Bản án số 31/2023/DS-ST ngày 09/03/2023 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 31/2023/DS-ST ngày 09/03/2023 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Chợ Mới (TAND tỉnh An Giang) |
| Số hiệu: | 31/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | bà M yêu cầu ông H, bà H1 thanh toán toàn bộ số tiền đã đặt cọc để lập hợp đồng chuyển nhượng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 31/2023/DS-ST
Ngày: 09/3/2023
“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- : Ông Nguyễn Trung Kiên.
:
1. Bà Nguyễn Thị Ly;
2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét
xử sơ thẩm công khai
vụ án dân sự thụ lý số: 487/2022/TLST-DS ngày 29 tháng
12 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các
đương sự:
: Bà Trương Thị Trúc Mai, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp Long
Thành, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; có mặt.
- Ông Lê Văn Hòa, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp Long Quới 2, xã Long
Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bà Lê Thị Lệ Hằng, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp Long Quới 2, xã Long
Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- n
, trình bày: ngày 04/6/2021 vợ chồng
ông Hòa thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 488m
2
, thuộc
2
thửa dất số 29, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp Long Qưới 2, xã Long Điền B,
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CH01278 ngày 13/9/2010, do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
cấp cho ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng với số tiền chuyển nhượng
710.000.000đồng, việc hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã
làm hợp đồng đặt cọc 50.000.000 đồng theo biên nhận ngày 04/6/2021.
Sau khi nhận tiền đặt cọc, thì vợ chồng ông Hòa hứa trong thời hạn 45
ngày sẽ cùng bà Mai đến văn phòng công chứng để thực hiện thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, nhưng hết thời hạn 45 ngày
vợ chồng ông Hòa, bà Hằng không thực hiện, kéo dài thời gian, hiện nay phần
đất này đang do vợ chồng ông Hòa, bà Hằng sử dụng, đất trống không có tài sản.
Vì vậy, bà Trương Thị Trúc Mai yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà
Lê Thị Lệ Hằng liên đới trả lại cho bà Mai số tiền đặt cọc là 50.000.000đồng
theo thỏa thuận đặt cọc tại tờ biên nhận ngày 04/6/2021 và bồi thường tiền phạt
cọc 50.000.000đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Mai khẳng định: đúng là khi thỏa
thuận đặt cọc, ông Hòa, bà Hằng có thông báo đất đang tranh chấp tại Tòa án,
nhưng hẹn bà với thời gian 45 ngày sẽ thực hiện, bà tin tưởng là trong thời gian
này ông Hòa, bà Hằng sẽ giải quyết xong vụ án, nên đã đặt cọc để mua. Nay do
không thực hiện được, bà đề nghị yêu cầu khởi kiện như tại đơn khởi kiện,
không đồng ý với việc thanh toán như ông Hòa, bà Hằng đã trình bày tại phiên
hòa giải ngày 21/02/2023.
-
Ông và bà Lệ Hằng là vợ chồng, đúng vào
năm 2021 ông cùng vợ có thỏa thuận để chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện
tích 488m
2
, thuộc thửa dất số 29, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp Long Qưới 2, xã
Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH01278 ngày 13/9/2010, do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang cấp cho ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng với số tiền chuyển
nhượng 710.000.000đồng, việc hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đã làm hợp đồng đặt cọc 50.000.000 đồng theo biên nhận ngày
04/6/2021, nhưng do phần đất này giữa vợ chồng ông đang tranh chấp với
đương sự khác tại Tòa án, nên không thể thực hiện theo thỏa thỏa thuận sau khi
ký giấy biên nhận 45 ngày sẽ thực hiện chuyển nhượng đất cho bà Mai được.
Phần tiền đặt cọc theo thỏa thuận là 50.000.000 đồng
theo biên nhận ngày 04/6/2021, vợ chồng ông đồng ý thanh toán phần tiền
này; đối với yêu cầu của bà Mai buộc vợ chồng ông liên đới thanh toán số tiền
50.000.000 đồng tiền phạt cọc, vợ chồng ông không
đồng ý, do tại biên nhận ngày 04/6/2021 nếu việc mua bán không thành thì vợ
chồng ông sẽ hoàn trả số tiền cọc.
3
Số tiền 50.000.000 đồng theo biên nhận ngày
04/6/2021, vợ chồng ông đã dùng vào việc gia đình hết, nên đến hạn 45 ngày vợ
chồng ông không thể thanh toán ngay cho bà Mai được. Trong thời gian này thì
giữa ông với bà Mai có gặp nhau 02 lần, thỏa thuận với bà Mai sẽ hoàn trả số
tiền là 50.000.000 đồng theo biên nhận ngày 04/6/2021,
nhưng bà Mai đòi tiền lãi là 30.000.000đồng , nhưng vợ
chồng ông không đồng ý số tiền lãi này, mà trả lãi với số tiền 10.000.000đồng
vào ngày 20/8/2022 bà Mai không chịu nên từ đó đến nay không trả cho bà Mai
được.
Đúng là việc không thực hiện việc chuyển nhượng đất có phần lỗi của vơ
chồng ông do yếu tố ông khởi kiện tranh chấp phần đất đang có ý định chuyển
nhượng cho bà Mai, nhưng thời gian tranh chấp kéo dài hơn dự kiến của vợ
chồng ông, nên không thể chuyển nhượng được, có lỗi cả hai bên mua và bán.
Nay chúng vợ chồng ông chỉ thống nhất trả cho bà Mai số tiền là
50.000.000 đồng theo biên nhận ngày 04/6/2021 và thêm
10.000.000đồng
bà và ông Hòa là vợ chồng, đúng là vợ
chồng bà có thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Mai diện tích đất như bà Mai đã
trình bà, cũng như ông Hòa đã trình bày; việc không thực hiện việc chuyển
nhượng được là do một phần lỗi của vợ chồng bà do không ước lượng được thời
gian tranh chấp vụ án cụ thể, nên đã để việc chuyển nhượng kéo dài. Đồng ý
thanh toán số tiền là 50.000.000 đồng theo biên nhận
ngày 04/6/2021 và thêm 10.000.000đồng.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Trương Thị Trúc Mai đề nghị rút một phần yêu cầu khởi
kiện, đối với yêu cầu phạt cọc với số tiền là 30.000.000đồng; yêu cầu ông Hòa,
bà Hằng trả tiền cọc số tiền 50.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 10.000.000
đồng, tổng số tiền là 60.000.000 đồng; bà Mai không cung cấp tài liệu, chứng cứ
nào khác tại phiên tòa.
Bà Mai trình bày, đúng là thời điểm ký hợp đồng đặt cọc ông Hòa, bà
Hằng có thông báo đất bà có ý định mua là đang tranh chấp, đã được Tòa án thụ
lý giải quyết, đến thời điểm xét xử vụ án này thì vụ án tranh chấp đất của ông
Hòa, bà Hằng vẫn chưa giải quyết xong.
- Ông Hòa, bà Hằng khẳng định giấy biên nhận là do ông Hòa viết, ông,
bà đã ký giấy biên nhận và nhận tiền cọc, không thỏa thuận việc phạt cọc; ông,
bà đồng ý trả 50.000.000 đồng, đồng ý trả tiền thêm 10.000.000 đồng (là phần tự
nguyện của hai vợ chồng tôi). Thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn tại phiên
tòa, đồng ý trả cho bà Mai số tiền là 60.000.000 đồng.
Về án phí dân sự: Bà Mai, ông Hòa và bà Hằng đều thống nhất, mỗi bên
chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm.
4
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã
chấp hành theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận và thống nhất
với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự là phù hợp
với các quy định của pháp luật nên đề nghị công nhận. Đối với số tiền phạt cọc
40.000.000 đồng do bà Mai đã rút lại yêu cầu nên cần đình chỉ. Vì vậy, đề nghị:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc Mai.
- Buộc ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng có nghĩa vụ liên đới trả bà
Trương Thị Trúc Mai số tiền 60.000.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc Mai đối
với yêu cầu ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng trả số tiền phạt cọc 40.000.000
đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự, Điều 217, 244
Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] :
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đặt cọc và phạt cọc, theo đó
nguyên đơn bảo đặt cọc để bảo đảm chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích
488m
2
, thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp Long Qưới 2, xã
Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH01278 ngày 13/9/2010, do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang cấp cho ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng, hiện bị đơn đang
cư trú tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, và xác định quan hệ tranh chấp là
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản
1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố
tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 04/6/2021, bà Trương Thị Trúc Mai đặt cọc 50.000.000 đồng
cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng để mua 488m
2
, thuộc thửa
đất số 29, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp Long Qưới 2, xã Long Điền B, huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01278
5
ngày 13/9/2010, do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho
ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng. Tại giấy biên nhận đề ngày 04/6/2021 có
nêu, đồng thuận sang nhượng thửa đất thổ cư – nhà ở cho cô: Trương Thị Trúc
Mai ngụ ấp Long Thành, Long Điền B với số tiền 710.000.000đồng, cô Mai
giao cọc trước 50.000.000 đồng… nếu sau việc mua bán không thành thì vợ
chồng ông Hòa, bà Mai sẽ hoàn trả lại số tiền cọc, mà không có thỏa thuận phạt
cọc theo đơn khởi kiện của bà Mai, cũng như không thỏa thuận về việc tĩnh lãi
đối với khoản tiền cọc.
[2.2] Tại phiên tòa, bà Mai, ông Hòa và bà Hằng đều thống nhất giấy biên
nhận ngày 04/6/2021 là tài liệu, chứng cứ duy nhất chứng minh việc các bên có
thỏa thuận đặt cọc; ông Hòa, bà Hằng cũng thống nhất việc có nhận cọc số tiền
50.000.000 đồng của bà Mai, nên đây là tài liệu chứng cứ không phải chứng
minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Mai đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu đặt cọc,
theo đó bà Mai rút một phần yêu cầu với số tiền là 40.000.000 đồng, chỉ còn yêu
cầu tiền phạt cọc với số tiền là 10.000.000 đồng, nên tổng số tiền bà Mai yêu
cầu ông Hòa, bà Hằng phải trả là 60.000.000 đồng; ông Hòa, bà Hằng thống
nhất hoàn trả cho bà Mai tiền cọc đã nhận là 50.000.000 đồng và tiền phạt cọc
với số tiền là 10.000.000 đồng, tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng.
Xét thấy, tại phần tranh luận các đương sự đã thống nhất về việc giải
quyết toàn bộ vụ án, theo đó bà Mai với ông Hòa, bà Hằng cùng thống nhất, ông
Hòa, bà Hằng phải có nghĩa vụ trả cho bà Mai số tiền là 60.000.000 đồng (trong
đó 50.000.000 đồng tiền cọc, 10.000.000 đồng tiền phạt cọc); việc thỏa thuận
của các đương sự tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không
trái đạo đức xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất, chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của bà Mai; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại
phiên tòa, buộc ông Hòa, bà Hằng phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Mai tổng
số tiền là 60.000.000 đồng.
Bà Mai tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền là
40.000.000 đồng tiền phạt cọc phù hợp quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng
dân sự, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ xét xử đối với số tiền
40.000.000 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do tại phiên tòa bà Mai, ông Hòa, bà Hằng thống nhất về án phí dân sự,
mỗi bên phải chịu ½ án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự, bà Mai, ông Hòa, bà Hằng mỗi bên phải chịu ½ án
phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 60.000.000 đồng mà
ông Hòa, bà Hằng phải trả cho bà Mai theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Bà Mai được hoàn lại một phần án phí dân sự sơ thẩm.
6
QUYẾT ĐỊNH:
- 116, 117, 118, 119, 213, 289, 292, 293,
D2015;
-
các 157, 217, 227, 244, 273, 278,
280 ;
- 8
Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc Mai
đối với ông Lê Văn Hòa và bà Lê Thị Lệ Hằng.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, ông Lê Văn Hòa
và bà Lê Thị Lệ Hằng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trương Thị Trúc Mai số
tiền 60.000.000 đồng (sáu
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc
Mai, với số tiền 40.000.000 đồng
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về án phí dân sự sơ thẩm, mỗi
bên chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm.
3.1. Bà Trương Thị Trúc Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền
1.500.000 đồng ( nghìn , nhưng được khấu trừ vào số
tiền 2.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0012134 ngày 29 tháng 12 năm 2022
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Hoàn trả cho bà Trương Thị Trúc Mai số tiền 1.000.000 đồng
3.2. Ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng phải liên đới chịu 1.500.000
đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Hòa, bà
Hằng có nghĩa vụ nộp tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
7
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trương Thị
Trúc Mai, ông Lê Văn Hòa, bà Lê Thị Lệ Hằng có mặt, có quyền kháng cáo để
yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
a,
7b
Nơi nhận:
- VKSND H. Chợ Mới (2);
- TAND tỉnh An Giang (1);
- Chi cục THADS H. Chợ Mới (1);
- Các đương sự (để thi hành) (4);
- Người đại diện hợp pháp
của đương sự (1);
- Lưu hồ sơ (1);
- Lưu văn phòng (1).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Kiên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm