Bản án số 361/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 361/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 361/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 361/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 361/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 361/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty Y tế có thỏa thuận cho B dùng 01 phần trong số diện tích mà công ty đã thuê để kinh doanh, đến khi yêu cầu B trả lại thì có tranh chấp |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 361/2025/DS-PT
Ngày: 13-8-2025
V/v: “Tranh chấp về quyền thuê
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Hùng
Bà Lê Kim Đó
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07- 13 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 267/2025/TLPT-DS
ngày 30 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp về quyền thuê quyền sử dụng
đất”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 07/5/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 278/2025/QĐ-PT ngày
07/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 677/2025/QĐ-PT ngày 29/72025 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH P
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Tuấn A- Chủ tịch kiêm Giám đốc
Địa chỉ: Số H khu H, thị trấn T, H. T, T. Đ (nay là xã T, T. Đ)
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Hà Tiểu C, sinh năm 1992
Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn Đ, H. B, T. B (nay là xã B, T. Đ)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồ B, sinh năm 1982
2
Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, H. T, T. Đ (nay là xã T, T. Đ)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lương Hồng Đ, sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, H. T, T. Đ (nay là xã T, T. Đ)
3.2. Ông Lê Tuấn A, sinh năm 1990
Thường trú: Ấp E, xã Đ, H. T, T. Đ
Địa chỉ liên hệ: Số H khu H, thị trấn T, H. T, T. Đ (nay là xã T, T. Đ)
Người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 22/3/2025): Bà
Trương Hà Tiểu C, sinh năm 1992
3.3. Bà Đàm Thị Bích T, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, H. T, T. Đ (nay là xã T, T. Đ)
4. Người kháng cáo:
4.1. Bị đơn ông Nguyễn Hồ B, sinh năm 1982
4.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị Bích T, sinh năm
1982
(Ông Tuấn A, ông B, bà C, bà T có mặt; ông Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm,
* Nguyên đơn Công ty TNHH P có bà Trương Hà Tiểu C đại diện trình
bày:
Công ty TNHH P (gọi tắt là Công ty) có thuê mặt bằng là quyền sử dụng
đất đối với diện tích 792m
2
(khoảng ngang 24m, dài 33m) mặt tiền giáp Quốc lộ B
là một phần diện tích 4.843,7m
2
thửa đất số 149, tờ 33 thị trấn T của ông Lương
Hồng Đ theo Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa
đổi, bổ sung hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 (Công chứng tại
Văn phòng C1), mục đích để xây dựng đặt trụ sở Công ty. Theo đo đạc thực tế thì
diện tích thuê là 792m
2
bao gồm diện tích 482,2m
2
thuộc một phần thửa đất số
149, tờ 33 thị trấn T và toàn bộ diện tích thửa 31, tờ 17 là 309,8m
2
(thực tế đo đạc
là là 263m
2
).
Ông Lê Tuấn A (là người đại diện theo pháp luật của Công ty) và ông
Nguyễn Hồ B là bạn bè, có thỏa thuận Công ty cho ông B mượn lại 01 phần mặt
bằng để kinh doanh với diện tích khoảng ngang 04m x dài 10m để kinh doanh các
thiết bị thể thao, khi nào Công ty có nhu cầu lấy lại thì sẽ báo trước 01 tháng để
ông B trả lại mặt bằng, không phải bồi thường thiệt hại hay hỗ trợ gì vì ông B là
3
người hưởng lợi từ việc kinh doanh, do bạn bè tin tưởng nên các bên không ký kết
văn bản hợp đồng thuê, mượn gì mà chỉ nói miệng với nhau.
Tính từ thời điểm Công ty thuê mặt bằng đến nay, ông B mượn một phần
mặt bằng nhưng không hỗ trợ bất kỳ chi phí, khoản tiền nào cho Công ty.
Đến tháng 11/2023, Công ty có liên hệ với ông B để lấy lại phần mặt bằng
nhằm mở rộng mặt bằng kinh doanh Công ty nhưng ông B không trả và muốn
chiếm dụng mặt bằng đã mượn.
Công ty TNHH P khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hồ B có nghĩa vụ trả lại
quyền thuê quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 43,4m
2
được giới hạn bởi
các mốc (1,2,3,4,5,6,1) theo Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số
077/2025 ngày 22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh
huyện T tại thửa đất số 149, tờ 33 và thửa 31, tờ 17 thị trấn Tân Phú theo Hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 (Công chứng tại Văn phòng C1)
giữa Công ty và ông Lương Hồng Đ mà Công ty cho ông B mượn.
Do vợ ông B là bà Đàm Thị Bích T đang sinh sống, kinh doanh trên căn nhà
xây dựng trên mặt bằng, do đó bà T cùng ông B phải có trách nhiệm trả lại quyền
thuê quyền sử dụng đất.
Thời điểm khởi kiện ban đầu nếu ông B, bà T có thiện chí tự nguyện trả mặt
bằng và không tháo dỡ các tài sản trên đất thì Công ty đồng ý hỗ trợ 50.000.000đ
(Năm mươi triệu đồng); trường hợp phía ông B, bà T tháo dỡ trả mặt bằng thì
Công ty nhận lại mặt bằng và không hỗ trợ gì. Nay Công ty do không có nhu cầu
nhận tài sản nên không đồng ý tự nguyện hỗ trợ tiền mà đề nghị ông B, bà T phải
tháo dỡ các tài sản trên đất để trả lại mặt bằng cho Công ty.
* Bị đơn ông Nguyễn Hồ B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Đàm Thị Bích T trình bày:
Ông B và ông Lê Tuấn A có quen biết là bạn bè. Năm 2019, ông B có dự
định thuê mặt bằng kinh doanh các thiết bị thể thao; được biết ông Tuấn A cũng
có dự định thuê mặt bằng mới để kinh doanh nên ông B giới thiệu cho ông Tuấn A
đến gặp ông Đ để thuê đất diện tích khoảng ngang 24m dài 30m; các bên thống
nhất bà T là người trực tiếp gặp ông Đ đàm phán giá thuê và thời điểm thuê với
điều kiện phải để lại cho ông B, bà T được sử dụng diện tích 05mx30m nằm bên
trái thửa đất, sau đó có thay đổi vị trí với diện tích còn khoảng 04m x dài 10m và
nằm bên phải thửa đất thì ông bà cũng đồng ý; việc thỏa thuận giữa các bên không
có văn bản gì mà chỉ bằng lời nói, đồng thời bản thân ông B, bà T không phải trả
bất cứ số tiền nào cho phía chủ đất ông Đ, ông Tuấn A, Công ty mà toàn bộ tiền
4
thuê ông Tuấn A là đại diện tự trả tiền cho ông Đ. Do bạn bè tin tưởng các bên
không ký kết văn bản hợp đồng thuê, mượn gì mà chỉ nói miệng với nhau; cũng
không nói rõ là khi nào trả lại mặt bằng mà căn cứ hợp đồng thuê của ông Tuấn A;
không thỏa thuận đòi trước hạn.
Theo đó, ông Tuấn A (là người đại diện Công ty) ký hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất của ông Đ theo Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020 và
Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 do
Lê A soạn thảo thì ông B, bà T có đọc hợp đồng; tuy nhiên giá thuê và đàm phán
thì bà T có thương lượng với ông Đắc giùm ông Tuấn A, sau đó ông Tuấn A đại
diện Công ty ký hợp đồng thuê với ông Đ.
Sau đó, mỗi bên bắt đầu tự xây dựng, phía ông Tuấn A xây dựng trước; còn
ông B, bà T bắt đầu xây dựng từ khoảng tháng 8/2020 đến khoảng tháng 10/2020
thì xong và đang kinh doanh các thiết bị thể thao (G, máy chạy bộ, đồ thể thao
thương hiệu Y) cho đến nay. Các tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng
ông B, bà T.
Đến cuối năm 2023 và đầu năm 2024, ông Tuấn A có liên hệ ông B, bà T
đòi mặt bằng, ông B có nói bao giờ Hợp đồng giữa Công ty hết hạn với ông Đ thì
ông B, bà T trả lại.
Việc ông bà xây dựng thì ông Tuấn A và Công ty đều chứng kiến và đồng
ý, không ý kiến gì, chủ đất ông Đ cũng đồng ý không có ý kiến gì, hiện hợp đồng
thuê giữa Công ty và chủ đất là đến năm 2030 là còn dài nên Công ty lấy tài sản
của ông bà thì tiếp tục sử dụng và kinh doanh sinh lợi, ông Tuấn A phải biết là khi
chấm dứt hợp đồng trước hạn (2020-2030) thì phải hoàn lại giá trị tài sản cho ông
bà; nếu như ông Tuấn A trình bày hỗ trợ 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) thì
ông bà không xây dựng và cũng không giới thiệu mặt bằng cho ông Tuấn A thuê.
Nay Công ty khởi kiện thì ông B, bà T đồng ý trả lại mặt bằng nêu trên.
Ông B, bà T đồng ý bản vẽ và việc định giá tài sản theo Chứng thư để làm
căn cứ hoàn lại giá trị tài sản cho ông bà gồm có nhà ở (173.600.000 đồng) và
biển hiệu quảng cáo (31.275.000 đồng), tổng cộng là 204.875.000 đồng, do xây
dựng là kiên cố gồm tường, khung, mái, đổ tấm giả (lót ván sàn, simili), theo ông
bà tháo dỡ sẽ dẫn đến hư hỏng và không còn giá trị sử dụng nên từ chối nhận lại
và Công ty phải trả lại tiền cho ông bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tuấn A có bà Trương Hà
Tiểu C đại diện trình bày:
5
Ông Tuấn A là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P. Ông đã
trình bày với tư cách là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn, ông không
bổ sung gì thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Hồng Đ trình bày:
Đầu năm 2020, bà T dẫn ông Tuấn A đến nhà ông Đ; do ông Tuấn A có hỏi
thuê phần diện tích đất kinh doanh phần giáp Quốc lộ B nên ông Đ đồng ý cho
thuê.
Cụ thể, ông Tuấn A (đại diện Công ty) có thuê quyền sử dụng đất của ông
Đ đối với thửa đất số 149, tờ C thị trấn T với diện tích thuê 792m
2
(ngang 24m x
dài 33m) là một phần của tổng diện tích 4.843,7m
2
theo Hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất ngày 23/4/2020 (Công chứng tại Văn phòng C1). Theo đo đạc thực tế thì
diện tích thuê là 792m
2
bao gồm diện tích 482,2m
2
thuộc một phần thửa đất số
149, tờ 33 thị trấn T và toàn bộ diện tích thửa 31 thực tế đo đạc là 263m
2
.
Việc ông B và ông Tuấn A thỏa thuận việc cho ông B sử dụng và xây dựng
công trình trên một phần diện tích đất đã cho thuê thì ông Đ không có ý kiến,
không chứng kiến sự việc các bên thỏa thuận nhưng sau đó có biết và đồng ý việc
các bên xây dựng, biết việc ông B đã thỏa thuận mượn một phần diện tích thuê và
đã xây dựng nhà, kinh doanh trên đất như hiện trạng hiện nay.
Công ty P trả tiền thuê hàng tháng cho ông Đ đúng hạn do ông Tuấn A là
đại diện trả tiền. Còn phía ông B thì không có trách nhiệm trả tiền gì; ông Đ cũng
không nhận số tiền nào từ ông B.
Đối với Công ty TNHH P khởi kiện, do ông Tuấn A và ông B tự liên hệ
nhau, thỏa thuận mượn mặt bằng, sau đó ông Tuấn A đòi mặt bằng, tranh chấp với
ông B thì ông Đ hoàn toàn không có ý kiến, vì không có quyền lợi và nghĩa vụ gì
đối với các bên; còn hợp đồng thuê thì từ 2020 đến 2030 là còn thời hạn giữa ông
và Công ty; đề nghị Công ty T2 thực hiện theo đã ký kết.
Nguồn gốc thửa đất 31 do ông Đ nhận tặng cho từ bà Nguyễn Thị H chưa
cấp giấy chứng nhận. Ông Đ và Công ty sẽ ký bổ sung đối với hợp đồng; cam kết
là thuê theo hiện trạng gồm 02 thửa đất 31 và diện tích 482,2m
2
thửa 149.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp và
thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Các đương sự không có ý kiến gì khác đối với các tài liệu,
chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị
đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
6
yêu cầu độc lập. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ
nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người
tham gia tố tụng khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tuyên xử:
Căn cứ vào:
- Khoản Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
144, Điều 147, Điều 158, Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 184, Điều 185, khoản
1 Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 161, Điều 207, Điều 213,
Điều 221, Điều 223, Điều 357, Điều 385, Điều 386, Điều 388, Điều 398, Điều
400, Điều 401, và Điều 429; Điều 472, Điều 473, Điều 481 và Điều 482; Điều
500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật dân sự;
- Điều 167, Điều 168 và Điều 188 Luật Đất đai; Điều 64 và Điều 79 Nghị
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số Điều của Luật Đất đai;
- Điều 24, Điều 25, Điều 27, Điều 29, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37
Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH P về việc
“Tranh chấp về quyền thuê quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ B.
Bị đơn ông Nguyễn Hồ B và và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Đàm Thị Bích T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH P quyền thuê quyền sử dụng
đất đối với phần diện tích đất 43,4m
2
được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,1)
theo Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 077/2025 ngày
22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh huyện T tại thửa
đất số 149, tờ 33 và thửa 31, tờ 17 thị trấn T ký kết theo Hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất ngày 23/4/2020 (Công chứng tại Văn phòng C1) giữa Công ty TNHH P
và ông Lương Hồng Đ.
Ông Nguyễn Hồ B và bà Đàm Thị Bích T có nghĩa vụ tháo dỡ công trình
diện tích mặt sàn xây dựng là 86,8m
2
tại một phần các thửa đất số 31, tờ 17 thị
7
trấn T (56,4m
2
) và thửa đất số 149, tờ 33 thị trấn T (30,4m
2
) để trả lại quyền thuê
quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH P.
Gồm có tài sản như sau:
- Nhà ở diện tích mặt sàn xây dựng 86,8m
2
: Kết cấu móng, cột bê tông cốt
thép + tường gạch sơn nước (1 bên hông tiếp giáp thửa 30); Cột thép, tường gạch
sơn nước (1 bên hông còn lại sử dụng nhờ); T1 gạch, sơn nước (mặt sau sử dụng
nhờ); Mặt tiền cửa kính cường lực; Xà gồ sắt, mái tôn. Trần thạch cao khung nổi;
Nền gạch ceramic; Cửa chính khung sắt cuốn, bên trong cửa kính cường lực. Nhà
vệ sinh: vách nhôm kính, xí bệt. Tầng lầu: Đòn tay sắt, sàn gỗ lót simili; Vách:
Cột bê tông cốt thép + tường gạch sơn nước (1 bên hông tiếp giáp thửa 30);
Khung sắt + tôn (1 bên hông còn lại + mặt sau); Mặt tiền kính cường lực; Cầu
thang sắt, bao xung quanh ván gỗ. Phần nhà ở thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số
17 có diện tích mặt sàn xây dựng 56,4 m
2
; Phần nhà ở thuộc thửa đất số 149, tờ
bản đồ số 33 có diện tích mặt sàn xây dựng 30,4 m
2
.
- Bảng hiệu quảng cáo: Kết cấu ốp alu mái đón dưới quy cách khung sắt
vuông 20mm bên ngoài ốp nhôm alucores. Độ dầy nhôm 0.10mm, độ dày tấm 0.3
mm. Hộp đèn in uv bạt mĩ đèn led modun H3.5m x W407cm: Khung sắt vuông
20mm, đèn tuyp LED bóng 120cm, bên ngoài căn bạt cao cấp không gân in UV, (
độ bền màu 3 năm trở lên). Bộ chữ alu đèn led ghế massage thiết bị thể thao,
50cm x 470cm. Trang trí sửa chữ dán tranh đi viền tranh trong nhà. Tranh in PP
cáng màng dán foom Sly, kích thước: 90cm x 120cm. Alu ốp 2 cột 2 bên: khung
sắt vuông 20mm bên ngoài ớp nhôm alucores. Độ dày nhôm 0,10mm, độ dày tấm
0,3 mm. Đèn pha dây điện, ổ cắm công tắc.
(Hiện trạng tài sản được mô tả theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 28/11/2024 của Tòa án, Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số
077/2025 ngày 22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh
huyện T)
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
- Ngày 21/5/2025, bị đơn ông Nguyễn Hồ B kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm và yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị Bích T kháng cáo một phần
bản án sơ thẩm và yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc
nguyên đơn Công ty TNHH P phải bồi thường giá trị tài sản trên đất cho bà theo
chứng thư thẩm định giá là 204.875.000 đồng.
8
Tại phiên tòa, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc
giải quyết vụ án. Không đương sự nào cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
* Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai:
- Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
làm đơn kháng cáo trong hạn luật định và đúng quy định pháp luật nên được xem
xét.
- Về đường lối giải quyết:
Cấp sơ thẩm đã giải quyết nội dung tranh chấp phù hợp với quy định pháp
luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không
cung cấp được cứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy, đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông B và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hồ B và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị Bích T làm trong thời hạn và
đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lương Hồng Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố Tụng
dân sự mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt ông Đ.
[3] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, đương sự trong vụ án: Tòa
án cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ.
[4] Về nội dung:
Nguyên đơn Công ty TNHH P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hồ B
và người liên quan bà Đàm Thị Bích T trả lại diện tích đất cho mượn 43,4m
2
9
thuộc một phần thửa đất số 149, tờ số 33 và thửa số 31, tờ số 17 thị trấn T theo
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ
sung hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 (Công chứng tại Văn
phòng C1) giữa Công ty với ông Lương Hồng Đ. Về phía ông B, bà T đồng ý trả
lại Công ty diện tích đất đã mượn và yêu cầu Công ty có trách nhiệm thanh toán
lại cho ông bà giá trị công trình xây dựng trên đất là 204.875.000 đồng. Công ty
không đồng ý thanh toán lại ông B, bà T giá trị công trình xây dựng trên đất và đề
nghị ông B, bà T tự tháo dỡ công trình trên đất để trả lại đất cho Công ty sử dụng.
[4.1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hồ B và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị Bích T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông B cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm
không giải thích cho ông biết được quyền mời người làm chứng là vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Xét thấy, việc cung
cấp tài liệu, chứng cứ, đề nghị triệu tập người làm chứng để chứng minh cho ý
kiến, yêu cầu của mình là đúng thuộc nghĩa vụ của đương sự, tại cấp sơ thẩm ông
B không đề nghị mời người làm chứng nên Tòa án cấp sơ thẩm không mời là phù
hợp quy định pháp luật, do đó ông B đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm thủ
tục tố tụng là không có cơ sở nên không chấp nhận.
Quá trình làm việc tại cấp sơ thẩm các đương sư khai thống nhất, Hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 ký kết giữa Công ty với ông Đ được Công
chứng tại Văn phòng C1 có diện tích đất thuê là 792m
2
, bao gồm 482,2m
2
đất
thuộc một phần thửa đất số 149, tờ số 33 và toàn bộ diện tích thửa 31, tờ số 17 qua
đo đạc thực tế có diện tích 263m
2
tại thị trấn T. Trong đó bao gồm diện tích đất
43,4m
2
mà Công ty cho ông B, bà T mượn được giới hạn bởi các mốc
(1,2,3,4,5,6,1) theo Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 077/2025
ngày 22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh T.
Sau khi ký hợp đồng thuê với ông Đ, Công ty có cho ông B, bà T mượn
diện tích đất 43,4m
2
để kinh doanh thiết bị thể thao cho đến nay, việc cho mượn
đất thuê chỉ nói miệng không có làm giấy tờ. Đến tháng 11/2023 và đầu năm
2024, Công ty có liên hệ ông B, bà T yêu cầu trả đất cho mượn, ông B, bà T
không đồng ý nhưng quá trình làm việc và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông B, bà T đồng ý trả lại đất cho Công ty nên cấp
sơ thẩm đã giải quyết ghi nhận sự tự nguyện của ông B, bà T về việc trả lại đất
mượn cho Công ty là phù hợp quy định pháp luật.
[4.2] Đối với tài sản gắn liền với diện tích đất:
10
Công ty xác định không có nhu cầu nhận tài sản của ông B, bà T để sử dụng
nên đề nghị ông B, bà T tháo dỡ các tài sản trên đất để trả lại mặt bằng cho Công
ty. Về phía ông B, bà T không đồng ý và yêu cầu giao Công ty sở hữu toàn bộ tài
sản và Công ty phải hoàn lại giá trị tài sản cho ông bà gồm nhà ở là 173.600.000
đồng và biển hiệu quảng cáo là 31.275.000 đồng, tổng cộng là 204.875.000 đồng.
Xét thấy ông B, bà T xây dựng công trình trên đất có diện tích mặt sàn xây
dựng 86,8m
2
tại một phần các thửa đất số 31, tờ 17 thị trấn T (56,4m
2
) và thửa đất
số 149, tờ 33 thị trấn T (30,4m
2
) có kết cấu cột bê tông cốt thép + tường gạch sơn
nước (1 bên hông tiếp giáp thửa 30); các bên còn lại cột + tường đều sử dụng nhờ
công trình xây dựng của Công ty TNHH P và có vách khung sắt + tôn (1 bên hông
còn lại + mặt sau), mặt tiền kính cường lực, việc ông B, bà T xây dựng công trình
trên đất chỉ phù hợp với việc kinh doanh của ông bà nên Công ty không đồng ý
nhận tài sản để sử dụng là có cơ sở. Ngoài ra, ông B, bà T được sử dụng, hưởng
lợi từ việc kinh doanh trên một phần diện tích đất theo Hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất giữa Công ty và ông Lương Hồng Đ từ ngày ký hợp đồng 10/02/2020
đến nay mà không phải trả tiền mặt bằng hay tiền hỗ trợ gì cho Công ty hoặc chủ
đất là ông Đ, trong khi Công ty phải trả tiền thuê cho ông Đ.
Theo Công văn số 109/KH,HT&ĐT ngày 26/4/2025 của Phòng Kinh tế, hạ
tầng và đô thị huyện T, tỉnh Đồng Nai và Công văn số 167/TĐG-VB ngày
26/4/2025 của Công ty Cổ phần T3 xác định công trình xây dựng của ông B, bà T
không có giấy phép xây dựng, có kết cấu không kiên cố và một phần sử dụng nhờ
của công trình bên cạnh nên có thể tháo dỡ, dời được.
Vì vậy, cấp sơ thẩm đã giải quyết buộc ông B, bà T có nghĩa vụ tháo dỡ
toàn bộ công trình xây dựng trên trên diện tích đất 43,4m
2
để trả lại quyền thuê
quyền sử dụng đất cho Công ty là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cấp sơ thẩm đã giải
quyết nội dung tranh chấp phù hợp với quy định pháp luật bị đơn và người liên
quan kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận và giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 1.363.500 đồng, xem xét thẩm định
tại chỗ 3.000.000 đồng, thẩm định giá tài sản 20.000.000 đồng, tổng cộng là
24.353.500 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi ba nghìn năm trăm
đồng), nguyên đơn đã tạm nộp. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên ông B, bà T phải chịu chi phí tố tụng và có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên
đơn chi phí tố tụng đã nộp.
[6] Về án phí:
11
- Án phí sơ thẩm: Ông B, bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty TNHH P số tiền 300.000 đồng (Ba
trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp.
- Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông B, bà T không được chấp nhận,
do đó phải chịu án dân sự phúc thẩm theo quy định.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hồ B và bà Đàm Thị Bích T;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, 147, 158, 165, khoản 1 Điều 166, Điều 184, 185, khoản 1 Điều 227,
Điều 228, 273, khoản 3 Điều 296, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 494, 495, 496, 497, 498, 499, 500, 501, 502 của Bộ luật
Dân sự; Điều 167, 168, 188 Luật Đất đai;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH P về việc
“Tranh chấp về quyền thuê quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ B.
Ông Nguyễn Hồ B và bà Đàm Thị Bích T có trách nhiệm trả cho Công ty
TNHH P quyền thuê quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 43,4m
2
được
giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,1) theo Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ
địa chính số 077/2025 ngày 22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ-
Chi nhánh T tại thửa đất số 149, tờ số 33 và thửa đất số 31, tờ số 17 thị trấn T,
huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 10/02/2020
và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020
giữa Công ty TNHH P và ông Lương Hồng Đ.
Buộc ông B, bà T có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên
diện tích đất 43,4m
2
, có diện tích mặt sàn xây dựng là 86,8m
2
tại một phần các
thửa đất số 31, tờ số 17 (diện tích 56,4m
2
) và thửa đất số 149, tờ số 33 (diện tích
12
30,4m
2
) tại thị trấn T để trả lại quyền thuê quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH
P.
Gồm có tài sản như sau:
- Nhà ở diện tích mặt sàn xây dựng 86,8m
2
: Kết cấu móng, cột bê tông cốt
thép + tường gạch sơn nước (1 bên hông tiếp giáp thửa 30); Cột thép, tường gạch
sơn nước (1 bên hông còn lại sử dụng nhờ); T1 gạch, sơn nước (mặt sau sử dụng
nhờ); Mặt tiền cửa kính cường lực; Xà gồ sắt, mái tôn. Trần thạch cao khung nổi;
Nền gạch ceramic; Cửa chính khung sắt cuốn, bên trong cửa kính cường lực. Nhà
vệ sinh: vách nhôm kính, xí bệt. Tầng lầu: Đòn tay sắt, sàn gỗ lót simili; Vách:
Cột bê tông cốt thép + tường gạch sơn nước (1 bên hông tiếp giáp thửa 30);
Khung sắt + tôn (1 bên hông còn lại + mặt sau); Mặt tiền kính cường lực; Cầu
thang sắt, bao xung quanh ván gỗ. Phần nhà ở thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số
17 có diện tích mặt sàn xây dựng 56,4 m
2
; Phần nhà ở thuộc thửa đất số 149, tờ
bản đồ số 33 có diện tích mặt sàn xây dựng 30,4 m
2
.
- Bảng hiệu quảng cáo: Kết cấu ốp alu mái đón dưới quy cách khung sắt
vuông 20mm bên ngoài ốp nhôm alucores. Độ dầy nhôm 0.10mm, độ dày tấm 0.3
mm. Hộp đèn in uv bạt mĩ đèn led modun H3.5m x W407cm: Khung sắt vuông
20mm, đèn tuyp LED bóng 120cm, bên ngoài căn bạt cao cấp không gân in UV, (
độ bền màu 3 năm trở lên). Bộ chữ alu đèn led ghế massage thiết bị thể thao,
50cm x 470cm. Trang trí sửa chữ dán tranh đi viền tranh trong nhà. Tranh in PP
cáng màng dán foom Sly, kích thước: 90cm x 120cm. Alu ốp 2 cột 2 bên: khung
sắt vuông 20mm bên ngoài ớp nhôm alucores. Độ dày nhôm 0,10mm, độ dày tấm
0,3 mm. Đèn pha dây điện, ổ cắm công tắc.
(Hiện trạng tài sản được mô tả theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 28/11/2024 của Tòa án, Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số
077/2025 ngày 22/01/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T)
2. Về chi phí tố tụng: Ông B, bà T phải chịu 1.363.500 đồng chi phí đo đạc,
3.000.000 đồng xem xét thẩm định tại chỗ và 20.000.000 đồng chi phí thẩm định
giá tài sản, tổng cộng là 24.353.500 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi
ba nghìn năm trăm đồng). Công ty TNHH P đã tạm nộp vì vậy ông B, bà T phải
hoàn trả lại số tiền 24.353.500 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi ba
nghìn năm trăm đồng) cho Công ty TNHH P.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Ông B, bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
13
Hoàn trả Công ty TNHH P số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013576 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Án phí phúc thẩm: Ông B, bà T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm đã nộp của ông B theo biên lai thu số 0021014 ngày
21/5/2025, của bà T theo biên lai thu số 0021013 ngày 21/5/2025 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Tân Phú (Ông B, bà T đã nộp đủ án phí phúc thẩm).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
* Nơi nhận:
- TAND khu vục;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- THADS;
- Đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Văn Toàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng