Bản án số 307/2025/HC-PT ngày 17/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 307/2025/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 307/2025/HC-PT ngày 17/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 307/2025/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2025
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Võ Ngọc Thông
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Cường
ông Phạm Ngọc Thái
- Thư phiên tòa: ông Đinh Tiến Hoàng, Thư Tòa án cấp cao tại Đà
Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
toà: bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ 33/2025/TLPT-HC
ngày 13 tháng 01 năm 2025 về “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành
chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
Do Bản án hành chính thẩm số 42/2024/HC-ST ngày 26/7/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1580/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng
6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Ngô Q, sinh năm 1945; địa chỉ: 0 D, phường D,
thành phố T, tỉnh Phú Yên. (Đã chết)
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
- Bà Ngô Thị Hồng T; sinh năm 1971.
- Ông Ngô Anh T1; sinh năm 1975.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 307/2025/HC-PT
Ngày: 17-6-2025
V/v: Khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính không cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Bà Ngô Thị Hồng T2; sinh năm 1977.
- Bà Ngô Thị Đăng T3; sinh năm 1982.
- Bà Ngô Thị Kim T4; sinh năm 1984.
Tất cả cùng địa chỉ: 0 D, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Ngô Thị Hồng T5; sinh năm 1973.
Địa chỉ: 3 L, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, những người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Q: Phạm Bảo T6, sinh năm 1986;
nơi cư trú: 12/15 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Người bị kiện:
1. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P. Vắng mặt.
2. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên. đơn xin xét xử vắng
mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T:
Nguyễn Thị Xuân Đ Phó trưởng phòng Tài nguyên Môi trường
Nguyễn Thị Huỳnh N Chuyên viên phòng Tài nguyên Môi trường thành
phố T. Vắng mặt.
3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T. Vắng mặt.
4. Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn P Phó chủ tịch UBND xã.
Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn P Phó chủ tịch UBND xã B.
Vắng mặt.
- Đặng Thị C sinh năm 1950; địa chỉ: Thôn C, H, huyện P, tỉnh
Phú Yên. Vắng mặt.
- Bùi Thị H - sinh năm 1951; địa chỉ: 0 D, phường D, thành phố T,
tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo, kháng nghị: Ủy ban nhân dân thành phố T Ủy
ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện
trình bày thống nhất trình bày:
Tôi Ngô Q là con đẻ của ông Ngô D và bà Trần Thị M. Ông Ngô Diệp C1
vào tháng 10/1945, lúc đó tôi chỉ được vài tháng tuổi. Do hoàn cảnh gia đình
thời điểm đó rất khó khăn nên Trần Thị M giao tôi lại cho ông Ngô N1 (bác
ruột của tôi) nuôi. Vợ chồng ông Ngô N1 và bà Nguyễn Thị L không có con nên
đã nhận nuôi tôi từ khi chưa được 01 tuổi cho đến khi sau này lớn lên cưới vợ,
sinh con đều tại nhà ông Ngô N1, do vợ chồng ông Ngô N1 chăm sóc, lo việc
cưới hỏi vợ như như con ruột. Đến sau này khi vợ chồng ông Ngô N1 già yếu
qua đời thì cũng do vchồng tôi chăm sóc, lo ma chay cúng giỗ như cha mẹ
ruột.
Ông Ngô Nghiệp L1 còn sống được thừa kế thửa đất số 40 tờ bản đồ số 1
tại Thôn N, H, quận T (cũ) theo Chứng thư kiến điền do T7 ty điền địa cấp
ngày 26/12/1963. Nay thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ 303B tại Thôn N, B,
Tp ., Phú Yên, diện tích còn lại là: 878,5m
2
, lúc đó trên thửa đất có một ngôi nhà
tranh, 2 giếng nước và 01 hàng tre. Ông Ngô N1 chết năm 1986, bà Nguyễn Thị
L (vợ ông Ngô N1 chết năm 1997), chỉ còn lại tôi là người thừa kế duy nhất theo
pháp luật.
Ngày 23/09/2022 tôi làm thủ tục nộp hồ Đăng cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đt
(viết tắc GCNQSDĐ) tại Bộ phận tiếp nhận trả kết quả Ủy ban nhân dân
(UBND) thành phố T. Theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả thì thời gian
trả kết quả giải quyết hồ 10 giờ 30 phút ngày 14/11/2022. Tuy nhiên, ngày
8/12/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T (viết tắc
VPĐKDĐ T) ra công văn số 2518/CNVPĐKĐĐ trả hồ sơ của tôi với lý do:
Phần diện tích này thuộc thửa số 322, tờ bản đồ 303B diện tích 640m
2
loại
đất ĐM thửa số 752, tờ bản đồ 303B diện tích 300m
2
loại đất QHT (quy
hoạch thổ) do UBND xã quản lý.
Ngày 25/11/2022 qua phối hợp kiểm tra hiện trạng sử dụng đất thì hiện
trạng sử dụng loại đất BHK nhưng theo mảnh trích đo số 1630-2019 được
VPĐKĐĐ tỉnh Phú Yên ký ngày 08/04/2019 thể hiện đất ONT là không khớp v
loại đất.
Đính kèm trong hồ trả lại công văn số 120 của Ủy ban nhân dân
B ngày 31/10/2022.
Chúng tôi không đồng ý lý do trả hồ sơ của Chi nhánh VPĐKDĐ Tp. Tuy
Hòa và UBND xã B, vì:
4
Trong hồ tôi nộp đăng cấp GCNQSDĐ tại Bộ phận tiếp nhận trả
kết quả U ngày 23/09/2022 kèm theo Chứng thư kiến điền do T7 ty điền địa
Phú Yên cấp ngày 26/12/1963, thửa đất số 40, tờ bản đồ số 1, loại đất Thổ cư.
Ngoài ra, sau khi giải phóng năm 1975 thì gia đình tôi vẫn quản sử dụng,
canh tác trồng hoa màu cây ăn trái trên đất. Nên đây một trong các loại
giấy tờ chứng minh tôi đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo khoản 1 điều
100 Luật đất đai 2013 điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, cũng như được
quy định tại khoản 3 điều 1 Quyết định số 25/2021/QĐ-UBND ban hành ngày
10/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh P. Do đó, tôi hoàn toàn đủ điều kiện
được cấp GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 1 điều 100 Luật đất đai 2013. Đây
đất thổ do ông để lại, nguồn gốc, giấy tràng, không phải đất do
UBND xã quản lý.
Theo công văn số 2518/CNVPĐKDĐ của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày
8/12/2022 thì ngày 25/11/2022 Chi nhánh Văn phòng Đ phối hợp với UBND xã
B tới kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của tôi. Tuy nhiên, tôi không hề hay biết
cũng như không được thông báo để có mặt tại thửa đất của mình vào lúc hai đơn
vị này đi kiểm tra hiện trạng. Như vậy, việc kiểm tra hiện trạng sử dụng đất này
là không công khai, khách quan, không đúng quy định. Hơn nữa, khi tôi đăng ký
đo vẽ tại Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Phú Yên, tôi nộp kèm chứng thư kiến điền
nêu trên nên đơn vị đo vẽ đã xuất bản vẽ hiệu đất ONT đúng theo quy
định pháp luật. Bản vcác thông tin trên bản vẽ đã được kiểm tra, ký, đóng
dấu bởi lãnh đạo Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh P. Như vậy, nếu nói hiện trạng sử dụng
đất không khớp bản vẽ thì Chi nhánh Văn phòng ĐKDĐ thành phố T cho rằng
Văn phòng ĐKDĐ tỉnh P xác định loại đất không đúng.
Từ những do căn cứ nêu trên, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết: Hủy Công văn số 2518/CNVPĐKĐĐ của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày
8/12/2022 Công văn số 120/UBND của UBND B ngày 31/10/2022.Công
nhận Quyền sử dụng đất thửa đất số 322, tờ bản đồ 303B tọa lạc tại Thôn N,
B, Tp ., Phú Yên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Ngô Q bằng hình thức
Buộc U, UBND B, Chi nhánh văn phòng Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất số 322 tờ bản đồ 303B tọa lạc tại Thôn N, xã B, Tp ., Phú n
cho ông Ngô Quých .
Người bị kiện UBND thành phố T trình bày: Ngày 23/9/2022, Bộ phận
tiếp nhận trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND UBND thành phố T tiếp
nhận hồ đăng ký, cấp GCNQSDĐ của ông Ngô Q tại thửa đất s322, tờ bản
đồ số 303-B, diện tích 878,5m
2
, mục đích sử dụng: Đất ONT, địa chỉ thửa đất tại
thôn N, B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Cùng ngày, Bộ phận tiếp nhận trả
kết quả thuộc Văn phòng HĐND UBND thành phố T chuyển hồ đến Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T để giải quyết theo quy định.
5
Ngày 06/10/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T
chuyển hồ đăng ký cấp GCNQSDĐ của ông Ngô Q cho UBND xã B để thực
hiện các trình tự thủ tục theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 70 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một s
điều của Luật Đất đai.
Ngày 31/10/2022, UBND B Công văn số 120/UBND phúc đáp
kèm theo hồ đăng ký, cấp GCNQSDĐ của ông Ngô Q cho Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố T.
Ngày 25/11/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T phối
hợp UBND B kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của ông Ngô Q nội dung:
Qua kiểm tra hiện trạng sử dụng đất loại đất BHK, nhưng theo mảnh trích đo địa
chính số 1630-2019 được Văn phòng đăng đất đai tỉnh P ngày 08/4/2019
thể hiện loại đất ONT là không đúng theo hiện trạng.
Trên sở đó, ngày 08/12/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố T Công văn số 2518/CNVPĐKĐĐ về việc chuyển trả hồ đăng
ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác
gắn liền với đất của ông Ngô Q cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn
phòng HĐND UBND thành phố T đchuyển trả hồ cho ông Ngô Quých .
Tuy nhiên, từ đó cho đến nay ông Ngô Q chưa nộp lại hồ sơ đề nghị cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc UBND
B hay tại Bộ phận tiếp nhận trả kết quả thuộc UBND thành phố T đcác
quan chuyên môn sở kiểm tra, tham mưu UBND thành phố T giải
quyết theo quy định. Do đó, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất buộc
UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 322, tờ bản
đồ 303B toạ lạc tại thôn N, xã B, thành phố T cho ông Ngô Q là không có cơ sở.
Người bị kiện UBND xã B, thành phố T trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất ông Ngô Q đang khởi kiện thì khu đất này do ông
Đặng Văn T8 (tự Rubi) quản lý sử dụng ttrước năm 1975 đến năm 1979 s
dụng vào mục đích trồng hoa màu, trên đất có xây dựng một lán trại tạm làm nơi
trông coi hoa màu, đồng thời có đào một giếng nước bọng đất sử dụng tưới cây.
Về quá trình quản lý, sử dụng, khai, đăng ký: Năm 1979 theo chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, toàn dân đưa đất vào Hợp tác xã nông
nghiệp làm ăn tập thể, ông T8 đưa toàn bộ khu đất vào HTX S1 để làm ăn tập
thể. Theo quyển bộ kinh tế phụ 8 đội sản xuất bản hiện do UBND B quản
thì hộ ông Đặng Văn T8 một khẩu diện tích đất vườn 500m
2
, diện tích
đất kinh tế phụ 50m
2
, diện tích đất được cấp 50m
2
, diện tích HTX khoán
1.500m
2
(Khi ông T8 đưa đất vào hợp tác xã ông T8 cũng như bao hộ khác đều
đơn xin đưa đất vào hợp tác xã; tuy nhiên do quá nhiều năm công tác quản lý
6
sổ sách UBND B vùng trũng nên bị hỏng thất lạc nên không cung
cấp được các loại giấy tờ nêu trên).
Thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban thư về “Cải
cách công tác khoán mở rộng, khoán sản phẩm đến nhóm người lao động
người lao động” trong HTX nông nghiệp thì ông Đặng Văn T8 để ông Huỳnh
Văn H1 sản xuất và nộp sản phẩm cho HTX.
Năm 1987, ông Đặng Văn T8 về sinh sống tại H, khu đất trên do HTX
tiếp tục quản lý. Năm 1988, HTX khoán cho ông Nguyễn K một phần, phần còn
lại khoán cho ông Huỳnh Văn H1 sản xuất theo Nghị quyết 10-NQ/TW ngày
05/4/1988 về đổi mới kinh tế nông nghiệp. Ông K, ông H1 sử dụng sản xuất t
đó đến năm 1997, riêng láng trại đã sập đỗ vào năm 1988, còn lại một nền đất
cao khoản 0,5m.
Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1993, kiểm tra năm 1994 người kiểm
tra ông Nguyễn Văn L2, khu đất nói trên đo thành 03 thửa theo hiện trạng sử
dụng đất, cụ thể: Thửa đất số 751, tbản đồ 303-B, diện tích 365m
2
, loại đất
trồng cây hàng năm khác do ông Nguyễn K sử dụng đất sản xuất. Thửa đất số
322, tờ bản đồ 303-B, diện tích 1.430m
2
loại đất trồng cây hàng năm khác do
ông Huỳnh Văn H1 sử dụng đất sản xuất. Thửa 752, tbản đồ 303-B, diện tích
300m
2
, loại đất trồng cây hàng năm khác do ông Huỳnh Văn H1 sử dụng đất sản
xuất.
Ông Nguyễn K ông Huỳnh Văn H1 sử dụng liên tục vào mục đích sản
xuất nông nghiệp từ năm 1988 đến 1997 (theo khoán 10).
Năm 1997, UBND B thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của
Chính phủ ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khu đất này
được cân đối giao cho hai hộ phần diện tích còn lại do UBND B quản lý.
Cụ thể:
Hộ ông Nguyễn K: Được cân đối giao thửa đất số 751, tbản đồ 303-B,
diện tích 365m
2
, loại đất trồng cây hàng năm khác, đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Hộ ông Huỳnh Văn H1: Được cân đối giao thửa đất số 322, tờ bản đồ
303-B, diện tích 790m
2
, loại đất trồng cây hàng năm khác, đã cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Phần diện tích còn lại 640m
2
loại đất trồng cây hàng năm khác thuộc quỹ
đất công ích do UBND B quản cho ông Huỳnh Văn H1 thuê sử dụng sản
xuất và trả tiền thuê đất hàng năm.
Thửa đất 752, tờ bản đồ 303-B, diện tích 300m
2
, loại đất trồng cây hàng
7
năm khác, quy hoạch thổ do UBND B quản cho ông Huỳnh Văn H2
thuê sử dụng sản xuất và trả tiền thuê đất hàng năm.
Qua các thời kỳ thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, hộ ông Ngô Q
không trực tiếp sản xuất, không kê khai, không đăng ký và không có tên trong sổ
quản lý đất đai được lưu trữ tại UBND xã B.
Theo các tài liệu trong hồ vụ án thì người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Đặng Thị C (con của ông Đặng T8) trình bày:
Nguyên diện tích đất thuộc thửa đất 40, tờ bản đồ số 01 tại Chứng
thư kiến điền do Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa cấp ngày 26/12/1963 cho gia
đình ông Ngô Nghiệp .1 Trước năm 1975 khi cha tôi ông Đặng Thanh L3 gia
đình với mẹ tôi Đỗ Thị L4 cha mẹ tôi nghèo khổ, không chnên
ông Ngô N1 mới cho cha tôi (Đặng T8 Đặng Văn T8) đến tại căn nhà tranh,
nền đất thuộc thửa đất của gia đình ông Ngô N1 (tức thửa đất số 40, tbản đồ
địa chính 01 tại Chứng thư kiến điền do Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa cấp
ngày 26/12/1963 cho gia đình ông Ngô N1) để trông coi, quản diện tích đất
nêu trên cho ông Ngô Nghiệp .1 Từ nhỏ tôi (C4) cũng được sinh sống và lớn lên
đây. Tôi (Chanh) khẳng định cha mẹ tôi nghèo, khổ nên ông Ngô N1 mới
cho ở nhờ, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà tranh và giếng nước nêu trên là của
ông Ngô N1 chkhông phải của cha tôi (Đặng T8); không việc ông Ngô N1
cho cha, mẹ tôi thục diện tích đất, nhà nêu trên. Đến năm 1987, cha tôi bênh
nặng nên tôi (Chanh) đưa cha tôi vthôn C, xã H, huyện P để chăm c, sau đó
cha tôi chết tại đây vào năm 1990. Khi tôi đưa cha tôi vthôn C thì cả cha tôi
(Đặng T8) và tôi (Đặng Thị C) đều quên, không thông báo cho gia đình ông Ngô
Q biết để cử người khác trông coi nhà và khu đất nêu trên. Cũng trong thời gian
này thì ông Ngô Q lên báo cho cha tôi biết là diện tích và tài sản trên đất của gia
đình ông cho cha tôi ở nhờ, trông coi, quản lý cho gia đình ông đã bị người khác
chiếm.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2024/HC-ST ngày 26/7/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Áp dụng điều 30, 32, 116, 158, điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348
358 Luật tố tụng hành chính; Điều 100, khoản 2 Điều 105 Luật đất đai 2013,
Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Khoản 2
Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện của ông Ngô Q:
- Hủy công văn số: 2518/CNVPĐKĐĐ, ngày 8/12/2022 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai thành phố T Công văn số: 120/UBND, ngày
8
31/10/2022 của y ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố TVăn phòng đăng ký đất đai tỉnh P
(đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố T) UBND
B, thành phố T tiến hành các trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất đối với hiện trạng diện tích đất ông Ngô Q đang khiếu kiện tại thửa đất
số 322, tờ bản đồ số 303B (đo đạc năm 1993), tọa lạc tại thôn N, B, thành
phố T, tỉnh Phú Yên theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 31 tháng 7 ngày 07 tháng 8 năm 2024 Ủy ban nhân dân thành
phố T và Ủy ban nhân dân xã B đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ
thẩm.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú
Yên có Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Ủy ban nhân dân thành phố T Ủy ban nhân dân B vẫn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng:
- Vtố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, những người tiến hành ttụng
những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Luật tố tụng
hành chính.
- Về nội dung: trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án
trình bày của đương sự tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố T Ủy ban nhân
dân xã B, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, giữ
nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, ý
kiến trình bày của các bên đương sự đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến
của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với các đương sự vắng mặt nhưng đơn đề
nghị xét xử vắng mặt và trường hợp vắng mặt nhưng đã được Tòa triệu tập hợp
9
lệ lần thhai. Căn cứ vào Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến
hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố
T, Ủy ban nhân dân B và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận thấy: về nguồn gốc Thửa đất số 322,
Tờ bản đồ số 303B và Thửa đất số 751 và 752, Tờ bản đồ số 303B tại thôn N, xã
B, thành phố T (theo bản đồ đo đạc năm 1993): theo Chứng thư kiến điền do T7
ty điền địa Phú Yên cấp cho ông Ngô Văn V ông V đã giao cho ông Ngô
Nghiệp .1 Sau đó, diện tích đất này do ông Ngô N1 (cha nuôi của ông Ngô Q)
giao cho ông Đặng Văn T8 quản lý, trông coi giúp. Điều này phợp với lời
trình bày của Đặng Thị C, diện tích đất này cha của ông Đặng Văn T8
(Đặng T8) trực tiếp quản lý sử dụng từ trước năm 1987.
[3] Xét quá trình thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ tại B đối
với thửa đất nêu trên (theo bản đồ đo đạc năm 1993), HĐXX nhận thấy: Tại
Phương án giao đất theo Nghị định 64/CP của B thể hiện tại trang số 8 có nội
dung như sau Theo quy định chung của UBND tỉnh P triển khai toàn tỉnh thực
hiện 64/CP trong năm 1995 nhưng B do hoàn cảnh khách quan triển
khai chậm, sau khi xin ý kiến Hội đồng giao đất (HĐGĐ) Thị xã, cấp uỷ, UBND
HĐGĐ B thống nhất chốt nhân khẩu lúc 0h ngày 31/12/96 mọi trường
hợp biến động tăng sau ngày 31/12/1996 không giải quyết”. Như vậy, xã B thực
hiện Nghị định 64/CP sau năm 1996. Trong khi đó vào ngày 06/10/1995
Nguyễn Thị L (mẹ của ông Ngô Q) đã Đơn xin lại nền nhà (hiện nay
diện tích đất ông Ngô Q đang khiếu kiện) gửi UBND B. Đồng thời, phù hợp
với lời khai của bà Lý Thị Bích N2 nguyên trước đây công tác tại UBND xã B
giai đoạn từ năm 1994 2016 (tại BL số 10): Từ năm 1995 tôi chuyển sang
làm công tác Văn phòng của UBND xã B. Trong năm 1995, tôi nhận đơn
khiếu nại của gia đình ông Ngô Q về việc khiếu kiện đất đai của gia đình ông Q
sau đó tôi đã trình đơn cho lãnh đạo UBND B giải quyếtphù hợp với
hiện trạng xem xét thẩm định tại chỗ (trên đất nền nhà giếng nước) đã
được UBND B xác nhận. Như vậy, tại thời điểm năm 1995 (trước khi thực
hiện Nghị định 64/CP thì gia đình ông Ngô Q (bà Nguyễn Thị L) đã đơn yêu
cầu nhận lại diện tích đất của gia đình nhưng không được UBND xã B xem
xét, giải quyết. Theo trình bày của UBND B cho rằng gia đình ông Q không
khai, không đăng không sở; việc không tên trong sổ quản
đất đai được lưu trữ tại UBND B lỗi của UBND B tại thời điểm đó
UBND B không ghi nhận việc khai của gia đình ông Q. Đồng thời diện
tích đất này trước thời điểm thực hiện Nghị định 64/Cp thì đất (trên đất
nền nhà, giếng nước, cây ăn trái theo Chứng thư kiến điền). Do đó, diện tích
đất này không phải đất nông nghiệp để cân đối, giao đất theo Nghị định 64-
10
Cp, không phải đất công ích 5% và không thuộc trường hợp theo quy định tại
Điều 1 Nghị Quyết 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội Nhà nước
không xem xét lại chủ trương, chính sách việc thực hiện các chính sách về
quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã
ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi
lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố tsử dụng trong quá trình thực hiện
các chính ch về quản nhà đất chính sách cải tạo hội chủ nghĩa liên
quan đến nhà đất.”
[4] Đồng thời, qua đó thể hiện chủ sở hữu đất đang khiếu kiện của ông
Ngô N1 (cha nuôi ông Q) chứ không phải của ông Đặng Văn T8 (Đặng T8), ông
T8 chỉ người được cho nhờ trông coi hộ, nên ông T8 không quyền đưa
đất người khác vào HTX (theo như lời trình bày của UBND B). Mặt khác,
theo Đặng Thị C (con gái ông T8) thì ông T8 tên Đặng Thanh C2 không
phải Đặng Văn T8. Thể hiện tại Biên bản xác minh ngày 02/11/2016 của TAND
thành phố Tuy Hòa (tại Bản án 01/2017/HCST ngày 04/5/2017 của TAND
thành phố Tuy Hòa), Công an B cung cấp: “Căn cứ vào sổ hộ khẩu do Công
an B quản thì từ năm 1975 đến nay không người nào tên Đặng T8 hay
Đặng Văn T8 trú tại N, B, thành phố T”. vậy, không căn cứ để xác
định diện tích khoảng 886,3m
2
ông Q đang khiếu kiện do ông T8 đã được đưa
vào Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án,
đại diện UBND xã B cũng không chứng cứ nào để làm căn cứ chứng minh
diện tích khoảng 886,3m
2
ông Q đang khiếu kiện đã bị quan thẩm quyền
tịch thu, trưng thu, trưng mua, hay hiến tặng và cũng không có chứng cứ nào thể
hiện diện tích đất nói trên đã đưa vào HTX.
[5] Xét thấy, gia đình ông Ngô Q 03 thửa đất (Thửa đất số 322, số 751
số 752 đều thuộc Tờ bản đồ số 303B tại thôn N, B), khi thực hiện Nghị
định 64-CP thì chính quyền địa phương đã cân đối, giao đất đã cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn K với diện tích 365m
2
tại Thửa
đất số 751 cân đối, giao đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Huỳnh Văn H1 với diện tích 790m
2
, tại Thửa đất 322. Người khởi kiện
ông Ngô Q không khiếu kiện đối với 02 thửa đất này nên Toà án cấp thẩm
không xem xét sở. Tuy nhiên, đối với phần diện tích còn lại khoảng
886,3m
2
, qua đối chiếu vị trí tọa độ thì diện tích này thuộc một phần Thửa đất số
322, Tbản đồ 303-B (Bản đồ đo đạc năm 1993). Theo kết quả xác minh ngày
19/6/2024 tại UBND xã B thì hiện nay diện tích đất này nhà nước chưa giao đất
hay cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai; chưa tổ chức đấu thầu
giao khoán cho tổ chức, cá nhân nào thuê đất, nộp tiền sử dụng đất và cũng chưa
được thực hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa
trước ngày 01/7/1991.
11
Đồng thời, theo Biên bản xác minh tại UBND B UBND thành phố
T (Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố T) thể hiện: theo Quyết định số
785/QĐ-UBND ngày 23/6/2023 của UBND tỉnh P thì hiện trạng diện tích đất
ông Ngô Q đang khiếu kiện nằm trong quy hoạch đất nông thôn (ONT). Điều
này phù hợp với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/11/2023 của Toà
án cấp thẩm, ông Nguyễn Anh T9 cán bộ địa chính B tham gia, thể
hiện hiện trạng trên thửa đất ông Q đang khiếu kiện 01 giếng nước bằng
tông, có 01 nền nhà cũ bằng xi mămg, bê tông và gạch thẻ khoảng hơn 15m
2
, 01
nhà lợp tole do ông Q xây dựng vào năm 2022, 01 chuồng gà, 01 cây Xoài trên
10 năm tuổi, nhiều bụi chuối cây án trái khác…(Có giới cận: Đông giáp đất
ông Đặng K1, Bắc giáp hộ bà Nguyễn Thị C3, hộ ông Nguyễn Thái B, T10 giáp
đường đi hộ Nguyễn Thị C3, Nam giáp hộ ông Đỗ Ngọc G) ; theo ông Q
trình bày trên nền nhà cũ trước đây là ngôi nhà vách đất, mái lợp tranh, đến năm
1993 mới bị bão lụt làm sập, hư hỏng.
Như vậy, sở để xác định đối với phần diện tích còn lại khoảng
886,3m
2
trước khi nhà bị bão lụt làm đổ sập khoảng năm 1993 là đất nhà ở, do
ông T8 nhờ, quản trông coi hộ cho ông Ngô N1, không phải đất sản xuất
nông nghiệp, vì hiện trạng giáp ranh xung quanh thửa đất là nhà ở của các hộ gia
đình, không đất sản xuất nông nghiệp. Do đó, người bị kiện cho rằng diện
tích đất này thuộc quỹ đất nông nghiệp 5% do UBND B quản không
căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q.
[6] Xét thấy, đối với phần diện tích còn lại 886,3m
2
không cân đối, giao
đất cho ai nhưng UBND xã B tự khai, thể hiện là đất công ích do nhà nước
quản lý. Sổ địa chính này lập vào năm 1998 nên không thuộc điểm b khoản 1
Điều 100 của Luật đất đai 2013 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời
được quan nhà nước thẩm quyền cấp hoặc tên trong Sổ đăng ruộng
đất, S địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993”; trong khi đó Chứng thư
kiến điền do Trưởng T11 điền địa cấp ngày 26/12/1963 cho ông Ngô Văn V (sau
này để lại cho ông Ngô N1) thuộc một trong những giấy tđược quy định tại
điểm e khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 khoản 1 Điều 100 của
Luật đất đai 2013 Giấy tờ về quyền sdụng đất do quan thẩm quyền
thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất”.
vậy, ngày 31/10/2022 UBND B Văn bản số 120/UBND gửi Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác định diện tích đất ông Ngô Q
yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc Thửa đất 322
2
Tờ bản đồ
303-B, diện tích 640m
2
, loại đất màu Thửa đất s752, Tờ bản đồ số 303-B,
diện tích 300m
2
loại đất Quy hoạch thổ do UBND xã B quản lý và ngày
08/12/2022 Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T ban hành Văn
bản số 2518/CNVPĐKĐĐ để trả hồ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử
12
dụng đất của ông Ngô Q không đúng quy định. Với những phân tích viện
dẫn nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Q là có căn cứ.
[7] Từ những phân tích nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử xét
thấy Ủy ban nhân dân thành phố T, Ủy ban nhân dân B kháng cáo kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên nhưng tại phiên
phiên toà phúc thẩm không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới để xem xét làm
thay đổi nội dung của quyết định bản án thẩm nên không căn cứ chấp
nhận; ý kiến của Kiểm sát viên không phù phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên không chấp nhận; bác kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố T,
Ủy ban nhân dân B kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Phú Yên, giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án hành chính thẩm không kháng
cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo của Ủy ban nhân dân
thành phố TỦy ban nhân dân xã B không được chấp nhận nên phải chịu theo
quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính.
Áp dụng Điều 100, khoản 2 Điều 105 của Luật đất đai 2013, Điều 70
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố T, Ủy ban nhân
dân B kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên;
giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính thẩm số 42/2024/HC-ST ngày
26/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Q:
- Hủy Công văn số: 2518/CNVPĐKĐĐ, ngày 8/12/2022 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai thành phố T Công văn số: 120/UBND, ngày
31/10/2022 của y ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố TVăn phòng đăng ký đất đai tỉnh P
(đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố T) UBND
B, thành phố T tiến hành các trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền s
13
dụng đất đối với hiện trạng diện tích đất ông Ngô Q đang khiếu kiện tại Thửa
đất số 322, Tờ bản đồ số 303B (đo đạc năm 1993), tọa lạc tại thôn N, B,
thành phố T, tỉnh Phú Yên theo đúng quy định của pháp luật.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc: ông Ngô Q tự nguyện
chịu số tiền 7.000.000đ, ông Q đã nộp đủ và chi phí xong.
4. Về án phí:
Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố TỦy ban nhân
dân xã B, thành phố T mỗi cơ quan phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn).
Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố T và Ủy ban
nhân dân xã B, thành phố T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu số 0004458
ngày 26/8/2024 và số 0004421 ngày 06/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Phú Yên.
Thời hạn, trình tự thủ thi hành xử trách nhiệm của người không thi
hành bản án, quyết định của Toà án được thực hiện theo Nghị định 71/2016/NĐ-
CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Phú Yên;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- Cục THADS tỉnh Phú Yên;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Ngọc Thông
Tải về
Bản án số 307/2025/HC-PT Bản án số 307/2025/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 307/2025/HC-PT Bản án số 307/2025/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất