | 379/2022/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/08/2022 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bác kháng cáo của ông Phan Văn C và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2021/HC-ST ngày 04/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 379/2022/HC-PT
Ngày: 30/8/2022
V/v khiếu kiện quyết định
giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Hải Hiệp;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huyền Cường;
Ông Điều Văn Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Phạm Quốc
Huy, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 330/2021/TLPT-HC
ngày 20 tháng 09 năm 2021 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai” .
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2021/HC-ST ngày 04/5/2021 của
Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 7989/2022/QĐ-PT
ngày 15 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Phan Văn C sinh năm 1978, nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú: Thôn Co, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: P709 nhà A3, chung cư
Tổng công ty ĐB - Bộ Quốc Phòng; KM10, phường Q, thành phố P, tỉnh Quảng
Ninh; có mặt.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Bà Bùi
Thanh V, Luật su Công ty Luật TNHH MTV Công Lý Bùi, Đoàn luật sư thảnh
phố Hà Nội; có mặt.
Người bị kiện: Chủ tịch y ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn; có đơn xin xét xử
vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
+ Chủ tịch y ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Người đại diện theo ủy
quyền của Chủ tịch UBND huyện H: Ông Vũ Hoàng, chuyên viên phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện H, tỉnh Lạng Sơn; xin xét xử vắng mặt.
+ y ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, người đại diện theo pháp
luật ông Hoàng Trung Tá, Chủ tịch UBND xã; xin xét xử vắng mặt..
+ Anh Phan Ngọc Nh sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Co, xã Y, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn; có mặt.
+ Ông Ngô Văn L; địa chỉ: Thôn Co, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; người đại
diện theo ủy quyền của ông Ngô Văn L là anh Phan Văn C. Chỗ ở: P709 nhà A3,
chung cư Tổng công ty Đông Bắc - Bộ Quốc Phòng; KM10, phường Quang Hanh,
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Người khởi kiện ông Phan Văn C trình bày: Ông là con trai của ông Phan
Hữu Lễ (đã chết năm 2014), năm 2010 bố ông có gửi đơn xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, tại thửa đất số 124, 144 nguồn gốc đất bố mẹ ông khai
phá từ năm 1981, bố mẹ ông và gia đình đã tiến hành khai hoang phục hóa từ hai
thùng đấu, sâu, trúng, hoang hóa, gia đình ông khôi phục để nuôi cá, trồng cấy
lúa ven bờ những năm thời tiết thuận lợi, đắp bờ xây dựng cửa ống để chăn nuôi
cá và sử dụng ổn định liên tục không có tranh chấp từ đó đến nay.
Năm 2010, bố ông gửi đơn lên UBND xã Y để xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhưng sau đó được UBND xã trả lời là hai thửa đất trên là đất
công cộng do UBND xã sử dụng quản lý nên không xét cấp. Sau đó bố ông liên
tục làm đơn khiếu nại lên UBND huyện H. Năm 2014 bố ông chết đã ủy quyền
cho em trai ông là Pham Ngọc Nh tiếp tục làm đơn khiếu nại đến các cơ quan
chức năng, đến tháng 12 năm 2018 gia đình ông có họp và ủy quyền cho ông
tiếp tục khiếu nại.
Ngày 26/4/2019, ông tiếp tục làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất gửi đến UBND xã nhưng vẫn không được xét cấp, ông đã nhiều lần
làm đơn khiếu nại, ông gửi đến UBND huyện H, ngày 06/7/2020 ông nhận được
Quyết định số 2757/QĐ-UBND, ngày 30/6/2020 của UBND huyện H bác đơn
khiếu nại của ông.
Ngày 17/7/2020, ông tiếp tục làm đơn khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh
Lạng Sơn. Quyết định số 2108/QĐ-UBND, ngày 19/10/2020 của Chủ tịch
UBND tỉnh Lạng Sơn lại tiếp tục bác đơn khiếu nại của ông.
Ngày 25/12/2020, ông viết đơn khởi kiện Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn
yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2108/QĐ-UBND, ngày 19/10/2020 của

3
Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn vì các lý do sau: Quyết định số 2108/QĐ-
UBND, ngày 19/10/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn đều dựa vào báo
cáo cung cấp thông tin không khách quan, không trung thực, sai sự thật về
nguồn gốc và quá trình sử dụng, khai hoang hai thửa đất số 124, 144 của gia
đình ông. Hai thửa đất trên bố ông và anh rể ông đã đăng ký kê khai chủ sử dụng
đất trên hiện trạng có tên trên bản đồ địa chính số 54 xã Y, trích lục bản đồ địa
chính đo đạc năm 2003 trong kỳ đo đạc đất trên địa bàn xã Y để lập hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trên địa bàn xã và thực tế sử
dụng đã được rất nhiều hộ dân liền kề là các cụ cao niên chứng kiến cho là đúng
sự thật.
Quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn
trình bày: Năm 2010, ông Phan Hữu Lễ (bố ông Phan Ngọc Nh và ông Phan
Văn C) có đơn gửi UBND xã Y xin cấp Giấy CNQSD đất đối với 02 thửa đất tại
xứ đồng Cầu Giàng, xã Y. Trên cơ sở báo cáo của UBND xã, Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện H có Văn bản số 171/TNMT ngày 30/12/2010 trả lời đơn
của ông Phan Hữu Lễ, với nội dung: Hộ gia đình ông Lễ không đủ điều kiện để
được xem xét, cấp Giấy CNQSD đất, diện tích ông đề nghị được cấp là đất công
cộng do UBND xã quản lý. Ông Phan Hữu Lễ tiếp tục có các đơn đề ngày
19/02/2012, đơn đề ngày 17/10/2012 và đơn đề ngày 10/7/2013 gửi UBND
huyện H đề nghị xin cấp Giấy CNQSD đất đối với 02 thửa đất nói trên. Trong
quá trình giải quyết vụ việc, ông Lễ làm giấy ủy quyền cho con trai Phan Ngọc
Nh tham gia giải quyết vụ việc. Sau khi ông Lễ chết (ngày 20/2/2014), ông Nh
tiếp tục có đơn (đề ngày 19/5/2014, đơn đề ngày 22/5/2014) gửi UBND huyện
đề nghị được cấp Giấy CNQSD đất đối với hai thửa đất nêu trên. Ngày
02/6/2014, UBND huyện H có Văn bản số 276/UBND-TNMT trả lời đơn của
ông Nh là không đủ điều kiện để được cấp Giấy CNQSD đất. Ông Phan Ngọc
Nh tiếp tục có đơn khiếu nại. Ngày 26/3/2018, Chủ tịch UBND huyện H ban
hành Quyết định số 1129/QĐ-UBND giải quyết đơn của ông Phan Ngọc Nh.
Không đồng ý với Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày 26/3/2018, ông Phan
Ngọc Nh tiếp tục có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND tỉnh.
Do việc ủy quyền của ông Phan Văn Lễ cho ông Phan Ngọc Nh chưa đảm
bảo theo quy định của pháp luật, nên Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch
UBND huyện H thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày 26/3/2018
để xem xét, giải quyết lại vụ việc (tại Công văn số 420/VP-TCD ngày
29/01/2019 của Văn phòng UBND tỉnh).
Ngày 15/02/2019, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số
452/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày 26/3/2018
của Chủ tịch UBND huyện H.
4
Ngày 26/4/2019, ông Phan Văn C có đơn gửi UBND huyện H về việc xin
cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 144, diện tích 741m
2
và thửa đất số
124, diện tích 461m
2
, tờ bản đồ địa chính số 54 xã Y (Ông C được mẹ là bà Lê
Thị Bình và các anh chị em trong gia đình ủy quyền, theo Biên bản họp ủy
quyền được UBND xã Y chứng thực ngày 19/12/2018). Ngày 30/6/2020, Chủ
tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 2757/QĐ-UBND giải quyết bác
đơn của ông Phan Văn C. Không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch
UBND huyện H, ông Phan Văn C có đơn đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh giải
quyết.
Ngày 29/7/2020, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số
1441/QĐ-UBND về việc giao Sở Tài nguyên và Môi trường Nh vụ thẩm tra, xác
minh đơn khiếu nại của ông Phan Văn C. Đồng thời ban hành Thông báo số
405/TB-UBND ngày 04/8/2020 về việc thụ lý đơn khiếu nại của ông Phan Văn
C. Ngày 19/10/2020, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định giải
quyết khiếu nại số 2108/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông
Phan Văn C, trú tại thôn Co, xã Y, huyện H (lần 2), nội dung quyết định bác đơn
khiếu nại của ông Phan Văn C; công nhận Quyết định số 2757/QĐ-UBND của
Chủ tịch UBND huyện H là đúng quy định của pháp luật căn cứ vào kết quả xác
minh cho thấy gia đình ông Phan Văn C không có quá trình sử dụng đất ổn định
đối với thửa đất 144 và thửa đất số 124, UBND xã Y đã quản lý, sử dụng 02
thửa đất từ những năm 1996 cho đến nay, việc quản lý sử dụng đảm bảo theo
quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ, việc ông Phan Văn C cho rằng
gia đình ông có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
không có căn cứ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch y ban nhân dân huyện
H, tỉnh Lạng Sơn, người đại diện theo ủy quyền ông Vũ Hoàng trình bày: Nội
dung ông Phan Văn C khiếu nại UBND huyện H không thực hiện cấp Giấy
CNQSD đất đối với 02 thửa đất số 144, diện tích 741m
2
và thửa đất số 124, diện
tích 461m
2
, tờ bản đồ địa chính số 54 xã Y cho gia đình ông là không có căn cứ
vì gia đình ông Phan Văn C không thuộc trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã sử
dụng đất ổn định, không có tranh chấp, không thuộc trường hợp cấp Giấy
CNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về
quyền sử dụng đất. Gia đình ông Phan Văn C chỉ tận dụng canh tác đối với 02
thửa đất nhưng cũng không liên tục, từ năm 1996 UBND xã Y đã quản lý sử
dụng 02 thửa đất đảm bảo theo các quy định hiện hành của pháp luật về đất đai
qua các thời kỳ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã Y trình bày: Vào năm
1960-1965 do việc lấy đất làm đường liên xã, gia đình ông Lễ có sử dụng nhưng
do ngập lụt gần như quanh năm nên ông Lễ không canh tác liên tục chỉ tận dụng
khai thác nguồn khoáng sản tự nhiên. Ngày 05/6/1996 UBND xã có quyết định
5
giao khu đất Kè Cầu Giang cho Hợp tác xã II Diễn và Chi bộ thôn quản lý lâu
dài và phục vụ tưới tiêu cho cánh đồng thuộc Hợp tác xã II Diễn giai đoạn 1996
đến năm 2000 gia đình ông Lễ không có tác động hay canh tác gì trên 02 thửa
đất tại khu Cầu Giàng. Khoảng năm 2001-2002, ông Lễ có ý định đổ đất để sử
dụng nhưng thôn đã ngăn cản vì đất đã được giao cho thôn quản lý. Năm 2002-
2003 xã Y tiến hành đo đạc bản đồ địa chính UBND xã Y sơ suất không kiểm
tra kỹ việc các hộ ký nhận diện tích vào bảng thống kê diện tích loại đất và chủ
sử dụng theo hiện trạng nên đã để ông Phan Hữu Lễ và ông Ngô Văn L (con rể
ông Lễ) đăng ký chủ sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 144, 124 và bảng thống
kê diện tích loại đất và chủ sử dụng theo hiện trạng. Tuy nhiên đến năm 2004
khi rà soát xem xét các hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất, Hội đồng xét duyệt cấp
giấy chứng nhận đã không xét cấp giấy cho ông Lễ và ông L đối với 02 thửa đất
trên. Năm 2007, UBND xã đã tiến hành đăng ký, kê khai diện tích 02 thửa đất
trên thuộc UBND xã quản lý. Nội dung ông Phan Văn C khởi kiện là không có
cơ sở, đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông Phan Văn C.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phan Ngọc Nh, người đại diện
theo ủy quyền của ông Ngô Văn L trình bày: Nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông Phan Văn C.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2021/HC-ST ngày 04/5/2021 của
Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 157, Điều 158, Điều 206,
khoản 1 Điều 348 của Luật tố Tụng hành chính năm 2015; Luật Đất đai năm
2013; Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 36,
Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40 của Luật Khiếu nại năm 2011; Căn cứ vào
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án, xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C về yêu cầu hủy Quyết định số
2108/QĐ-UBND, ngày 19/10/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn về việc
giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan Văn C, trú tại thôn Co, xã Y, huyện H,
tỉnh Lạng Sơn vì không có căn cứ pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/5/2021 người khởi kiện là ông Phan Văn
C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không rút đơn khởi kiện; giữ

6
nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của người khởi kiện với lý do: Quyết định số 2108/QĐ-UBND, ngày 19/10/2020
của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn dựa vào báo cáo cung cấp thông tin không
khách quan, không trung thực, sai sự thật về nguồn gốc và quá trình sử dụng,
khai hoang hai thửa đất số 124, 144 của gia đình ông. Hai thửa đất đã được đăng
ký kê khai chủ sử dụng để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ
năm 2003.
Luật sư Bùi Thanh V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi
kiện: Thửa đất 124 và 144 gia đình ông C khai hoang sử dụng ổn định, liên tục
từ năm 1981 đến nay không có tranh chấp với ai. Gia đình ông C xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được chấp nhận. Việc UBND nhận
do có sơ suất, nhầm lẫn nên đã cấp giấy, tôi cho rằng điều này là không phù hợp,
thỏa đáng. Việc cho rằng không có giấy tờ chứng minh đất này là của gia đình
ông C là ông có căn cứ. Các hộ dân xung quanh đều khẳng định gia đình ông C
xử dụng đất tại 2 thửa đất đang tranh chấp từ năm 1981 đến nay. Gia đình ông
Lễ có đào ao, nuôi cá, trồng cây gỗ lâu năm. UBND xã không có thẩm quyền
giao đất. Mặt khác, gia đình ông Lễ đã từng làm nhà tạm để canh tác trồng lúa
mà UBND xã không có văn bản xử phạt nào. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của thân chủ tôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm
về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng, đơn kháng cáo của ông Phan Văn C là hợp
lệ; Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa
và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy đinh của pháp luật tố
tụng hành chính. Về nội dung, kháng cáo của ông Phan Văn C là không có căn
cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố
tụng hành chính xử bác kháng cáo của ông Phan Văn C và giữ nguyên quyết
định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã
được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng các
đương sự không kháng cáo gồm: Chủ tịch y ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Chủ
tịch y ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn, y ban nhân dân xã Y, huyện H,
tỉnh Lạng Sơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 225 Luật
Tố tụng hành chính.
[2] Ngày 25/12/2020, ông Phan Văn C có đơn khởi kiện Chủ tịch UBND
tỉnh Lạng Sơn yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2108/QĐ-UBND, ngày
7
19/10/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn về việc giải quyết đơn khiếu nại
của ông Phan Văn C liên quan thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định
hành chính. Xét thấy, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính do cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành trong hoạt động quản lý hành
chính về lĩnh vực đất đai. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn thụ lý, giải
quyết vụ án là đúng thẩm quyền và trong thời hiệu theo quy định tại khoản 1
Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện:
[3.1] Về trình tự thủ tục ban hành quyết định hành chính:
Năm 2010, ông Phan Hữu Lễ gửi đơn lên UBND xã Y để xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND xã trả lời là hai thửa đất trên là
đất công cộng do UBND xã sử dụng quản lý nên không xét cấp. Ông tiếp tục
làm đơn lên UBND huyện H. Năm 2014 ông Lễ chết ủy quyền lại cho ông là
Pham Ngọc Nh tiếp tục làm đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng. Đến
năm 2018 gia đình ủy quyền lại cho ông C tiếp tục khiếu nại. Ngày 26/4/2019,
ông C làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi đến UBND xã
nhưng vẫn không được xét cấp. Sau đó ông C gửi đến UBND huyện H và được
UBND huyện H giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số 2757/QĐ-UBND
ngày 30/6/2020. Ngày 17/7/2020, ông tiếp tục làm đơn khiếu nại lên Chủ tịch
UBND tỉnh Lạng Sơn và được UBND tỉnh Lạng Sơn giải quyết bằng Quyết
định số 2108/QĐ-UBND ngày 19/10/2020. Vì vậy, việc ban hành Quyết định
số 2757/QĐ-UBND ngày 30/6/2020 của UBND huyện H và Quyết định số
2108/QĐ-UBND ngày 19/10/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn là đúng
trình tự, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
[3.2] Về tính hợp pháp của nội dung Quyết định hành chính:
- Nguồn gốc thửa đất số Thửa đất số 144, diện tích 741m
2
và thửa đất số
124, diện tích 461m
2
, tờ bản đồ địa chính số 54 xã Y đo đạc năm 2002 là đất
thùng đấu, chứa nước, thuộc hệ thống dòng chảy của mương tưới tiêu cho khu
vực đồng Nản, thôn Diễn, được hình thành do việc lấy đất làm đường liên xã từ
những năm 1960-1965 tạo nên. Qua xác minh cho thấy (Biên bản làm việc ngày
29/8/2013 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H): Gia đình ông Lễ có
quá trình sử dụng hai thửa đất nhưng không liên tục, chỉ tận dụng khai thác
nguồn thủy sản tự nhiên. Ngày 05/6/1996, UBND xã Y có quyết định giao khu
đất kè Cầu Giàng cho Hợp tác xã II Diễn và Chi bộ thôn quản lý lâu dài và sử
dụng phục vụ tưới tiêu cho cánh đồng thuộc Hợp tác xã II Diễn. Giai đoạn 1996
đến năm 2000, gia đình ông Lễ vẫn không có tác động hay canh tác gì trên 02
thửa đất tại khu Cầu Giàng.
Năm 2002-2003, xã Y tiến hành đo đạc bản đồ địa chính và lập hồ sơ cấp
Giấy CNQSD đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn đã để hộ ông Phan
8
Hữu Lễ và ông Ngô Văn L đăng ký chủ sử dụng đối với thửa đất số 144 và thửa
đất số 124, tờ bản đồ địa chính số 54 xã Y. Tuy nhiên, đến năm 2004 khi rà soát,
xem xét các hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất, Hội đồng xét cấp Giấy CNQSD đất xã
Y đã phát hiện ra các sai sót về thông tin các thửa đất và một số sai sót khác nên
đã không xét duyệt đề nghị cấp Giấy CNQSD đối với gia đình ông Lễ và ông L
tại hai thửa đất 144 và 124. Đến năm 2007, theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg
ngày 14/12/2007, thì 02 thửa đất 144 và 124 thuộc UBND thuộc xã quản lý, sử
dụng. Năm 2012, UBND xã quy hoạch thửa đất số 144, diện tích 741m
2
để xây
dựng đất Trạm Y tế xã Y và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mặt khác,
theo hồ sơ địa chính thị hộ ông Phan Hữu Lễ sử dụng 21 thửa đất (gồm 01 thửa
đất thổ cư với diện tích 619 m
2
và 20 thửa đất nông nghiệp với diện tích 17.537
m
2
), không có 02 thửa đất 144 và thửa đất số 124 mà ông Lễ đang khiếu nại.
Kiểm tra sổ mục kê cho thấy, 02 thửa đất này không thể hiện tên chủ sử dụng
đất. Đồng thời Phan Hữu Lễ chỉ nộp thuế sử dụng đất đối với 12.048m
2
đất nông
nghiệp, không cung cấp được tài liệu gì liên quan đến việc nộp thuế sử dụng đất
đối với 02 thửa đất số 144 và thửa đất số 124. Hơn nữa, khi ông Phan Hữu Lễ và
ông Phan Ngọc Nh tự ý xây dựng các công trình trên 02 thửa đất này đã bị
UBND xã cưỡng chế, sau đó ông Lễ và ông Nh đã tự nguyện tháo dỡ các công
trình.
Từ những căn cứ trên có thể khẳng định gia đình ông Phan Văn C không
có quá trình sử dụng đất ổn định đối với thửa đất số 144 và thửa đất số 124.
UBND xã Y đã quản lý, sử dụng 02 thửa đất từ những năm 1996 cho đến nay;
việc quản lý, sử dụng đảm bảo theo các quy định hiện hành của pháp luật về đất
đai qua các thời kỳ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Phan Văn C và gia
đình ông không có đủ điều kiện được cấp Giấy CNQSD đất theo quy định của
Luật Đất đai, đồng thời không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C về việc
yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 2108/QĐ-UBND, ngày 19/10/2020 của Chủ tịch
UBND tỉnh Lạng Sơn là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới, do đó không có
cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn C.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phan Văn C
phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 1 Điều 241, khoản 1 Điều 349 Luật Tố
tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của y
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:

9
1. Bác kháng cáo của ông Phan Văn C và giữ nguyên quyết định của Bản
án hành chính sơ thẩm số 02/2021/HC-ST ngày 04/5/2021 của Tòa án nhân dân
tỉnh Lạng Sơn.
2. Về án phí: Ông Phan Văn C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành
chính phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc
thẩm ông C đã nộp theo Biên lai số 0000289 ngày 07/6/2021 của Cục thi hành
án dân sự tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận ông C đã thi hành xong khoản tiền án phí
hành chính phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huyền Cường Điều Văn Hằng Phùng Hải Hiệp
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Cục THADS tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự (theo đ/c);
- L hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Hải Hiệp
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm