Bản án số 368/2018/DS-ST ngày 02/05/2018 của TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 368/2018/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 368/2018/DS-ST ngày 02/05/2018 của TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Bình Tân (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 368/2018/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/05/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN BÌNH TÂN Độc lập Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 368/2018/DS-ST
Ngày: 02/5/2018.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Thống;
2. Bà Trần Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Lưu Thị Ngọc Ánh, là Thư ký Tòa án nhân quận Bình
Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Ông
Bạch Ngọc Hiếu Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 tháng 4 năm 2018 đến ngày 02 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở
Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai
vụ án thụ lý số 223/2017/TLST DS ngày 17 tháng 5 năm 2017 về việc “tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 58/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Ông Văn Chí T, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: Số 2129/46B/4, đường P, Phường S, Quận T, Thành phố H
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: TTC01-14A C/c L, phường T, quận B, Thành phố H.
Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài V, sinh năm 1975 (có mặt);
Địa chỉ: Số 525/27, đường Hh, Phường M, Quận P, Thành phố H
3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Công ty TNHH TM – XD L;
Địa chỉ: Số 113/89, đường A, KP3, phường A, quận B, Thành phố H.
Người đại diên theo pháp luật: Ông Lê Hữu N Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Châu Ngọc A L Chức vụ: Phó phòng kinh
doanh (có đơn xin vắng mặt);
2
Địa chỉ: Ấp Kim Điền, thị xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
3.2/ Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số 131/36, đường K, Phường M, Quận S, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Ông T trình bày: Trước đây, Ông T T1 sống chung với nhau tại địa chỉ Số
2129/46B/4, đường P, Phường S, Quận T, Thành phố H Vào ngày 26/10/2016, Ông
T thực hiện giao dịch nhận quyền thuê căn hộ TTC01-14A tại Chung Công ty
L (phường Tân Tạo, quận Bình Tân) từ Trần Thị Kim H thông qua chị M
nhân viên kinh doanh của Công ty L, Ông T trực tiếp thanh toán cho H số tiền
286.000.000đ (hai trăm m mươi sáu triệu đồng), ông đã đổi tiền Canada tiệm
vàng để trả cho H để nhận chuyển nhượng quyền thuê căn hộ này. Thực tế T1
không muốn mua căn hộ, sau đó T1 yêu cầu bán căn hộ để lấy tiền về quê sinh
sống, tuy nhiên Ông T không đồng ý, sau đó T1 năn nỉ Ông T để căn hộ cho
T1 nuôi con. Ông T vắng mặt những buổi làm việc ở Công ty L là do Công ty L yêu
cầu Ông T lên Tòa án để giải quyết. Lúc Ông T mua căn hộ từ H sang tên t
trên hợp đồng thuê nhà của Công ty L không bắt buộc 02 người cùng đứng tên, nên
chị M đã nói với Ông T là để bà T1 đứng tên, Ông T đã nói không đồng ý cho bà T1
đứng tên, nhưng chị M vẫn để bà T1 đứng tên.
Vào ngày 27/3/2017, Ông T T1 có thỏa thuận thống nhất với nhau
T1 sẽ chuyển quyền thuê căn hộ này để Ông T đứng tên, với toàn bộ các chi phí liên
quan cho việc chuyển nhượng này, Ông T phải chịu như: Các khoản phí chuyển
nhượng sang tên ( 2% giá thuê, tương đương với số tiền 7.920.000đ) theo quy định
của Công ty L. Ông T đã thực hiện đóng các khoản phí này thay cho T1 Công
ty L đã xác nhận đồng ý để Nguyễn Thị T1 (bên thuê) chuyển nhượng thuê
nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thuê căn hộ TTC01-14A cho Ông T.
Tuy nhiên khi làm thủ tục sang tên thì T1 đã không hợp tác. Nên nay nếu
T1 không làm thủ tục sang tên cho Ông T thì yêu cầu buộc T1 thanh toán cho
Ông T số tiền 286.000.000đ (hai trăm tám mươi sáu triệu đồng).
Ông T cho rằng ông người chuyển số tiền 6.600.000đ (sáu triệu sáu trăm
nghìn đồng) hàng tháng đóng tiền mua căn hộ cho Công ty L bắt đầu từ ngày
01/11/2016 đến thời ngày 27/3/2017.
* Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà T1 trình bày như sau:
Căn hộ chung TTC01-14A của T1 bỏ tiền ra mua của Trần Thị Kim H
hiện nay T1 cũng đang góp tiền hàng tháng cho ng ty TNHH TM XD L.
Trước đó, T1 với Ông T làm hợp đồng sang nhượng quyền thuê căn hộ này,
nhưng phía Ông T không đồng ý hợp tác, do đó không tiếp tục nhượng quyền thuê
căn hộ này cho Ông T.
T1 trình bày không sống chung cùng Ông T, ngày 26/10/2016 khi đến
Công ty L mua căn hộ thì Ông T chỉ bạn đi cùng với . Sau khi chuyển nhượng
3
Công ty L mời Ông T lên giải quyết nhưng Ông T cố tình tránh né, không hợp tác,
và điều này có biên bản xác nhận của Công ty L là Ông T 02 lần tránh né, không hợp
tác.
Còn tại tờ giấy xác nhận ngày 26/10/2016 vviệc Ông T giao tiền cho H
không đúng, theo T1 biết sau khi Ông T khởi kiện ra Tòa án, Ông T đã nhờ
H tên vào tờ giấy đó (thời điểm tên không phải là thời điểm 26/10/2016) việc
Ông T nhờ H ký tên để nhằm mục đích Ông T chuyển quyền thuê căn hộ của
H. Thực tế căn hộ này T1 mua từ H hiện đang trả góp tiền căn hộ cho
Công ty L. Do đó H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của Ông T Ông T nói
sai sự thật.
T1 cho rằng người đứng ra giao dịch mua căn hộ trả tiền hàng
tháng cho Công ty L stiền 6.600.000đ (sáu triệu u trăm nghìn đồng) qua ngân
hàng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH TM XD L
Châu Ngọc A L đại diện theo y quyền trình bày: Thực tế hiện nay căn hộ đang
tranh chấp do T1 đứng tên trên giấy thuê căn hộ T1 người đang quản lý,
sử dụng căn hộ. Còn việc ai đóng tiền góp hàng tháng của căn hộ trên, thì Công ty
vẫn nhận tiền, không nhất thiết là chủ căn hộ mới được trả tiền góp hàng tháng.
Còn việc tranh chấp căn hộ tại Công ty L, giữa Ông T T1 Công ty
TNHH TM XD L không có ý kiến gì.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim H trình bày như
sau: Bà H có bán căn hộ chung cư TTC01-14A ng ty L cho Ông T và bà T1; Giấy
xác nhận vào ngày 26/10/2016 Ông T nhờ H ký do H đã nhận tiền rồi nên
H mới ký, còn thực tế ngày giao tiền cả Ông T T1 cùng đến giao. H
trình bày bà không bất kỳ ý kiến về vụ án này và xin vắng mặt trong tất cả các
buổi làm việc và xét xử.
* Ti phiên tòa:
- Ông T yêu cu bà T1 tiếp tc chuyn nhưng hợp đồng thuê căn hộ
TTC01-14A cho ông. Nếu T1 không làm thủ tục sang tên cho Ông T thì ông yêu
cầu buộc bà T1 thanh toán cho ông số tiền 286.000.000 đồng.
- Ông Vinh đại diện ủy quyền của bà T1 không đồng ý với yêu cầu của Ông T,
ông Vinh cho rằng căn hộ chung TTC01-14A của T1 bỏ tiền ra mua của
Bà Trần Thị Kim H, nên căn hộ này thuộc quyền sở hữu của bà H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH TM XD L
Trần Thị Kim H có đơn yêu cầu xin vắng mặt tại tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận nh Tân phát biểu việc tuân theo
pháp luật của Thẩm phán trong quá trình từ khi thụ vụ án cho đến khi xét xử thực
hiện đúng theo quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Hội đồng
xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; cách của người
tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 70, 71, 72, 73, 234 Bộ luật tố
4
tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần u
cầu khởi kiện của nguyên đơn, tiếp tục giao căn hộ chung cư TTC01-14A Công ty L
cho T1 quản sử dụng, T1 hoàn lại chi phí hợp Ông T đã cùng T1
bỏ ra nhận chuyển nhượng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] - Nguyên đơn Ông T đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng hợp đồng thuê nhà đối với bị đơn T1; Đối tượng tranh chấp căn hộ
bị đơn hiện tại quận Bình Tân, thành phố Hố Chí Minh, nên căn cứ Điều 35
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân s, thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
[2] - Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Công ty
TNHHTM-XD Công ty L Trần Thị Kim H đơn yêu cầu xin vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án; Căn cứ vào khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt, phù hợp với quy định của pháp
luật.
* Về nội dung vụ án:
[3] - Căn hộ chung cư TTC-01-14A của Công ty TNHH TM – XD L, hiện nay
do T1 đang quản , sử dụng đứng tên trên hợp đồng thnhà ở, tuy nhiên
theo giấy xác nhận giao tiền ngày 26/10/2016 Ông T là người giao tiền để mua căn
hộ, việc này bà H cũng có thừa nhận là đã bán căn hộ chung cư trên cho Ông T và bà
T1 và Ông T, T1 cũng người đã giao nhận tiền cho bà. Còn T1 cho rằng
người mua căn hộ chung TTC-01-14A trên Ông T chngười bạn đi theo,
nhưng bà không chứng cứ để chứng minh việc này; Ngoài ra sau đó T1
thỏa thuận sang lại cho Ông T căn hộ trên nhưng Ông T không đưa tiền và không
hợp tác, nên không có thực hiện được. Do đó xác định căn hộ chung cư TTC-01-14A
của Công ty TNHH TM XD L là sở hữu chung giữa Ông Văn Chí T và Bà Nguyễn
Thị T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 214 Bộ luật dân sự 2005.
[4] - Ông T cho rằng ông người trả góp hàng tháng (mỗi tháng trả
6.600.000 đồng) cho căn hộ chung TTC-01-14A trên, trả tới thời điểm nộp đơn
tranh chấp ngày 27/3/2017, việc trả góp hàng tháng cho căn hộ này thông qua tài
khoản tại ngân hàng, tiền của Ông T, nhưng ông tên Nguyễn Thị T1 (
căn hộ do T1 đứng tên trên hợp đồng thuê nhà ở) cũng theo yêu cầu của Công
ty L, tuy nhiên Ông T không chứng cứ khác để chứng minh việc ông người
bỏ tiền ra trả góp căn hộ trên đến ngày 27/3/2017. Hơn nữa căn hộ chung cư này,
T1 cũng đã chứng minh người trả góp hàng tháng, từ lúc mua đến khi trả xong
tháng 01/2018 (trả trực tiếp hoặc qua ngân hàng cho Công ty L). Do đó chỉ chấp
nhận một phần yêu cầu của Ông T giao cho T1 tiếp tục quản , sử dụng
đứng tên hợp đồng căn hộ chung TTC-01-14A của Công ty L buộc T1 trả
5
cho Ông T stiền lúc đầu mua căn hộ 286.000.000 đồng : 2 = 143.000.000 đồng,
là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] - Về án phí: Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sthẩm phần yêu
cầu của Ông T được chấp nhận. Ông Văn Chí T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của
phần yêu cầu ông không được chấp nhận.
[6] - Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, tiếp tục giao căn hộ chung TTC-01-14A Công ty L cho
T1 tiếp tục đứng tên quản lý, sử dụng T1 phải hoàn lại chi phí hợp
Ông T đã cùng bà T1 bỏ ra nhận chuyển nhượng căn hộ trên; Việc đề nghị của vị đại
diện Viện kiểm sát đúng với quy định pháp luật cũng phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử, nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự;
- Áp dụng Điều 214, Điều 217 và Điều 224 Bộ luật dân sự 2005;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ông Văn Chí T;
Hủy Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà căn hộ chung TTC-
01-14A của Công ty TNHH TM – XD L giữa Ông Văn Chí T và Bà Nguyễn Thị T1;
Tiếp tục giao căn hộ chung TTC-01-14A của Công ty TNHH TM XD L
cho Bà Nguyễn Thị T1 quản lý, sử dụng và đứng tên trên hợp đồng thuê nhà ở;
Buộc Nguyễn Thị T1 trả cho Ông Văn Chí T một phần giá trị căn hộ với
số tiền 143.000.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu đồng). Thực hiện ngay khi án
có hiệu lực pháp luật;
Kể từ ngày Ông Văn Chí T đơn yêu cầu thi hành án, nếu Nguyễn Thị
T1 chưa thanh toán đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và
khoản tiền chưa thi hành án.
Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
12/2017/QĐ-BPKCTT ngày 26/5/2017 Quyết định Phong tỏa tài khoản số
02/2017/TA-QBT ngày 26/5/2017, của Tòa án nhân dân quận Bình Tân;
Thi hành tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án p
và lệ phí tòa án;
Bà T1 phải chịu 7.150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm;
Ông T phải chịu 7.150.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm, ông đã nộp
9.900.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0234 ngày 17/5/2017 của
6
Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên được hoàn
lại 2.750.000 đồng.
- Căn cứ Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Ông Văn Chí T Nguyễn Thị T1 quyền kháng cáo bản án thẩm
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Công ty TNHH
TM XD L Trần ThKim H quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND Q.Bình Tân;
- Chi cục THA.DS Q.Bình Tân;
- Các đương sự;
- Lưu HS. Phạm Việt Hải
Tải về
Bản án số 368/2018/DS-ST Bản án số 368/2018/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất