Bản án số 37/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 của TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 37/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 của TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phủ Lý (TAND tỉnh Hà Nam)
Số hiệu: 37/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn ThXuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Chi và ông Lê Chí Trung.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành ph
Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 m 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh
Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2019/TLST-HS ngày 21 tháng
3 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày
02 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1994, tại Nam; nơi trú: Thôn THT, TS,
huyện KB, tỉnh Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông:
Nguyễn Văn X Nguyễn Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2018 đến nay; hiện đang b tạm giam
tại Nhà tạm gi Công an thành ph Ph Lý. Có mt.
* Ni có quyền li và nghĩa vụ liên quan: Anh Đinh Văn C1, sinh năm 1982;
đa chỉ: Thôn ĐV, TH, huyn TL, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Anh Đặng n V, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn KL, xã
TN, huyện DT, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/12/2018, Nguyễn Văn C đang đi chơi thì gặp
bạn nghiện là Nguyễn Xuân Trường, Trường hỏi mượn xe C để đi tìm chmua
ma túy về sử dụng. C đồng ý rồi về nhà mượn xe mô tô BKS 35N7 - 0893 của anh
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM
Bản Bản án số: 37/2019/HS-ST
Ngày 16 - 04 - 2019.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Đinh Văn C1 rồi điều khiển xe mô chở Trường đi đến khu vực cầu Ngòi Ruột
thuộc tổ dân phố Ngô Gia Khảm, phường Châu n, thành phố Phủ Lý. Tại đây,
Trường bảo C xuống xe đợi, Trường điều khiển xe mô tô đi một lúc sau quay lại
đưa cho C 01 vỏ bao thuốc Thăng Long màu vàng nói: “Hàng trong bao
thuốc”, C biết bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa ma túy nên không mở ra kiểm tra
cầm tay phải. Sau đó, Trường điều khiển xe chở C đi tìm chỗ sdụng ma
túy. Khi C Trường vừa đi được một đoạn thì đội tuần tra Phòng Cảnh sát Giao
thông ng an tỉnh Nam yêu cầu dừng xe đkiểm tra. Trường dừng xe lại
xuống xe bỏ chạy thoát, C bị lực lượng ng an giữ lại. Tại chỗ C đã tự giác giao
nộp cho lực lượng ng an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, mvỏ bao
thuốc ra kiểm tra bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong gói giấy
bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai nhận đó là ma túy cất giữ mục đích
để sử dụng.
Vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục
được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01;
- 01 điện thoại di động chữ Viettel vỏ nhựa màu đen - trắng; 01 xe
tô nhãn hiệu Aponi, BKS 35N7-0893 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.
* Khám xét khẩn cấp nơi của Nguyễn Văn C tại thôn THT, TS, huyện
KB không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 225/PC09-MT ngày 02/01/2019 của phòng Kỹ
thuật hình sự ng an tỉnh Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong
phong hiệu QT01 gửi giám định ma túy, khối lượng 0,147 gam loại
Heroine.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSTP ngày 21 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm
sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn C về tội: “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật
Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Phủ Lý, tỉnh
Nam luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Văn C theo toàn bộ
nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì đối với nội dung
vụ án. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân
thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình s đối với b cáo, đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38; Điều 50 của B luật Hình s: Xphạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án t
18 đến 24 tháng v tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. V hình phạt b sung:
Không áp dụng hình phạt b sung phạt tiền đối với b cáo. V x vật chứng:
Đề ngh áp dụng Điều 47 của B luật Hình s; Điều 106 của B luật T tụng hình
s: Tịch thu tiêu hủy toàn b s Heroine hoàn tr sau giám định một v bao
thuốc Thăng Long màu vàng; tr lại Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động
3
chữ “Viettel” vỏ nhựa màu đen - trắng.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bản như bản cáo
trạng đã mô tả, bị cáo không tranh luận, không bào chữa xin Hội đồng xét x
xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] V hành vi, quyết định t tng của Điu tra viên, Kim sát viên trong quá
trình điều tra, truy t đã thc hiện đúng v thm quyn, trình t, th tục quy định
ca B lut T tng hình sự. Quá trình điu tra và ti phiên tòa, b cáo, người
tham gia t tng khác không ý kiến hoc khiếu ni v hành vi, quyết định t
tng của người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết đnh t tng ca ngưi tiến
hành t tng đã thực hiện đu hp pháp.
[2] Đánh giá về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên
bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của người quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận của quan chuyên môn cũng
như các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ ván quan điều tra đã thu
thập được. Như vậy, Hội đồng xét x có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 12h ngày 29/12/2018, tại khu vực tổ dân phố Ngô Gia Khảm, phường
Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Lực lượng Cảnh sát giao thông ng
an tỉnh Nam phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn C đang cất giữ trái phép
0,147 gam ma túy , loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi
của bị o Nguyễn Văn C đủ yếu tcấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật Hình sự. Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phủ truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, căn c
pháp luật.
[3] Đánh giá về hình phạt:
* Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó
không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bị cáo còn xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, đồng thời
nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, tội phạm nguy hiểm khác gây bất bình
sâu sắc trong quần chúng nhân dân.
Khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm
hình snhân thân đối với b cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp:
Vnhân thân: Bị cáo nhân thân tốt, chưa tiền án tiền s, phạm tội lần
đầu.
4
V nh tiết ng nng: Bị o kng phải chịu tình tiết ng nặng tch nhiệm
nh sựo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo đã
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên xét cho bị cáo được hưởng
tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của B luật Hình s.
Tuy nhiên đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình s nhân thân của b cáo. Hội
đồng xét x thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly b cáo ra khỏi
xã hội một thời gian vừa để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành ng dân có ích, vừa
có tác dụng phòng ngừa chung trong cộng đồng.
* Về hình phạt bổ sung: Bcáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng,
không mục đích kiếm lời nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung
là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ số ma túy hoàn tr sau giám định một v bao thuốc
Thăng Long màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn C cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động ch “Viettel vỏ nhựa màu đen trắng đã
qua sử dụng số IMEI 1: 352812061449387; số IMEI2: 352812061449395 thu giữ
của Nguyễn Văn C không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho
Nguyễn Văn C.
- Đối vi chiếc xe máy nhãn hiệu Aponi màu đỏ đen, đeo BKS: 35N7-0893,
thu giữ của Nguyễn Văn C. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều trang an
thành phố Phủ xác định chiếc xe máy trên tài sản hợp pháp của anh Đinh
Văn C1. Khi anh C1 cho Nguyễn Văn C mượn chiếc xe máy anh C1 không biết C
đã sử dụng chiếc xe máy của mình để đi mua ma túy mục đích để s dụng.
quan Cảnh sát điều tra ng an thành phố Phủ đã trả lại chiếc xem máy cho
anh C1 là phù hợp pháp luật.
[5] Đánh giá các tình tiết khác của vụ án:
Về nguồn gốc số ma y thu giữ của Nguyễn Văn C, C khai do người bạn
nghiện tên là Nguyễn Xuân Trường, sinh năm 1994; ĐKNKTT, chỗ ở: Xóm 1,
Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đi mua về đưa cho C cất giấu để cùng sử
dụng. quan Cảnh sát điều tra ng an thành phố Phủ Lý, tỉnh Nam phố
hợp cùng ng an TS, huyện KB, tỉnh Nam tiến hành xác minh người
tên là Nguyễn Xuân Trường có năm sinh, địa chỉ như trên. Cơ quan Cảnh sát điều
tra ng an thành phố Phủ đã triệu tập rất nhiều lần nhưng Nguyễn Xuân
Trường không có mặt tại nhà và địa phương. Ngoài lời khai của Nguyễn Văn C ra
thì không tài liệu nào khác chứng minh Nguyễn Xuân Trường đi mua ma túy
đưa cho Nguyễn Văn C cất giấu để cùng sử dụng, nên chưa căn c để x
5
trong v án này. Yêu cầu quan Cảnh sát điều tra ng an thành phố Ph
tiếp tục điều tra làm hành vi của Nguyễn Xuân Trường để xử theo quy định
pháp luật.
[6] Về án phí hình sự thẩm: Bị o phải nộp án phí hình sthẩm theo
quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ
án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn c điểm c, khoản 1 Điu 249; Điu 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 50 của B luật Hình s.
- Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sdụng án
phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bb cáo Nguyn Văn C phạm ti: Tàng tr trái pp chất ma tuý”.
[2] Xphạt Nguyễn Văn C 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày 29/12/2018.
[3] Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong đã niêm phong dán kín mặt trước ghi: Mẫu
vật hoàn trả QT01 số 225/PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự ng an tỉnh
Nam và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 điện thoại di động chữ Viettelvỏ
nhựa màu đen - trắng, đã qua sử dụng.
(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/3/2019
giữa quan Cảnh sát điều tra ng an thành phố Phủ với Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Phủ Lý).
[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ.
Án xử công khai thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng o bn án trong
hạn 15 ngày kể từ ny tuyên án; nời quyền lợi nghĩa v liên quan vng mặt tại
phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày k t ngày nhận được bản
án hoặc k t ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu
6
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
- TAND tnh Hà Nam;
- VKSND tnh Hà Nam;
- Nhà tm ging an TP Ph Lý;
- VKSND thành ph Ph Lý;
- CQ CSĐT CA thành ph Ph Lý;
- Chi cc THA DS thành ph Ph Lý;
- S tư pháp tỉnh Hà Nam;
- B cáo;
- Người có QLNV liên quan;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Th Xuyên
Tải về
Bản án số 37/2019/HS-ST Bản án số 37/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất