Bản án số 33/2022/DS-ST ngày 01/07/2022 của TAND TX. Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2022/DS-ST ngày 01/07/2022 của TAND TX. Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Long Mỹ (TAND tỉnh Hậu Giang)
Số hiệu: 33/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/07/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NH DÂN
THỊ XÃ LM
TỈNH HẬU GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 33/2022/DS-ST
Ngày: 01/7/2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN THỊ XÃ LM
TỈNH HẬU GIANG
- 
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nH dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trưởng
2. Bà Đặng Thị Em
-  Trần Ngọc Ngà Thư Tòa án nH dân thị
LM, tỉnh Hậu Giang.
- H LM tham gia
phiên tòa:Phạm Thị Bích Thuận Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nH dân thị LM, tỉnh Hậu
Giang xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 28/2022/TLST-DS ngày 24
tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2022 Quyết
định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị M, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Khu vực 5, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Kh, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực 2, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
3. Người làm chứng:
3.1. Ông Đặng Văn H (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực 5, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
3.2. Ông Ngô Thanh Điền (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực 5, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
3.3 Ông Lưu Hoàng S (vắng mặt)
2
Địa chỉ: khu vực 6, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
3.4. Ông Lê Đình Q (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực 2, phường TA, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Dương Thị M trình bày:
Chị Dương Thị M cho anh Nguyễn Duy Kh vay số tiền 606.000.000
đồng. Cụ thể nsau: trước ngày 01/11/2021 (không nhớ thời gian cụ thể) chị
M cho anh Kh vay stiền 500.000.000 đồng, các bên m biên nhận nợ.
Đến ngày 01/11/2021, chị M tiếp tục cho anh Kh vay số tiền 106.000.000 đồng,
nên vào ngày 01/11/2021, anh Kh làm biên nhận nợ thể hiện anh Kh nhận của
chị M tổng cộng 606.000.000 đồng. Đối với biên nhận nợ 500.000.000 đồng thì
sau khi anh Kh lập biên nhận nợ 606.000.000 đồng chị M đã đưa lại cho anh Kh
giữ, hiện tại chị M không còn giữ biên nhận nợ nào liên quan đến số tiền vay
500.000.000 đng.
Hai n thỏa thuận lãi suất 3%/tháng nhưng không ghi trong biên nhận
nợ, khi vay ông Kh hứa vài ngày sau trả nhưng không trả. Để làm tin, ông Kh
giao cho chị M giữ 02 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05043,
CS05044. Sau đó, anh Khhứa sau 02 tháng sẽ trả cho chị M số tiền
200.000.000 đồng thì chị M sẽ trả lại cho anh Kh bản gốc giấy chứng nhận
quyền sdụng đất số CS05044, còn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CS05043 anh Kh sẽ m thủ tục sang tên qua cho chị M để cấn trừ nợ. Sau hai
tháng (tức vào ngày 01/01/2022) anh Kh chỉ trả cho chị M số tiền 30.000.000
đồng, nên chị M không trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho
anh Kh.
Nay chị M khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Duy Kh trả lại số tiền
576.000.000 đồng (606.000.000 đồng 30.000.000 đồng đã trả) và yêu cầu tính
lãi suất trên số tiền 576.000.000 đồng theo quy định pháp luật từ ngày
01/11/2021 đến khi xét xử sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Duy Kh trình bày:
Anh Kh có vay của chị M số tiền 349.000.000 đồng. Các lần nhận nợ như
sau: Tháng 02/2020 nhận 100.000.000 đồng, tháng 02/2021 nhận 129.000.000
đồng, tháng 5/2021 nhận 120.000.000 đồng. Các lần nhận tiền anh Kh đều có ký
nhận trong sổ của chị M. Hai bên thỏa thuận lãi suất 9%/tháng. Anh Kh có đóng
lãi cho chị M nhưng không nhớ số tiền cụ thể. Việc đóng lãi ghi vào sổ của
chị M. Đến ngày 01/11/2021, do không tiền trả vốn lãi nên anh Kh ghi
cho chị M biên nhận nợ số tiền 606.000.000 đồng, trong đó chỉ 349.000.000
3
đồng tiền vốn, còn lại tiền lãi. Thực tế anh Kh không nhận của chị M số
tiền 606.000.000 đồng. Việc giao dịch liên quan đến vay tiền chỉ anh Kh
chị M biết.
Khi vay tiền của chị M, anh Kh không thế chấp tài sản gồm 02 quyền
sử dụng đất số số CS05043, CS05044. do chị M giữ 02 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của anh Kh là ông Lưu Hoàng S lấy 02 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nêu trên đưa lại cho chị M.
Anh Kh đồng ý trả cho chị M số tiền vốn 349.000.000 đồng và đồng ý
trả lãi suất theo quy định pháp luật trên số tiền 349.000.000 đồng từ tháng
5/2021 đến nay. Anh Kh thống nhất ngày 01/01/2022, đã trả lãi cho chị M số
tiền 30.000.000 đồng. Anh Kh yêu cầu chị M trừ lại số tiền anh Kh đã trả
30.000.000 đồng vào số tiền gốc.
Quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng trình bày:
Ông Đặng Vân H trình bày: Việc giao dịch tiền giữa chM anh Kh thì
ông H không biết, chị M giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Kh
hay không thì ông H cũng không biết ông H không chứng kiến việc giao
tiền cũng như giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các bên.
Anh Ngô Thanh Điền trình bày: Việc giao dịch tiền giữa chị M và anh Kh
thì anh Điền không biết, chị M giữ giấy chứng nhận quyền sdụng đất của
anh Kh hay không thì anh Điền cũng không biết anh Điền không chứng
kiến việc giao tiền cũng như giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các
bên.
Ông Lưu Hoàng S trình bày: Việc giao dịch tiền giữa chị M và anh Kh thì
ông S không biết. Ông S không có nhận hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của anh Kh để đưa lại cho chị M. Ông S đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
Anh Đình Q trình bày: Việc giao dịch tiền giữa chị M anh Kh thì
anh Q không biết, chị M giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Kh
hay không thì anh Q cũng không biết anh Q không chứng kiến việc giao
tiền cũng như giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa các bên, anh Q chỉ
có nghe anh Kh nói lại sự việc. Anh Q đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nH dân thị LM, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan
điểm:
Về ttụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự, riêng bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
4
Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc
anh Nguyễn Duy Kh trả cho chị Dương Thị M số tiền 576.000.000 đồng lãi
suất theo quy định từ ngày ghi biên nhận nợ đến khi xét xử sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được
thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Tòa án,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trsố tiền vay theo biên nhận
nợ, bị đơn nơi trú trên địa bàn thị LM. Do đó, đây là “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thị xã LM, tỉnh
Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Duy Kh đã được triệu tập hợp lệ
lần thhai nhưng vẫn vắng mặt không lý do; những người làm chứng ông
Đặng Văn H, anh Ngô Thanh Điền, ông Lưu Hoàng S, anh Lê Đình Q vắng mặt,
căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xvắng
mặt bị đơn và những người làm chứng nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số tiền gốc: Quá trình giải quyết vụ án, để chứng minh yêu cầu
khởi kiện nguyên đơn cung cấp biên nhận đề ngày 01/11/2021 thể hiện Nguyễn
Duy Kh nhận 606.000.000 đồng, chị M cho rằng biên nhận này do anh Kh tự
viết và có ký tên, ghi đầy đủ họ, tên. Anh Nguyễn Duy Kh thừa nhận có ghi biên
nhận ngày 01/11/2021 như chị M trình bày. Đây tình tiết, s kiện không phải
chứng minh theo khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Nguyễn Duy Kh cho rằng chỉ nợ chị M 349.000.000 đồng tiền gốc,
còn lại là tiền lãi. Để chứng minh cho lời trình bày của mình quá trình giải quyết
vụ án, bị đơn cung cấp bản photo các tài liệu (từ bút lục số 11-14) thể hiện anh
Kh chỉ còn nợ chị M 349.000.000 đồng. Chị M thừa nhận các tài liệu do anh Kh
cung cấp do chị M viết, tuy nhiên trước đây chị M cho anh Kh vay
349.000.000 đồng nhưng các bên đã tất toán nợ.
Bên cạnh đó, qtrình giải quyết vụ án anh Nguyễn Duy Kh cho rằng
đang lưu trữ các tài liệu, chứng cứ liên quan tin nhắn qua zalo thể hiện anh Kh
nợ chị M 349.000.000 đồng. Ngày 12/4/2022, Tòa án đã yêu cầu anh Kh
cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan tin nhắn qua zalo nêu trên, anh Kh
thống nhất sẽ cung cấp trong thời hạn 01 tuần kể tngày 12/4/2022, tuy nhiên
đến thời điểm Tòa án tiến hành phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
5
cứ hòa giải cho đến nay anh Kh vẫn không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ để chứng minh chỉ nợ M 349.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2,
khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “2. Đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản phải thu thập, cung cấp,
giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sphản đối đó”, 4.
Đương sự nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh không đưa ra được
chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vviệc dân sự
theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ vụ việc”. Như vậy, ngoài
tài liệu anh Kh đã giao nộp, anh Kh không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào
khác. Lời trình bày này của anh Kh không được chị M thừa nhận, những người
làm chứng do anh Kh yêu cầu triệu tập cũng không biết sự việc giao dịch giữa
chị M và anh Kh.
Do đó, căn cứ để Hội đồng xét xử xác định việc anh Nguyễn Duy Kh
đã nhận nợ của chị Dương Thị M số tiền gốc 606.000.000 đồng sự thật. Quá
trình giải quyết vụ án, chị M thống nhất khấu trừ số tiền anh Kh đã trả
30.000.000 đồng vào số tiền gốc, yêu cầu này của chị M cũng phù hợp với yêu
cầu của anh Kh nên được chấp nhận.
Khi vay các đương sự không xác định cụ thể thời gian trả nợ. Căn cứ vào
khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Đối với hợp đồng vay không k
hạn lãi thì bên cho vay quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào”. Do đó,
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ.
[2.2] Về lãi suất:
[2.2.1] Về mức lãi suất: Các đương sự không thống nhất mức lãi suất cho
vay, nguyên đơn cho rằng cho bị đơn vay 3%/tháng, bị đơn thì cho rằng vay nợ
của nguyên đơn 9%/tháng. Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn yêu cầu tính lãi
suất theo quy định pháp luật, yêu cầu này của nguyên đơn cũng phù hợp với ý
kiến trình bày của bị đơn về việc yêu cầu tính lãi lại theo quy định, do đó Hội
đồng xét xử sự điều chỉnh lại, cthể mức lãi suất được điều chỉnh đối với
giao dịch vay giữa các bên là 10%/năm.
[2.2.2] Về thời gian tính lãi: Xét thời hạn ghi biên nhận nợ từ ngày
01/11/2021, chị M thống nhất tính lãi trên số tiền 576.000.000 đồng là có lợi cho
bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, thời gian tính lãi từ ngày
01/11/2021 đến thời điểm xét xử 01/7/2022 là 8 tháng.
[2.2.3] Do đó, số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là:
576.000.000 đồng x 8 tháng x 10%/năm = 38.384.640 đồng.
6
[2.3] Từ những pH tích nêu trên, có cơ sở buộc bị đơn trả cho nguyên đơn
số tiền 614.384.640 đồng, trong đó 576.000.000 đồng tiền gốc 38.384.640
đồng tiền lãi.
[3] Đối với việc chị M đang giữ bản gốc 02 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CS05044
CS05043 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hậu Giang cấp cùng ngày
20/10/2021 cho anh Nguyễn Duy Kh, nhận thấy, trong vụ án này các đương sự
không yêu cầu giải quyết đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này,
căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ xem
xét giải quyết trên số tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự được quyền khởi kiện thành ván khác khi yêu cầu liên
quan đến các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất nêu trên do chị M đang giữ bản gốc.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án, buộc bị đơn chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khon
2, khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điu 147 ca B lut T tng dân s năm 2015;
Điu 468, Điều 469 B lut Dân s năm 2015; Khon 2 Điu 26 ca Ngh Quyết
s 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi quy
định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị
M.
2. Buộc bị đơn anh Nguyễn Duy Kh có nghĩa vụ trả cho chị Dương Thị M
số tiền 614.384.640 đồng (S trăm mười bốn triệu, ba trăm tám mươi bốn nghìn,
S trăm bốn mươi đồng), trong đó 576.000.000 đồng (Năm trăm bảy mươi S
triệu đồng) tiền gốc 38.384.640 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm tám mươi
bốn nghìn, S trăm bốn mươi đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền
được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi
7
suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Dương Thị M được nhận lại số
tiền 14.120.000 đồng (Mười bốn triệu, một trăm hai ơi nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai số 0004154 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chi cục
thi hành án dân sự thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn anh Nguyễn Duy Kh phải chịu án phí dân sự thẩm số tiền
28.575.386 đồng (Hai mươi tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, ba trăm
tám mươi S đồng).
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
5. Nguyên đơn đưc quyn kháng cáo bn án trong thi hn 15 ngày, k
t ngày tuyên án sơ thm. B đơn đưc quyn kháng cáo bn án trong thi hn
15 ngày k t ngày nhận được bn án hoc bản án được niêm yết theo quy đnh
pháp lut.
:
- TAND tỉnh Hậu Giang;
- Các đương sự;
- VKSND thị xã LM;
- Chi cục THADS TX LM;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Châu Thanh Quyền
8
Tải về
Bản án số 33/2022/DS-ST Bản án số 33/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất