Bản án số 33/2017/HS-ST ngày 29/12/2017 của TAND huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2017/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 33/2017/HS-ST ngày 29/12/2017 của TAND huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định về tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỹ Lộc (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 33/2017/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/12/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 33/2017/HS-ST
Ngày 29-12- 2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang;
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Công;
Bà Trần Thị Tuyết;
- Thư phiên toà: Trần Thị - Thư ký Toà án nhân dân huyện MLộc,
tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia
phiên toà:Trần Thị Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện MLộc, tỉnh
Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2017/TLST-
HS ngày 29 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
33/2017/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Dương Văn K, sinh năm 1961 tại thành phố Đ, tỉnh Nam Định.
Nơi trú: Số 691 đường T, phường V, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nghề
nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Đình M (đã chết) bà Trần Thị T;
vợ Trần Thị N hai con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số
41 ngày 10/4/1985 Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng
tội “Trộm cắp tài sản công dân. Bản án số 306/2008/HSST ngày 19/8/2008 Toà
án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù tội “Tàng trữ trái phép
chất ma tuý”. Bản án số 92/2012/HSPT ngày 27/9/2012 Toà án nhân tỉnh Nam Định
xử phạt 39 tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 07 tháng 6 năm 2014
Công an phường Q, thành phố Đ xử hành chính về hành vi “Gây mất trật tự công
cộng”; bị bắt, tạm giam ngày 14 tháng 11 năm 2017; có mặt.
- Người làm chứng:
2
1. Ông Trần Quý T; vắng mặt.
2. Ông Đặng Văn D; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau.
Khoảng 9 giờ ngày 14 tháng 11 năm 2017, tại Cầu Đá thuộc phường V, thành
phố Đ, tỉnh Nam Định, Dương Văn K gặp bạn nghiện là Trần Quý T, sinh năm 1972
trú tại Xóm 18, H, huyện N, tỉnh Nam. T đưa cho K 150.000đ nhờ mua hộ
100.000đ Heroin đsử dụng trả công cho K 50.000đ. K cầm tiền bảo T đứng
đợi, sau đó điều khiển xe máy ViVa BKS 18S1-2673 đi mua của người không quen
biết 100.000đ được 01 gói Heroin vđưa cho T. T cầm gói Heroin bỏ túi rồi bảo K
chở về H, huyện N, tỉnh Nam sẽ lại trả công cho K 40.000đ tiền xe ôm.
Khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, K chở T về đến khu vực cầu phao thuộc thôn L,
xã P, huyện M, tỉnh Nam Định thì bị Công an huyện Mỹ Lộc phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ và niêm phong 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng
trong người T (theo T khai Heroin K vừa mua hộ để sử dụng). Thu giữ của K
50.000đ (theo K khai tiền của T trả công mua Heroin).
Khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Dương Văn K không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 878/GĐKTHS ngày 15/11/2017 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm
phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin. Trọng lượng (khối lượng) mẫu:
0,020 gam (không phẩy không trăm hai mươi gam).
Tại quan điều tra, Dương Văn K Trần Quý T khai nhận toàn bộ hành vi
của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma tuý, K khai mua của một người
không quen biết khu vực thuộc địa bàn thành phố Đ nên quan điều tra không
có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng bán ma tuý cho K.
Hành vi cất giữ ma ttrong người của Trần Quý T, do lượng Heroin dưới
0,1 gam, bản thân T không có tiền án liên quan đến ma tuý nên Cơ quan điều tra xác
định chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đã xử lý hành chính đối với T về
hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Chiếc xe máy K sử dụng để đi mua Heroin, theo K khai xe của con trai
Dương Đức A. Qua điều tra xác minh, hiện tại Dương Đức A không mặt tại địa
phương, mặt khác xe lại chưa đầy đủ giấy tờ hợp lệ nên quan điều tra đã tách
ra để xác minh xử lý sau.
Bản cáo trạng số 34/CTr - KSĐT ngày 27/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định truy t bị cáo Dương Văn K về tội “Mua bán trái
3
phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Dương Văn K khai nhận do không làm chủ được bản thân
nên nghiện ma tuý, việc đi mua ma tuý cho người khác nhằm mục đích kiếm lời
vi phạm pháp luật; bản kết luận giám định chất ma tuý bị thu giữ đúng; Viện
kiểm sát truy tố không oan nên không thắc mắc . Đại diện Viện kiểm sát phát
biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo
trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Mua bán
trái phép chất ma tuý”; căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46
Bộ luật hình sự đnghị xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng ; căn cứ áp dụng Điều
41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ. Bị
cáo không bào chữa, tranh luận lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem
xét chiếu cố cho một hội cuối cùng để sớm được trở về làm người ích cho gia
đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện M
Lộc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện MLộc, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố tại phiên toà bcáo không có ý
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai bị cáo tại phiên tp
hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ vụ án như: Biên bản bắt người phạm
tội quả tang (bút lục 7-8); bản kết luận giám định chất ma tuý (bút lục 16); lời khai
người làm chứng (bút lục 67- 71 và 74-77) cũng như toàn bộ lời khai bị cáo tại
quan điều tra. Từ các tình tiết chứng cứ này đã đủ sở kết luận: Khoảng 09 giờ
20 phút, ngày 14/11/2017, tại khu vực cầu phao thuộc địa bàn P, huyện M, tỉnh
Nam Định. Dương Văn K sau khi thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,020 gam
Heroin cho Trần Quý T với mục đích để kiếm lời thì bị Công an huyện Mỹ Lộc, tỉnh
Nam Định phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát nhân dân huyện MLộc, tỉnh Nam
Định truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1
Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về dấu hiệu của tội phạm khác: Trong vụ án này có nổi lên hành vi tàng trữ
trái phép chất ma tuý của Trần Quý T. Khi bị bắt quả tang T cùng Dương Văn K, Cơ
4
quan điều tra Công an huyện MLộc đã không thực hiện việc điều tra, khám xét
khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Trần Quý T chưa khách quan dấu hiệu của việc
bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, do tính chất khẩn cấp không còn nên việc điều tra bổ
sung skhông đạt kết quả, vậy Toà án không trả hồ yêu cầu điều tra bổ sung
cần rút kinh nghiệm với quan điều tra trong việc điều tra mở rộng vụ án,
tránh tình trạng dẫn đến bỏ lọt tội phạm, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu công
tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
[4] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bcáo
Dương Văn K nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý các
chất ma tuý của Nhà nước,khách thể được pháp luật nghiêm cấm các hành vi tàng
trữ, vận chuyển và mua bán trái phép. Ma tuý hiện đang là hiểm hoạ của nhân loại bị
xã hội lên án và loại trừ, bởi ma tuý không những là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá
về đạo đức, suy thoái về giống nòi mà còn nguy cơ tiềm ẩn làm phát sinh ra nhiều
các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo người có đầy đủ năng lực hành vi, lịch sử
nhân thân đã nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử do hành vi phạm tội, trong đó đã từng
phải đi chấp hành hình phạt về hành vi phạm tội liên quan đến ma tuý. Sau khi
mãn hạn tù được trở về với cộng đồng, bị cáo đã không lấy đó làm bài học thức tỉnh
để hoàn lương trái lại vẫn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Điều đó
chứng tỏ bị cáo thực sự là con người khó cải tạo, luôn có tâm lý coi thường và thách
thức pháp luật. Năm 2012 bị cáo đã tái phạm chưa được xoá án tích, lần phạm tội
này của bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự hiện hành
là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, do chính sách pháp luật hình sự
của Nhà nước thay đổi, cụ thể: Tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017
của Quốc hội quy định về việc thực hiện các quy định lợi cho người phạm tội
theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung theo Luật s
12/2017/QH14. Đối chiếu với các quy định này thì bị cáo thuộc trường hợp đương
nhiên được xán tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015. vậy
lần phạm tội này của bcáo không bị coi tái phạm, do đó bcáo sẽ chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[5] Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, khách
thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ bị xâm phạm, động mục đích phạm tội, hậu
quả nguy hại cho hội lịch snhân thân của bị cáo thì việc cần thiết phải áp
dụng biện pháp cách ly hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục thoả
đáng; đồng thời cũng mới đáp ứng được yêu cầu răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trong khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị
o ngoài tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 194 thì không tình tiết
nào bị coi tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự; quá trình
5
khai báo bị cáo đã thành khẩn, nhận thức lỗi lầm, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được
hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xét
mức án Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là căn cứ nhưng cũng là
nghiêm khắc. Hội đồng xét xử cân nhắc thấy việc xử phạt bị cáo mức dưới mức đề
nghị thấp nhất của Viện kiểm sát cũng tương xứng cũng đủ để cải tạo, giáo
dục bị cáo thành công dân ích, vậy nên tạo điều kiện cho bị cáo sớm hoàn
lương trở về với cuộc sống cộng đồng.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo người mắc tệ nạn nghiện ma
tuý, không nghề nghiệp thu nhập ổn định; mục đích mua bán Heroin chỉ để kiếm
lời sử dụng ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu bản thân nên Hội đồng xét xử miễn hình
phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 50.000đ thu giữ của bị cáo đó
tiền lợi nhuận từ việc bị cáo đi mua ma tuý cho người khác, đây thu nhập bất hợp
pháp do hành vi phạm tội mà có nên cần phải tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Số Heroin sau khi được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết
luận giám định hoàn trả chất ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm nên cần phải tịch
thu để tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Điều 99 Bộ luật tố
tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 41 Bộ luật hình
sự; các Điều 76, 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo K 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm
giữ 14 tháng 11 năm 2017.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo theo giấy
nộp tiền vào tài khoản lập ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại Kho bạc nhà nước huyện
M, tỉnh Nam Định để sung quỹ Nhà nước.
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin vật chứng của vụ án đã được Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn lại sau khi kết luận giám định niêm
phong s878/GĐKTHS theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày
28 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
6
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì bị cáo quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND huyện Mỹ Lộc;
- VKSND tỉnh Nam Định;
- Công an huyện Mỹ Lộc;
- Trại giam CA tỉnh Nam Định;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Lộc;
- Hồ sơ vụ án;
- Lưu: VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Văn Quang
7
8
9
10
11
Tải về
Bản án số 33/2017/HS-ST Bản án số 33/2017/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất