Bản án số 33/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2024/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Tân Uyên (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 33/2024/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mua bán hàng hóa
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 33/2024/KDTM-ST
Ngày: 15-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Thảo;
2/ Bà Võ Thị Hồng Tươi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư
ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên
tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử thẩm công khai vụ án kinh
doanh thương mại thụ số 74/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024
về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra t
xử số 32/2024/QĐXXST–KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH J; địa chỉ: A đường Đ, khu phố B, phường
B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Thúy
Q; địa chỉ: Số nhà D, đường Đ, ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có mặt
Bị đơn: Công ty TNHH K; địa chỉ: Khu phố B, phường K, thành phố T,
tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông ZHOU ZEREN – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
2
1/ Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp A, T, huyện B, tỉnh Bình
Dương. Có mặt ngày 10/7/2024 vắng mặt khi tuyên án ngày 15/7/2024.
2/ Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, L, huyện B,
tỉnh Bình ơng. mặt ngày 10/7/2024 vắng mặt khi tuyên án ngày
15/7/2024.
(Theo văn bản ủy quyền nộp ngày 14/6/2024)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/01/2023, Công ty TNHH J (Công ty J) Công ty TNHH K
(Công ty K) đã Hợp đồng kinh tế số 01012023 để mua bán nguyên liệu sản
xuất sofa. Thực hiện đúng thoả thuận Hợp đồng, Công ty J đã tiến hành giao
hàng và xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000194 ngày 10/11/2023 cho Công ty
K, giá trị là 1.325.501.846 đồng. Ngày 23/11/2023, Công ty K thanh toán cho
Công ty J số tiền 922.839.224 đồng thể hiện qua Giấy báo ngày
23/11/2023 của Ngân hàng TMCP N Chi nhánh Đ với nội dung thanh toán
“Tra tien cho CONG TY TNHH JIAYUE ENTERPRISE thang 11/2023, so hoa
don 00000194, dot 1”. Ngày 17/01/2024, Công ty J đã gửi T1 xác nhận công nợ
cho Công ty K, theo đó Công ty K đã xác nhận còn nợ Công ty J số tiền nợ gốc
là 402.662.622 đồng. Tiếp sau đó, ngày 20/02/2024, Công ty K đã gửi cho Công
ty J1 xác nhận phải trả nhà cung cấp với nội dung: “Số tiền Công ty chúng tôi
còn phải trả tại ngày 31/12/2023 là 402.662.622 VND” và đề nghị Công ty J xác
nhận thư, gửi đến Công ty TNHH K1 đang thực hiện kiểm toán Báo cáo tài
chính cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2023 của Công ty K2. Như vậy, số
tiền nợ gốc mà Công ty K còn phải thanh toán cho Công ty J 402.662.622
đồng. Mặc Công ty J đã nhiều lần yêu cầu Công ty K thực hiện nghĩa vụ
thanh toán, nhưng Công ty K vẫn không thực hiện. Ngoài ra, căn cứ Điều 306
Luật Thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm
thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp
khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm
trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán
tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp thoả thuận khác hoặc pháp
luật quy định khác”. Do Công ty K đã vi phạm thời hạn thanh toán theo thoả
thuận nên Công ty K nghĩa vthanh toán số tiền lãi chậm thanh toán phát
sinh cho Công ty J. Công ty J yêu cầu Công ty K thanh toán tiền lãi chậm thanh
toán theo lãi suất 10%/năm kể từ ngày đến hạn cho tới ngày thanh toán đầy đủ
các khoản nợ, tạm tính đến ngày 10/7/2024 21.852.659 đồng. Như vậy, tổng
3
cộng số nợ gốc lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày ngày 10/7/2024 Công
ty K phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty J là 424.515.281 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa người diện hợp pháp của bị đơn,
trình bày:
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn thừa nhận có ký kết hợp
đồng kinh tế số 01012023 để mua bán nguyên liệu sản xuất sofa, thừa nhận
nhận hàng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000194 ngày 10/11/2023 tuy nhiên
cho rằng hàng hóa do Công ty J bị lỗi dẫn đến khách hàng của Công ty K không
thanh toán tiền hàng cho Công ty K khiến cho Công ty K thiệt hại rất lớn, do đó
Công ty K không ký xác nhận nợ cho Công ty J, chữ ký tại “Thư xác nhận” ngày
17/01/2024 Thư xác nhận phải trả nhà cung cấp” ngày 20/02/2024 không
phải của người đại diện hợp pháp của Công ty K. Trước yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, bị đơn không đồng ý. Người đại diện yêu cầu giám định chữ để
xác định có phải chữ ký của ông Z ZEREN hay không.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như
sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc, tiền lãi
căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Các đương sự đều cách pháp nhân, tranh chấp với nhau hợp đồng
mua bán hàng hóa phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại đều
mục đích lợi nhuận. Bị đơn trụ sở chính tại thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Do đó, tranh chấp giữa các đương sự tranh chấp về kinh doanh, thương mại
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố n Uyên theo quy
định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét thấy ngày 01/01/2023, Công ty TNHH J Công ty TNHH K
Hợp đồng kinh tế s01012023 về việc mua bán nguyên liệu sản xuất sofa.
Công ty J đã tiến hành giao hàng xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 00000194
ngày 10/11/2023 cho Công ty K, giá trị 1.325.501.846 đồng. Theo T1 xác
4
nhận” ngày 17/01/2024 của Công ty J gửi cho Công ty K nội dung yêu cầu
xác nhận số n402.662.622 đồng; “Txác nhận phải trả nhà cung cấp” ngày
20/02/2024 của ng ty K gửi cho Công ty J nội dung yêu cầu xác nhận nợ
số tiền 402.662.622 đồng. Hai thư này đều chữ của ông Zhou Z1 dấu
của Công ty K. Ngoài ra tại Giấy báo có ngày 23/11/2023 của Ngân hàng TMCP
N Chi nhánh Đ nội dung thanh toán Tra tien cho CONG TY TNHH
JIAYUE ENTERPRISE thang 11/2023, so hoa don 00000194, dot 1”. Tại phiên
tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng do nguyên đơn giao hàng lỗi
nên không xác nhận công nợ, đồng nghĩa với việc thừa nhận chưa thanh toán
công nợ cho nguyên đơn. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ gốc số tiền
402.662.622 đồng của Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000194 ngày 10/11/2023. Do
đó việc giám định chtheo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị đơn
là không cần thiết, không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.
[3] Xác định tiền lãi chậm thanh toán: Đối chiếu mức lãi suất cho vay của
các ngân hàng tại thời điểm hiện tại thì mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu phù
hợp, bị đơn chậm thanh toán nên phải chịu khoản lãi chậm thanh toán theo quy
định. Tại Điều 2 của Hợp đồng các đương sự thỏa thuận “Bên A sẽ giao hàng tới
nhà máy của bên B, một tuần đối chiếu một lần, đối chiếu xong bên A sẽ xuất
hóa đơn cho bên B, 14 ngày sau khi đối chiếu công nợ sẽ thanh toán, những đơn
hàng sau sẽ thanh toán theo những điều khoản trên đơn đặt hàng. Bên B sẽ giữ
lại 5% giá trị hợp đồng trong 6 tháng để đảm bảo nguyên vật liệu bên A cung
cấp đảm bảo chất lượng, quy cách, kích thước đúng yêu cầu của Khách hàng bên
B. Sau 6 tháng, khách hàng bên B không bất k khiếu nại liên quan tới
nguyên vật liệu do bên A cung cấp, bên B sẽ thanh toán hoàn tất 5% còn lại của
Hợp đồng cho bên A”. Như vậy nguyên đơn được giữ lại 5% tương ứng số tiền
66.275.092 đồng nên chỉ phải chịu lãi chậm thanh toán s tiền này từ ngày
25/5/2024. Số tiền 336.387.530 đồng phải chịu lãi chậm thanh toán từ ngày
25/11/2023. Do đó, số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu là phù hợp.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại thẩm: Yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 257, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 24, Điều 50, 306 của Luật Thương mại;
5
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao vviệc hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mc thu, min, gim, thu, np, qun
lý và s dng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH J về việc
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bị đơn Công ty TNHH K.
- Buộc Công ty TNHH K phải thanh toán cho Công ty TNHH J
424.515.281 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu năm trăm mười lăm nghìn hai
trăm tám mươi mốt đồng) gồm tiền nợ gốc là 402.662.622 đồng và tiền lãi chậm
thanh toán tính từ ngày 25/11/2023 đến ngày 10/7/2024 theo mức lãi suất
10%/năm là 21.852.659 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s
năm 2015.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Buộc Công ty TNHH K phải chịu 20.980.611 đồng (Hai mươi triệu chín
trăm tám mươi nghìn sáu trăm mười một đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm.
- Trả lại cho Công ty TNHH J tạm ứng án phí 10.335.668 đồng (Mười
triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi tám đồng) đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001327 ngày 22/4/2024 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t
ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a 9 của Luật Thi hành án dân sự; thi hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
6
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Tân Uyên;
- Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
- Các đương sự;
- Lưu VT, HS.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Đình Hưởng
Tải về
Bản án số 33/2024/KDTM-ST Bản án số 33/2024/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2024/KDTM-ST Bản án số 33/2024/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất