Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST ngày 10/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 35/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST ngày 10/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 35/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lý Thị Mai H-Hà Xuân P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 35/2026/HNGĐ-ST
Ngày 10-8-2026
V/v “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lan và bà Nguyễn Thị Thương;
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia
phiên tòa: Bà Đặng Thị Hoài Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng
Trị xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số:
164/2026/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026 về việc “Ly hôn và tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
36/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Thị Mai H, sinh năm 1983; CCCD số ************;
Địa chỉ: thôn Q (thôn H cũ), xã K, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
Bị đơn: Ông Hà Xuân P, sinh năm 1983; CCCD số ************; Địa chỉ:
thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lý Thị Mai H trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình
tố tụng tại tòa án:
Về tình cảm: Bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P tự nguyện đăng ký kết hôn
với nhau vào ngày 25/7/2023 tại UBND thị trấn L, huyện H (nay là UBND xã L),
tỉnh Quảng Trị. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng 2 năm trở
lại đây thì hay phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không
còn yêu thương chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình. Vợ chồng
đã ly thân và không còn tình cảm với nhau. Nay, bà Lý Thị Mai H yêu cầu Tòa
án giải quyết cho bà H được ly hôn ông Hà Xuân P.
Về con chung: Bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P có 01 con chung là cháu
Hà Xuân P1, sinh ngày 08/8/2023. Khi ly hôn, bà Lý Thị Mai H có nguyện vọng
được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung bởi vì từ lúc vợ chồng ly thân đến
2
nay, cháu Hà Xuân P1 chung sống với bà H. Bà Lý Thị Mai H không yêu cầu ông
Hà Xuân P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản trình bày ý kiến đề ngày 02/7/2026 và Đơn xin xét xử vắng mặt đề
ngày 03/8/2026 bị đơn ông Hà Xuân P trình bày:
Về tình cảm: Ông Hà Xuân P đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ,
nếu bà Lý Thị Mai H kiên quyết ly hôn thì ông P đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông Hà Xuân P và bà Lý Thị Mai H có 01 con chung là cháu
Hà Xuân P1, sinh ngày 08/8/2023. Khi ly hôn, ông Hà Xuân P có nguyện vọng
giao con Hà Xuân P1 cho bà Lý Thị Mai H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
con. Ông Hà Xuân P không phải cấp dưỡng nuôi con. Bởi vì Ông Hà Xuân P
thường xuyên đau ốm, không có điều kiện khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị thụ lý và giải quyết
vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm
phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên
đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và
234 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và
nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia
đình 2014, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn
cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T, Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lý Thị
Mai H được ly hôn với ông Hà Xuân P.
Về con chung: Giao cháu Hà Xuân P1, sinh ngày 08/8/2023 cho bà Lý Thị
Mai H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Hà Xuân P không phải cấp dưỡng
nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P đều không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà Lý Thị Mai H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Lý Thị Mai H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Hà Xuân P và
giải quyết con chung khi ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ
tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28
Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Hà Xuân P có nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay tại thôn T, xã L,
tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 7, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15
của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hà Xuân P được
Tòa án triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên
Tòa án áp dụng điểm khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự
tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Hà Xuân P.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2026 và các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án thì bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P tự nguyện đăng ký kết
hôn vào ngày 25/7/2023 tại UBND thị trấn L, huyện H (nay là UBND xã L), tỉnh
Quảng Trị. Như vậy, hôn nhân giữa bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P là hôn
nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Theo kết quả xác minh của Tòa án về tình trạng hôn nhân giữa bà Lý Thị
Mai H và ông Hà Xuân P tại UBND xã L, tỉnh Quảng Trị ngày 02/7/2026 và tại
UBND xã K, tỉnh Quảng Trị ngày 23/7/2026, thì hôn nhân giữa bà Lý Thị Mai H
và ông Hà Xuân P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng đã không còn chung
sống với nhau, không còn chung sống thực tế. Điều này cho thấy quan hệ hôn
nhân giữa các bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Hà Xuân P để tham
gia các phiên hòa giải nhưng ông Hà Xuân P đều vắng mặt không có lý do, điều
đó thể hiện ông Hà Xuân P không mong muốn hàn gắn, đoàn tụ gia đình, bỏ mặc
quan hệ hôn nhân.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P đã
thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nếu tiếp tục duy trì quan
hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên. Do đó, cần chấp nhận
4
cho bà Lý Thị Mai H được ly hôn ông Hà Xuân P là phù hợp với quy định tại
khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung:
Bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P có 01 con chung là cháu Hà Xuân P1,
sinh ngày 08/8/2023. Khi ly hôn, bà Lý Thị Mai H có nguyện vọng trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng cháu Hà Xuân P1. Bà Lý Thị Mai H không yêu cầu ông Hà Xuân
P phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của bà Lý Thị Mai H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định
của pháp luật, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi
về mọi mặt của con. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng
tại phiên tòa thể hiện cháu Hà Xuân P1 hiện đang do bà Lý Thị Mai H trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu có nơi ở, môi trường sống ổn định. Bà Lý Thị Mai H
có công việc, thu nhập ổn định, bảo đảm các điều kiện cần thiết để chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con và không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện chị không đủ
điều kiện thực hiện việc nuôi dưỡng con chung.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Xuân P đồng ý giao con
chung là cháu Hà Xuân P1 cho bà Lý Thị Mai H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Do đó, việc giao cháu Hà Xuân P1 cho bà Lý Thị Mai H tiếp tục trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm
quyền lợi về mọi mặt của cháu.
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Mai H; giao
cháu Hà Xuân P1 cho bà Lý Thị Mai H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con
chung; phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 6
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải
quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà Lý Thị Mai H
việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con,
nhưng bà Lý Thị Mai H vẫn không yêu cầu ông Hà Xuân P phải cấp dưỡng nuôi
con. Xét thấy người trực tiếp nuôi con là bà Lý Thị Mai H có khả năng, điều kiện
nuôi dưỡng con và việc bà Lý Thị Mai H không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện.
Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, không buộc ông Hà Xuân P
phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì vậy, cần giao cháu Hà Xuân P1, sinh ngày 08/8/2023 cho bà Lý Thị Mai
H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Hà Xuân P không phải cấp dưỡng nuôi
con.
5
3.3. Về tài sản chung: Bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân P đều không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Buộc bà Lý Thị Mai H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật
hôn nhân và gia đình;
Áp dụng vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147;
khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025
của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Áp dụng Điều 6, Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lý Thị Mai H và ông Hà Xuân
P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 53 ngày 25/7/2023 của UBND thị trấn L, huyện
H (nay là UBND xã L), tỉnh Quảng Trị).
2. Về con chung: Giao cháu Hà Xuân P1, sinh ngày 08/8/2023 cho bà Lý
Thị Mai H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Hà Xuân P không phải cấp dưỡng
nuôi con.
Ông Hà Xuân P có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không
ai có quyền cản trở ông Hà Xuân P thực hiện quyền này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7 và Điều 36 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Bà Lý Thị Mai H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án
phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn) đã nộp theo biên lai ký hiệu: BLTU/26E, số 0000005 ngày
01/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Bà Lý Thị Mai H đã nộp đủ án
phí ly hôn sơ thẩm.
6
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Lý Thị Mai H có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/8/2026). Bị đơn ông Hà Xuân
P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND khu vực 7-Quảng Trị;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị;
- UBND xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quang Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST Bản án số 35/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất