Bản án số 370/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 370/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 370/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 370/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/11/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Khương Văn T. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST, ngày 13/6/2025 của Toà án nhân dân huyện EK (nay là Toà án nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 370/2025/DS-PT
Ngày: 18 - 11 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đng vay tài sản.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đc lập - T do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HI CH NGA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN N TNH ĐẮK LK
- Thành phn Hi đồng t xử phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thuấn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị My My và bà Đặng Thị Thu Hằng
Thư ký phiên toà: Hoàng Thị Kim Duyên Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên toà: Ông Phan Văn
Công - Kim sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, ti tr s Toà án nhân dân tỉnh Đk Lk xét x phúc
thm công khai v án dân s th s 334/TLPT-DS, ngày 15 tháng 10 năm 2025 v
vic “Tranh chấp hợp đng vay tài sản”.
Do bn án dân s thẩm s: 12/2025/DS-ST, ny 13/6/2025 ca Toà án nhân n
huyn EK (nay Toà án nhân dân Khu vc 7 Đk Lk), b kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét x s 374/2025/-PT, ngày 28/10/2025 gia
các đương sự;
1. Nguyên đơn: Ông Lưu Văn X.
Địa chỉ: Thôn 5, ES, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã EKn, tỉnh Đắk Lắk).
Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Khương Văn T.
Địa chỉ: Thôn 3, CN, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk).
Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị D.
Địa chỉ: Thôn 3, CN, huyện EK, tỉnh Đắk Lắk (nay EK, tỉnh Đắk Lắk).
Vắng mặt.
4. Người làm chứng:Trần Thị H. Địa chỉ: Thôn 5, xã ES, huyện EK, tỉnh Đắk
Lắk (Nay là xã EKn, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: B đơn ông Khương Văn T.
2
NI DUNG V ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên
đơn ông Lưu Văn X trình bày: Do mối quan hệ quen biết, trước đây hàng xóm
nên vào ngày 20/6/2019, ông X cho ông Khương Văn T vay số tiền 50.000.000
đồng, với lãi suất 3%/tháng, thời hạn trả là ngày 20/6/2020.
Tuy nhiên, đến hạn thanh toán, ông T không trả nợ theo cam kết ông X đã
nhiều lần u cầu. Sau đó, vào ngày 11/5/2021, ông T trả 10.000.000 đồng tiền lãi bằng
hình thức tiền mặt; tiếp đến, ngày 13/5/2024, ông T chuyển khoản trả thêm 10.000.000
đồng tiền lãi.
Từ thời điểm đó đến nay, mặc dù ông X đã nhiều lần đòi nhưng ông T vẫn không
thanh toán số tiền còn lại. Do đó, ông X đề nghị Tòa án nhân dân huyện EK xem xét,
buộc ông Khương Văn T phải trả cho ông X 50.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi tính
từ ngày vay đến ngày Tòa án thụ vkiện, tương ứng 69 tháng x 1% = 35.000.000
đồng, trừ đi 20.000.000 đồng tiền lãi đã trả, còn 15.000.000 đồng tiền lãi chưa thanh
toán.
Như vậy, tổng cộng cả gốc lãi 65.000.000 đồng (bằng chữ: Sáu mươi lăm
triệu đồng chẵn).
* Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Khương Văn T
trình bày: Số tiền 50.000.000 đồng mà ông X khởi kiện cho rằng ông T vay là không
đúng sự thật. Thực tế, mẹ của ông T Trịnh Thị D vay của ông X số tiền
30.000.000 đồng, tuy nhiên ông T không biết rõ thời gian và mục đích vay.
Năm 2018, bố của ông T mất. Sau đó, ông X nhiều lần đe dọa, gây áp lực bằng
lời nói đối với D. Vì vậy, ông X yêu cầu ông T viết và ký vào giấy vay tiền đề ngày
20/6/2019, với nội dung thể hiện ông T vay 50.000.000 đồng của ông X. Khi đó, ông
X nói rằng nếu sau này ông T không trả được toàn bộ, thì chỉ cần trả số tiền gốc
30.000.000 đồng thay cho mẹ ông, phần lãi ông X không yêu cầu trả. Do tin tưởng và
muốn giúp mẹ, ông T đã đồng ý viết giấy vay tiền này để trả thay khoản nợ của mẹ
mình.
Ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông X, ông đã trả 20.000.000
đồng tiền gốc, tuy không nhớ thời điểm. Việc trả nợ do ông T chủ động, còn trong
quá trình mẹ ông vay thì ông X chỉ đòi tiền D, không đòi ông T. Cụ thể, ông T đã
trả hai lần: 10.000.000 đồng tiền mặt và 10.000.000 đồng chuyển khoản, khi trả có gọi
điện thông báo cho ông X biết là trả tiền gốc. Ông T chỉ đồng ý có trách nhiệm trả cho
ông X số tiền 10.000.000 đồng tiền gốc còn nợ và 5.000.000 đồng tiền lãi.
3
Toàn bộ nội dung trong giấy vay ngày 20/6/2019 do ông X hướng dẫn ông T
viết nhằm hợp thức hóa việc ông T phải trả thay khoản nợ của mẹ, được viết tại nhà
ông X, có vợ ông X là bà Trần Thị H chứng kiến.
* Quá trình giả quyết vụ án Trịnh Thị D trình bày: Tôi mẹ ruột của
Khương Văn T. Tôi và vợ chồng ông X trước đây là hàng xóm với nhau, nay gia đình
tôi đã chuyển đến thôn 3, CN. Tôi có vay của vợ chồng ông X hai lần tiền cụ thể một
lần 20.000.000đ và một lần 10.000.000đ không nhớ rõ thời gian vay. Khi vay hai bên
làm giấy vay vợ ông X viết giấy cho tôi , không thời hạn vay, khi nào có thì trả,
hai bên có thỏa thuận mức lãi 3%/tháng. Tôi vay để trang trãi cuộc sống gia đình. Tôi
chưa trả được khoản lãi nào con trai tôi Khương Văn T đã trả được tiền gốc
20.000.000đ. Hiện nay ông X khởi kiện ông T số tiền 50.000.00gốc và 15.000.000đ
lãi thì tôi không biết, việc này con trai tôi và ông X tự giải quyết với nhau.
* Quá trình giả quyết vụ án người làm chứng Trần Thị H trình bày: H
xác định là không liên quan đến vụ kiện này nên không tham gia làm việc tại Tòa
án.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 12/2025/DS-ST, ngày 13/6/2025 của Toà án
nhân dân huyện EK (nay là Toà án nhân dân Khu vực 7 Đắk Lắk) đã quyết định:
- Áp dng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; đim a khoản 1 Điu 39;
Điều 203; Điều 227, 233, 235; Điều 266 ca B lut t tng dân s 2015;
- Áp dụng các Điều 288; 463, 466, 468, 688 ca B lut dân s năm 2015;
- Áp dng Ngh quyết s 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca y ban Thường
v Quc hi v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí tòa
án.
Tuyên x: Chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca ông u Văn X.
Buc ông Khương Văn T có trách nhim tr cho ông Lưu Văn X s tin
64.799.999đ (Sáu mươi tư triu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi
chín đồng).
K t ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Khương
Văn T còn phi tr cho ông u Văn X khon tin lãi chm tr đối vi s tin còn phi
thi hành án theo mc lãi suất quy định ti Khoản 2 Điều 468 ca B lut Dân s 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy
định pháp luật.
Ngày 16/6/2025, bị đơn ông Khương Văn T làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
4
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, b đơn ông
Khương Văn T giữ nguyên đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán,
Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật ttụng
dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 308 của Bộ luật T
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Khương Văn T, giữ nguyên
quyết định của Bản án dân sự.
NHẬN ĐNH CỦA A ÁN:
Căn cứ o c tài liệu trong hồ vụ án đã đưc thm tra tại phn a, n cứ o
kết quả tranh lun tại phn tòa trên sở xem xét đầy đcác i liệu chng cứ, lời trình y
của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhn định như sau:
[1] Về thtục ttng: Đơn kháng o của bị đơn ông Khương Văn T trong hạn luật
định, hợp lệ về hình thức. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù
hợp.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Ông Khương Văn T kháng cáo cho rằng: Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm
của Tòa án cấp thẩm không khách quan, không đúng với bản chất vụ việc, nguyên
đơn không chứng minh được việc cho ông T vay tiền, giao nhận tiền cho ông T, thực
tế ông không vay của nguyên đơn. Do đó, ông làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại cấp sơ thẩm và quá trình giải quyết vụ án ông Khương Văn T thừa nhận Giấy
vay ngày 20/6/2019 là do ông T tự viết và ký tên, nội dung giấy vay thể hiện rõ ông
người vay tiền của ông X với số tiền vay 50.000.000 đồng, không nội dung nào
thể hiện việc vay thay hoặc bảo lãnh cho bà Trịnh Thị D. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông
T không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh việc bị ép buộc viết giấy vay hoặc
chứng minh người vay thực tế là bà D. Do đó, nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm rằng
giấy vay ngày 20/6/2019 giao dịch dân sgiữa ông X ông T căn cứ, đúng
quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
Về việc xác định tiền lãi: Cấp thẩm đã căn cứ Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015 để xem xét, đánh giá đúng thỏa thuận lãi suất của các bên. Mức lãi suất
3%/tháng được ghi trong giấy vay vượt quá giới hạn pháp luật cho phép, tuy nhiên
nguyên đơn tự nguyện yêu cầu tính lãi 1%/tháng (12%/năm) nên được Tòa án chấp
nhận là phù hợp quy định.
Cấp sơ thẩm cũng đã tính toán chi tiết tiền lãi cho từng giai đoạn, có đối chiếu
khấu trừ số tiền 20.000.000 đồng mà ông T đã thanh toán, đảm bảo khách quan, chính
xác, căn cứ pháp lý. Tổng số tiền buộc ông T phải trả cho ông X là 64.799.999 đồng
(gồm 50.000.000 đồng nợ gốc và 14.799.999 đồng tiền lãi) là phù hợp, hợp lý.
Những nội dung ông T trình bày tại phiên tòa phúc thẩm không tình tiết, chứng
cứ mới so với quá trình xét xử sơ thẩm. Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện lời khai của
các đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đồng thời
xác định đúng bản chất quan hệ pháp luật là vay tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T, cần giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận, ông Khương Văn T phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Khương Văn T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST, ngày
13/6/2025 của Toà án nhân dân huyện EK (nay Toà án nhân dân Khu vực 7 Đắk
Lắk).
[2] Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn X.
Buộc ông Khương Văn T có trách nhiệm trả cho ông Lưu Văn X số tiền
64.799.999đ (Sáu mươi tư triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm chín mươi
chín đồng)
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Khương
Văn T còn phải trả cho ông Lưu Văn X khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
6
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Khương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu
trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010309, ngày 14/7/2025 tại Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 7- Đắk Lắk.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6,7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Cổng TTDT Toà án;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Duy Thuấn
Tải về
Bản án số 370/2025/DS-PT Bản án số 370/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 370/2025/DS-PT Bản án số 370/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất