Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 13/01/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 13/01/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 33/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 33/2021/DS-PT
Ngày: 13/01/2021
Về việc:Tranh chấp hợp đồng
giao khoán sửa chữa nhà.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Phượng
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Đức Nam
2. Bà Lê Hải Vân
- Thư ký phiên tòa: Phạm Thị Lệ Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Duy Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
525/2020/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng
giao khoán sửa chữa nhà”.
Do Bản án n sự thẩm số 295/2020/DS-ST ngày 17/8/2020 của Tòa
án nhân dân huyện B bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5993/2020/QĐ-PT ngày
30/11/2020 Quyết định hoãn phiên tòa số 27092/2020/QDDS-PT ngày
25/12/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Ấp Lợi Đức, xã L, huyện L, Tnh Sóc Trăng.
Địa chỉ tạm trú: Đường 38/10 sân banh Đông Nhì, phường L1, thành phố
TA, tỉnh Bình Dương.
2
2. Bị đơn:Nguyễn Thị H, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Số 489A3/19 Ấp 1, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ngưi kháng cáo: Ông Trn Văn T Nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Ngày 19/5/2019, giữa bên giao khoán Nguyễn Thị H bên nhận giao
khoán ông Trần Văn T thỏa thuận Hợp đồng giao khoán sửa chữa phòng
trọ. Theo hợp đồng ông T sửa chữa 5 phòng trọ cho bà H tại địa chỉ 489A3/19
Ấp 1, xã A, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị hợp đồng
90.000.000 đồng H phải tạm ứng 10.000.000 đồng ngay khi hợp dồng
để ông T mua đồ.
*Tại Đơn khởi kiện ngày 13/8/2019 Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 17/10/2019 nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Trong quá trình thực hiện, ông đã sửa chữa gần hoàn thiện cho bà H được
02 phòng 03 phòng còn lại đã lên sắt; xây một số hạng mục, phần công việc
này tương ứng với số tiền 48.000.000 đồng, H đã trả trước 22.100.000 đồng.
Sau đó, H yêu cầu ông không tiếp tục sửa chữa nữa ông đề nghị H
nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng thì H phải trả cho ông số tiền còn lại
25.900.000 đồng, H không đồng ý. Nhận thấy, ngay từ đầu ông với H đã
thỏa thuận việc sửa chữa cụ thể trong hợp đồng. bà H đơn phương chấm dứt hợp
đồng nhưng không trả đủ tiền tương ứng với công việc ông đã thực hiện
trái với thỏa thuận của các bên vi phạm pháp luật. vậy, ông yêu cầu Tòa
án buộc bà H:
- Phải trả tiền công tương ứng với công việc ông đã thực hiện theo hợp
đồng là 25.900.000 đồng;
- Phải trả tiền lãi do chậm trả số tiền trên, tính từ ngày 01/6/2019 đến thời
điểm xét xử sơ thẩm theo mức 075%/tháng, thành tiền là 1.130.000 đồng.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn và có lời trình bày như sau:
Trong quá trình thi công, ông T không đảm bảo chất lượng công trình
an toàn lao động nên không yêu cầu ông T làm nữa. Về việc thanh toán tiền,
bà đã thanh toán cho ông T 32.100.000 đồng, cụ thể: Ngày 19/05/2019 là
10.000.000 đồng; Ngày 25/5/2019 15.000.000 đồng ngày 31/5/2019
3
7.100.000 đồng. Ngoài ra, bà còn thanh toán khoản tiền do ông T thuê giàn giáo
mâm: 1.800.000 đồng; tiền viện phí 3.000.000 đồng do trong quá trình thi
công ông T không đảm bảo an toàn công trình đã gây tai nạn cho công nhân.
Tại Bản án dân sthẩm số 295/2020/DS-ST ngày 17/8/2020, Tòa án
nhân dân huyện B đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Ngoài ra bản án còn phần quyết định về án phí quyền kháng cáo của
các đương sự.
Tại Đơn kháng o ngày 18/8/2020, ông T kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm với do: Nội dung tuyên án của bản án thẩm không thỏa đáng, không
đúng quy định của pháp luật, chưa nhận định phân tích hết các tình tiết liên quan
đến vụ án,m ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn vẫn giữa nguyên yêu cầu kháng cáo, và có lời trình bày:
H rất khó, ông làm cũng không hài lòng nên khi không cho
ông m nữa, ông cũng đồng ý hai bên chấm dứt hợp đồng. Liên quan đến
khoản tiền viện phí, bà H nhờ người thợ của ông làm giúp cho bà công việc trên
cao và bị té, không liên quan đến ông. Khoản tiền tạm ứng 10.000.000đồng theo
hợp đồng, H không giao cho ông. Ông đề nghị sửa án thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
* Bđơn không chấp nhận yêu cầu của ông T có lời trình y n sau:
Do trong lúc thi công, ông T không đảm bảo an toàn lao động, đã xảy ra
tình trạng người thợ của ông T bị thương phải đi cấp cứu và bà phải trả tiền viện
phí. Các khoản tiền đã đưa cho ông T như vậy đã tương xứng với công
việc ông đã làm.
* Đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ phúc thẩm xét xử. Về phía các
đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự
quy định.
- Về nội dung: Căn cứ i liệu, chứng cứ trong hồ vụ án qua tranh
tụng tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu kháng o của nguyên đơn không có căn cứ đề
nghị bác yêu cầu kháng cáo, giữa y án sơ thẩm.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra qua kết quả tranh luận của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Ngày 17/8/2020, Tòa án nhân dân huyện B tuyên án. Ngày 18/8/2020,
nguyên đơn thực hiện quyền kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí. Theo quy
định tại Khoản 1 Điều 272; Khoản 1 Điều 273 Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, kháng cáo của nguyên đơn còn trong thời hạn, đơn kháng cáo hợp
lệ.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thời hiệu khởi kiện:
Theo Hợp đồng giao khoán đề ngày 19/5/2019, giữa ông T và bà H có thỏa
thuận sửa chữa nhà trọ, tại phiên tòa hai bên đều xác nhận việc thỏa thuận này
tự nguyện và cùng thống nhất chấm dứt hợp đồng. Ngày 13/8/2019 ông T có đơn
khởi kiện buộc bà H phải thực hiện việc thanh toán khoản tiền còn lại là
25.900.000 đồng được Tòa án nhân dân huyện B thụ giải quyết. Đây giao
dịch dân sự thuộc quan hệ tranh chấp Hợp đồng dân sự”, bị đơn bà H hiện đang
trú tại huyện B. Thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân. Căn cứ Khoản
3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Bộ luật Tố tụng
dân sự Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, vụ việc n trong thời hiệu khởi
kiện, Tòa án nhân dân huyện B thụ giải quyết theo thủ tục thẩm đúng
thẩm quyền.
[ 3] Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, xét:
[3.1] Về giá trị phần việc ông T đã làm:
Theo nội dung hợp đồng giao khoán, ông T phải thực hiện việc sửa chữa 5
căn phòng tại địa chỉ 489A3/19 Ấp 1, A, huyện B cho H H phải trả
tiền cho ông T. Trong quá trình thực hiện hợp đồng hai bên đã chấm dứt, ông T
chưa thực hiện xong những công việc theo nội dung hợp đồng hai bên không
thỏa thuận việc thanh toán tiền. Ông T cho rằng ông đã thực hiện công việc sửa
chữa gần hoàn thiện 02 phòng và 03 phòng đã lên sắt; xây một số hạng mục tính
thành tiền 48.000.000 đồng. Tổng số tiền này do ông T tự tính H không
đồng ý, ông T không cung cấp tài liệu, chứng cứ đchứng minh các phần việc
5
đã thi công 48.000.000đồng. Do đó, không sở xác định các phần công
việc và các hạng mục ông T đã xây tính thành tiền là 48.000.000 đồng.
[3.2] Về các khoản tiền hai bên đã giao nhận:
Ông T xác nhận đã nhận của H tổng cộng 22.100.000 đồng, theo H
trình bày, đã giao cho ông T tổng cộng 32.100.000 đồng. Căn cứ các chng
từ do H cung cấp thì ông T đã nhận tiền của 3 lần, cụ thể: Lần 1, ngay
ngày hợp đồng 19/5/2019, đã ứng 10.000.000 đồng, thực hiện theo hợp
đồng; Lần 2, 15.000.000 đồng giao vào ngày 25/5/2019 và lần 3, giao 7.100.000
đồng ngày 31/5/2019. Ông T thừa nhận 2 khoản tiền 22.100.000 đồng, riêng
khoản tiền 10.000.000 đồng ông không thừa nhận. Tại Điều 2 của Hợp đồng
giao khoán ghi “...Trị giá hợp đồng: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng
chẵn) hợp đồng tạm ứng: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng chẵn) để mua
đồ...”. Với nội dung này H đã tạm ng cho ông T khoản tiền 10.000.000
đồng tiếp theo ngày 25/5/2019 ngày 31/5/2019 ông T nhận 2 khoản tiền
như đã nêu trên.
[4] Do ông T không xuất trình chứng cứ để chng minh các phần hạng
mục ông T đã thực hiện cho H thành tiền là 48.000.000 đồng nên không
căn cứ pháp luật để buộc H trả cho ông T số tiền còn lại 25.900.000 đồng
cùng với tiền lãi suất do chậm trả. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của ông T và giữ y bản án sơ thẩm.
Đề nghbác kháng cáo giữ y bản án thẩm của bị đơn đại diện Viện
Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo của ông T không được chấp nhận, ông T phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo Khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ Khoản 1 Điều 272; Khoản 1 Điều 273; Điều 276; Điều 293
Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự năm 2015;
6
n cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 295/2020/DSST ngày 17 tháng 8
năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu
số AA/2019/0079976 ngày 19 năm 8 tháng 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện B. Ông Trần Văn T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân tối cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
- Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đỗ Thị Kim Phượng
Tải về
Bản án số 33/2021/DS-PT Bản án số 33/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất