Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST ngày 13/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST ngày 13/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 37/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bảo H-Nguyễn Văn B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST
Ngày 13-8-2026
V/v “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lan và ông Lê Xuân Nam;
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia
phiên tòa: Bà Hồ Thiên Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng
Trị xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số:
140/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2026 về việc “Ly hôn và tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
34/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên
tòa số 21/2026/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo H, sinh năm 1995; Địa chỉ: xóm A P, xã
T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh
Quảng Trị. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo H trình bày trong đơn khởi kiện và quá
trình tố tụng tại tòa án:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B tự nguyện đăng
ký kết hôn với nhau vào ngày 11/9/2018 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Định
(nay là xã T, tỉnh Gia Lai). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến
năm 2019 thì hay phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn B ngoại tình với người
phụ nữ khác, từ đó vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn yêu thương
chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ
năm 2019 đến nay và không còn tình cảm với nhau. Nay, chị Nguyễn Thị Bảo H
yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B có 01 con
2
chung là cháu Nguyễn Văn Bảo K, sinh ngày 21/10/2018. Khi ly hôn, chị Nguyễn
Thị Bảo H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con bởi vì từ lúc vợ
chồng ly thân đến nay, cháu Nguyễn Văn B1 K chung sống với chị H và do một
tay chị H nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn B không có trách nhiệm với con cái. Chị
Nguyễn Thị Bảo H không yêu cầu anh Nguyễn Văn B phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn B
mặc dù đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không thực hiện
quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự và
không có ý kiến phản hồi.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị thụ lý và giải quyết
vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm
phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên
đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và
234 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và
nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia
đình 2014, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn
cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T, Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn
Thị Bảo H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Bảo K, sinh ngày 21/10/2018 cho chị
Nguyễn Thị Bảo H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn B không
phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bảo H không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bảo H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm phải chịu
án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Nguyễn Thị Bảo H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn
Văn B và giải quyết về con chung, Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ
tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28
Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B có nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay tại thôn T, xã
T, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 7, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Văn B
được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có
lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng
dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn B.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2026 và các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án thì chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B tự nguyện
đăng ký kết hôn vào ngày 11/9/2018 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Định
(nay là xã T, tỉnh Gia Lai). Như vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo H và anh
Nguyễn Văn B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Theo kết quả xác minh của Tòa án về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn
Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B tại UBND xã T, tỉnh Quảng Trị ngày 17/6/2026,
thì hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B đã lâm vào tình
trạng trầm trọng, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau trong thời gian dài,
không còn chung sống thực tế. Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa các chị
Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn B để
tham gia các phiên hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn B đều vắng mặt không có lý
do, điều đó thể hiện anh Nguyễn Văn B không mong muốn hàn gắn, đoàn tụ gia
đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn
Văn B đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nếu tiếp tục duy
trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên. Do đó, cần
chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bảo H được ly hôn anh Nguyễn Văn B là phù hợp
với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung:
4
Chị Nguyễn Thị Bảo H và anh Nguyễn Văn B có 01 con chung là cháu
Nguyễn Văn Bảo K, sinh ngày 21/10/2018. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Bảo H có
nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Bảo K. Chị
Nguyễn Thị Bảo H không yêu cầu anh Nguyễn Văn B phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bảo H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo
quy định của pháp luật, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của con. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa thể hiện cháu Nguyễn Văn Bảo K hiện đang do chị Nguyễn
Thị Bảo H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu có nơi ở, môi trường sống ổn
định. Chị H có công việc, thu nhập ổn định, bảo đảm các điều kiện cần thiết để
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện
chị không đủ điều kiện thực hiện việc nuôi dưỡng con chung.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn B không có ý
kiến phản đối yêu cầu của chị H và cũng không có yêu cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng cháu Nguyễn Văn Bảo K. Do đó, việc giao cháu Nguyễn Văn Bảo K cho
chị Nguyễn Thị Bảo H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là
phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị Nguyễn Thị
Bảo H việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của con, nhưng chị Nguyễn Thị Bảo H vẫn không yêu cầu anh Nguyễn Văn B
phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy người trực tiếp nuôi con là chị Nguyễn Thị
Bảo H có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con và việc chị Nguyễn Thị Bảo H
không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện. Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-
HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân
gia đình, không buộc anh Nguyễn Văn B phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Văn Bảo K, sinh ngày 21/10/2018 cho chị
Nguyễn Thị Bảo H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn B không
phải cấp dưỡng nuôi con.
3.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bảo H không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo H phải
chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật
Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm
b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
5
Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025
của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Áp dụng Điều 6, Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bảo H và anh
Nguyễn Văn B. (Giấy chứng nhận kết hôn số 156 ngày 11/9/2018 của UBND xã
P, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là UBND xã T, tỉnh Gia Lai).
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Bảo K, sinh ngày 21/10/2018 cho
chị Nguyễn Thị Bảo H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn B không
phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn B có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không
ai có quyền cản trở anh Nguyễn Văn B thực hiện quyền này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7 và Điều 36 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bảo H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn)
án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn) mà chị Nguyễn Thị Bảo H đã nộp theo biên lai ký hiệu:
BLTU/26E, số 0002631 ngày 04/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
Chị Nguyễn Thị Bảo H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo H có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/8/2026). Bị đơn anh
Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND khu vực 7-Quảng Trị;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị;
- UBND xã Tuy Phước Đông, T.Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
Trần Quang Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST Bản án số 37/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất