Bản án số 33/2020/KDTM-ST ngày 28/09/2020 của TAND Quận 9, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2020/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2020/KDTM-ST ngày 28/09/2020 của TAND Quận 9, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 9 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 33/2020/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2020
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TTÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9
9THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________________________________________
Bản án số: 33/2020/KDTM-ST
Ngày: 28-9-2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mai Trâm
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Bé
2. Ông Phạm Văn Tâm
Thư phiên tòa: Đậu Thị Hải Hoài cán bộ Tòa án nhân dân
Quận 9 – thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Trần Võ Hồng Duyên Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 08/2020/TLST-
KDTM ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2020/QĐXXST
KDTM ngày 03 tháng 8 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số
192/2020/QĐST–KDTM ngày 28 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Y
Địa chỉ: 1 Lã Xuân Oai, phường T, Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: ông P
Đại diện theo ủy quyền: bà M, sinh năm: 1993 (có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 12/6/2020).
Bị đơn: Công ty S (vắng mặt)
Địa chỉ: đường Y, khu C, xã n An Hội, huyện CChi, Tp. Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông H.
Đia chỉ: xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Công ty Y trình bày:
Ngày 06 tháng 11 năm 2017 Công ty Q Công ty J kết hợp đồng
kinh tế số: 06/11/2017/HSV-JK, nội dung hợp đồng Công ty Q cung cấp
lắp đặt máy nén khí trục vít GRH3GS-100A cho Công ty J. Giá trị hợp đồng
là 370.200.000 đồng (ba trăm bảy ơi triệu hai trăm ngàn đồng) số tiền trên
chưa bao gồm thuế GTGT 10%; về phương thức thanh toán: thanh toán thông
qua phương thức chuyển khoản (tiền đồng Việt Nam) đến tài khoản của ông
P, tại ngân hàng Shinhanbank CN Phú Mỹ Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí
Minh. Về thời hạn thanh toán đôi n thỏa thuận sau khi Công ty Q giao
hàng và lắp đặt, chạy thử máy hoàn thiện cho Công ty J thì Công ty J s
thanh toán 06 đợt bằng tiền Việt Nam cho Công ty Q, đợt 1: ngày 29/12/2017
thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 2 ngày 31/01/2018 thanh toán 61.700.000
đồng, đợt 3 ngày 28/02/2018 thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 4 ngày
30/3/2018 thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 5 ngày 28/4/2018 thanh toán
61.700.000 đồng, đợt 6 ngày 31/5/2018 thanh toán 61.700.000 đồng.
Ngày 13/11/2017 ng ty Q đã giao hàng lắp đặt hoàn thành máy
nén khí trục vít GRH3GS-100A tại Công ty J. Biên bản nghiệm thu được
Công ty J xác nhận. Nhưng sau khi hoàn thành công việc Công ty J liên
tục trì hoãn không thanh toán theo đúng thỏa thuận ban đầu của hợp đồng
hai bên đã kết. Ngày 25/01/2018 Công ty Q mới nhận được khoản
thanh toán 100.000.000 đồng từ Công ty J. Sau nhiều lần nhắc nhở thanh toán
qua điện thoại, email, gửi biên bản yêu cầu thanh toán và đến trực tiếp địa chỉ
của Công ty J đxác nhận thời gian thanh toán nhưng Công ty J vẫn không
thanh toán số tiền còn lại. Căn cứ Điều V của hợp đồng nêu trên quy định:
khi Công ty J chưa thanh toán hết 100% giá trị hợp đồng thì toàn bộ thiết bị
vẫn thuộc quyền sở hữu của Công ty Q và Công ty Q quyền thu hồi tài sản
của mình. vậy Công ty Q yêu cầu Công ty J hoàn trả lại máy nén khí trục
vít GRH3GS-100A, số tiền 100.000.000 đồng Công ty J đã thanh toán
cho Công ty Q được xem là chi phí khấu hao mà Công ty J đã sử dụng máy.
Ngày 15/5/2019 nguyên đơn Công ty Q nộp đơn xin thay đổi yêu cầu
khởi kiện, yêu cầu ng ty J thanh toán số tiền còn thiếu 270.200.000
đồng (hai trăm bảy mươi triệu hai trăm ngàn đồng) theo hợp đồng kinh tế số
06/11/2017 HSV-JK, không yêu cầu trả lãi suất.
Bị đơn Công ty J được Tòa án niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, triệu
tập lấy lời khai, thông báo phiên họp và hòa giải nhưng đều vắng mặt.
Tại phiên tòa: đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Công ty J hoàn trả số tiền còn thiếu
270.200.000 đồng (hai trăm bảy ơi triệu hai trăm ngàn đồng) theo hợp
đồng kinh tế số 06/11/2017 HSV-JK, không yêu cầu trả lãi.
3
Bị đơn Công ty J vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: đúng theo quy định pháp luật. Thẩm phán
đưa vụ án ra xét xử vi phạm về thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ
khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đương sự
thực hiện quyền nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy
phiên tòa. Đương sự đầy đủ năng lực pháp luật năng lực hành vi dân
sự.
- Về nội dung vụ án: căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty J
thanh toán cho Công ty Q số tiền còn thiếu 270.200.000 đồng (hai trăm
bảy mươi triệu hai trăm ngàn đồng) theo hợp đồng kinh tế s 06/11/2017
HSV-JK, trả ngay một lần khi bản án hiệu lực pháp luật. Bị đơn phải chịu
án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
Kiểm sát nhân dân Quận 9, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết của Tòa án: ng
ty Q yêu cầu Công ty J thanh toán tiền mua máy nén khí trục vít GRH3GS -
100A còn thiếu theo hợp đồng kinh tế s06/11/2017/HSV-JK ngày 06 tháng
11 năm 2017 nên đây tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy
định ti khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ Điều VII của hợp đồng kinh tế số 06/11/2017/HSV-JK ngày 06
tháng 11 năm 2017 quy định: hai bên cam kết thc hiện đúng các điu
khoản đã ký, không được đơn phương chấp dt hợp đồng …. Nếu không gii
quyết được trong vòng 30 ngày, bt k bên nào cũng thể đưa v tranh
chp hợp đồng ra Tòa án nhân dân Qun 9, thành ph H Chí Minh đ gii
quyết theo quy định pháp lut”. Do đó căn cứ đim b khoản 1 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn c công văn số 1941/ĐKKD-THKT ngày 08/4/2019 số
4964/ĐKKD-THKT ngày 11/7/2020 của Sở kế hoạch đầu Tp. Hồ Chí
Minh thì bị đơn địa chỉ trụ stại đường Y, khu C, Tân An Hội, huyện
Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh, hiện chưa đăng ký giải thể.
4
[2] Vthủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty J đã được triệu tập hợp lệ đến
dự phiên Tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không do. Căn cứ
vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ trong
hồ sở xác định ngày 06 tháng 11 năm 2017 Công ty Q Công ty J
kết hợp đồng kinh tế số: 06/11/2017/HSV-JK, nội dung hợp đồng Công ty
Q cung cấp lắp đặt máy nén khí trục vít GRH3GS-100A cho Công ty J.
Giá trị hợp đồng 370.200.000 đồng (ba trăm bảy mươi triệu hai trăm ngàn
đồng). Về thời hạn thanh toán đôi bên thỏa thuận sau khi Công ty Q giao
hàng và lắp đặt, chạy thử máy hoàn thiện cho Công ty J thì Công ty J s
thanh toán 06 đợt bằng tiền Việt Nam cho Công ty Q, đợt 1: ngày 29/12/2017
thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 2 ngày 31/01/2018 thanh toán 61.700.000
đồng, đợt 3 ngày 28/02/2018 thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 4 ngày
30/3/2018 thanh toán 61.700.000 đồng, đợt 5 ngày 28/4/2018 thanh toán
61.700.000 đồng, đợt 6 ngày 31/5/2018 thanh toán 61.700.000 đồng. Ngày
13/11/2017 Công ty Q đã giao hàng lắp đặt hoàn thành máy nén khí trục
vít GRH3GS-100A tại Công ty J và đôi bên ký biên bản bàn giao nghiệm thu,
tại biên bản nghiệm thu ghi nội dung: tại thời điểm kiểm tra nghiệm thu
máy hoạt động tốt tại công trình.
[3.2] Căn cứ phiếu hạch toán ngày 25/01/2018 thể hiện Công ty Jtrả
cho Công ty Q 100.000.000 đồng, nội dung chuyển tiền máy nén khí, số tiền
còn lại 270.200.000 đồng Công ty J không thanh toán tiếp, như vậy Công ty J
đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của các bên tại hợp đồng.
Quá trình giải quyết vụ án Công ty J vắng mặt và không ý kiến, tài liệu
chứng cứ gửi cho Tòa án thể hiện đã thanh toán số tiền còn lại cho nguyên
đơn Công ty Q. Do đó, căn cứ Điều 50 Luật Thương mại, nguyên đơn Công
ty Q yêu cầu bị đơn Công ty J phải trả tiền mua hàng còn thiếu 270.200.000
đồng, trả làm một lần khi bản án hiệu lực pháp luật căn cứ chấp
nhận.
Đại diện nguyên đơn trình bày Công ty Q không xuất hóa đơn giá trị
gia tăng cho Công ty J vì tại hợp đồng kinh tế số 06/11/2017/HSV-JK ngày
06/11/2017 Công ty Q Công ty J thỏa thuận giá trị hợp đồng
370.200.000 đồng, số tiền trên không bao gồm thuế GTGT 10%. Hội đồng
xét xxét thấy lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận của các
bên tại Điều II của hợp đồng kinh tế số: 06/11/2017/HSV-JK nên chấp nhận.
Nguyên đơn không yêu cầu trả tiền lãi quá hạn nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
5
Như vậy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 là phù
hợp.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
Công ty J phải chịu án phí thẩm với số tiền là: 270.200.000 đồng x 5% =
13.510.000 đồng.
Nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm b khoản
1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 24, Điều 50, Điều 306 của Luật Thương mại;
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc Công ty J trách nhiệm thanh toán cho Công ty Q số tiền
270.200.000 đồng (hai trăm bảy ơi triệu hai trăm ngàn đồng) theo hợp
đồng kinh tế số 06/11/2017/HSV-JK ngày 06/11/2017, trả làm một lần khi
bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian
chậm trả.
2. Về án phí: Công ty J phải chịu án phí thẩm số tiền 13.510.000
đồng (mười ba triệu năm trăm mười ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 9 khi án có hiệu lực pháp luật.
Trả lại cho Công ty Q số tiền 6.750.000 đồng (sáu triệu bảy trăm m
mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2018/0009292
ngày 12/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 khi án hiệu lực
pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
6
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Đương sự mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận: T.M HI ĐNG XÉT X SƠ THM
- TAND Tp. HCM; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.9;
- Chi cục THADS Q9;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Võ Thị Mai Trâm
Tải về
Bản án số 33/2020/KDTM-ST Bản án số 33/2020/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất