Bản án số 305/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 305/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 305/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 305/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Ngọc N khởi kiện yêu cầu ông Lê Minh Đ và các con ông Đ là anh Lê Gia B và chị Lê Gia H trả số tiền bà C đã vay khi còn sống là 300.000.000 đồng và 250.920.000 đồng tiền hụi bà C đã nhận của bà tổng cộng là 550.920.000 đồng nhưng bị đơn ông Đ, anh B, chị H chỉ thừa nhận số tiền vay là 100.000.000 đồng và tiền hụi 151.000.000 đồng, tổng cộng là 251.000.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 305/2024/DS-PT
Ngày: 08-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản, hợp đồng góp hụi và thực hiện
nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Giàu
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân
Phạm Thị Thuỳ Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 05 và 08 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 107/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 4
năm 2024, về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp hụi thực
hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do bản án dân sự thẩm số: 13/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2024/QĐXXPT-DS ngày 03
tháng 6 năm 2024 quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2024/QĐPT-DS ngày 20
tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Phạm Thị Ngọc N, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số B, tổ C, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
2. Bị đơn:
Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1974; vắng mặt
Anh Lê Gia B, sinh năm 1997; vắng mặt
Chị Lê Gia H, sinh năm 2005; vắng mặt
Cùng địa chỉ: Tổ C, khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Phước Ý, sinh năm 1995. Địa
chỉ: Số B, Đường L, khu phố D, phường L, thị H, tỉnh Tây Ninh (Theo hợp
đồng uỷ quyền ngày 26/01/2024); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đỗ Th T, sinh năm 1946; vắng mặt.
Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1940; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số H, tổ A, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
4. Người kháng cáo: Ông Minh Đ, anh Gia B và chị Gia H, bị
đơn.
5. Kháng ngh: Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/11/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm Thị Ngọc N trình bày:
Trần Thị Kim C làm thảo hụi cho vay tiền góp nhiều năm chợ C2.
Trước đó, cũng đã tham gia nhiều dây hụi với C, nhưng các dây này đều đã
mãn hết. Tất cả các dây hụi do C làm đầu thảo đều hụi 5.000.000 đồng, hụi
sống thì đóng 4.000.000 đồng/tháng, còn hụi chết thì đóng 5.000.000 đồng/tháng.
Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, tham gia chơi 08 phần
của 04 dây hụi 5.000.000 đồng, do C làm đầu thảo. Tất cả các dây hụi tham
gia đều hụi tháng (tức 01 tháng khui một lần), nhưng do buôn bán rau chợ,
không tiền để đóng một lần nên thoả thuận với C sẽ đóng tiền hụi theo
ngày, cụ thể: mỗi ngày bà sẽ đóng cho bà C số tiền 150.000 đồng/1 phần hụi, 08
phần 1.200.000 đồng/ngày, cuối tháng C sẽ cộng số tiền đã đóng, sau đó
tr đi số tiền hụi phải đóng trong tháng trả lại cho bà stiền đã đóng dư. Do
đóng hụi theo hình thức góp hàng ngày, nên số tiền bà góp tháng trước sẽ là tiền
hụi đóng cho tháng sau (ví dụ hụi khui tháng 6/2022 thì phải góp t tháng
5/2022) như vậy C mới tiền để đăng hụi cho hụi viên hốt hụi. Ngoài ra,
nhiều người chợ C2 ng đóng hụi cho C theo hình thức này. Mỗi ngày vào
tầm 11 giờ trưa bà C đi thu tiền hụi, nếu bà C bận thì chị ruột bà C là Trần Thị Kim
C1 hoặc con bà C Gia B sẽ là người đi thu tiền hụi. Do C làm hụi cho
vay góp lâu năm địa phương từ trước đến nay người giữ chữ tín, nên khi
chơi hụi hầu như không ai yêu cầu đưa danh sách hụi viên, khi đóng hụi cũng
không ai yêu cầu viết giấy biên nhận, ngược lại khi đăng hụi C cũng không yêu
cầu hụi viên viết giấy biên nhận, nhưng vào cuối mỗi tháng bà C đều đến gặp bà đ
chốt lại số tiền bà phải đóng, số tiền bà đã đóng, sau đó cấn trừ với nhau, số tiền bà
đã đóng dư thì bà C trả lại, mỗi lần như vậy bà C đều tính và viết ra giấy như đã
giao nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, do bà tin tưởngC cũng như không lường trước
được việc C sẽ chết đột ngột nên chỉ giữ lại được một số tháng. Cụ thể các dây
hụi bà còn tham gia chơi với bà C như sau:
Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 10/4/2022, tham gia chơi 01 phần.
Dây hụi gồm 25 phần. Đối với dây hụi này đã hốt, sau khi C chết thì
ngưng đóng cho đến nay, hiện còn nợ của C 07 tháng hụi chết với số tiền
35.000.000 đồng;
Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 20/6/2022, tham gia 01 phần. Dây hụi
gồm 25 phần với 10 hụi viên tham gia. Trong danh sách hụi viên do C lập thì
tên của bà được ghi là “Nhung chợ”. Bà đóng hụi cho bà C bắt đầu từ tháng 5/2022
tính đến tháng 7/2023 15 tháng với tổng số tiền 15 tháng x 01 phần x
4.000.000 đồng = 60.000.000 đồng;
Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 01/11/2022, tham gia 02 phần. Dây
hụi gồm 25 phần. bắt đầu đóng hụi từ tháng 10/2022 tính đến tháng 7/2023
10 tháng với tổng số tiền là 4.000.000 đồng x 10 lần x 2 phần = 80.000.000 đồng;
Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/02/2023, tham gia 04 phần. Dây
hụi gồm 25 phần với 12 hụi viên tham gia. Trong danh sách hụi viên do C lập
thì tên của được ghi “Nhung rau”. góp hụi t tháng 01/2023 tính đến
tháng 7/2023 07 lần với tổng số tiền vốn 4.000.000 đồng x 7 lần x 4 phần =
112.000.000 đồng.
Ngoài ra, tháng 8/2023 góp tiền hụi của tháng 09 cho C được tổng
số tiền là: 1.200.000 đồng/ngày x 31 ngày = 37.200.000 đồng;
Từ ngày 10/9/2023 đến ngày 18/9/2023, bà đóng cho C được 09 ngày với
số tiền là 1.200.000 đồng x 9 ngày = 10.800.000 đồng.
Đối với số tiền hụi góp trong tháng 8/2023 đầu tháng 9/2023 do C
chưa chốt nên sau khi C chết thì đến gặp ông Đ con ông Đ Gia B,
khi đó Gia B người đã chốt số tiền cho như đã nộp cho Tòa. Tuy nhiên,
khi chốt số tiền đóng hụi của mấy ngày đầu tháng 9/2023 Gia B đã tính nhầm số
ngày đóng số tiền đóng mỗi ngày nên mới tính lên thành 15.000.000 đồng
nhưng thực tế chỉ đóng được số tiền là 10.800.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền hụi sống bà đã đóng cho bà C gồm:
60.000.000 đồng + 80.000.000 đồng + 112.000.000 đồng + 37.200.000 đng
+ 10.800.000 đồng = 300.000.000 đồng.
đồng ý trừ số tiền hụi chết còn nợ C 35.000.000 đồng số tiền
hoa tươi ông Đ Gia B giao cho để cấn trừ nợ từ sau khi C chết
14.080.000 đồng. yêu cầu ông Đ và các con bà C phải trả lại số tiền là
250.920.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 12/12/2022 C vay của 100.000.000 đồng (bà C
viết giấy biên nhận như chị đã giao nộp cho Tòa), đến ngày 09/01/2023 C vay
thêm số tiền 100.000.000 đồng thì bà C mới viết vào quyển sổ với nội dung vay
200.000.000 đồng (trong đó bao gồm cả số tiền vay ngày 12/12/2022), đến tháng
sau đó, tc ngày 09/02/2023 C đến đăng hụi cho vay thêm của số tiền
100.000.000 đồng, nói để mua đất H. Lúc vay, bà C không viết lại giấy n
mới, bà đưa quyển sổ thì C tự sửa số 2 thành số 3 như giấy biên nhận bà đã giao
nộp. Do từ trước đến nay C làm ăn rất uy tín địa phương nên cũng không
yêu cầu viết lại giấy nợ. Việc C sửa giấy nchị V (người bán sạp rau kế bên
sạp rau của bà) nhìn thấy. Hơn nữa, trong các giấy tính tiền hụi tiền lãi hàng
tháng C anh B (con C) cũng ghi tiền li là 4.500.000 đồng (tức cho
C vay 300.000.000 đồng với lãi suất 1,5%/tháng, nên tiền lãi 4.500.000
đồng/tháng). Sự việc C vay tiền của bà nhiều người chợ C2, cũng nchồng
và con C đều biết, nên sau khiC chết, con của C Gia B mới ghi tiền lời
là 4.500.000 đồng, đâytiền lời một tháng của số tiền vay 300.000.000 đồng. Sau
khi bà C chết thì bà có đến gặp chồng bà C là ông Lê Minh Đ để đòi tiền, thì ông Đ
cũng cam kết vài ba bữa sẽ trả lại tiền hụi tiền vay cho nhưng sau đó thì
không thực hiện. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu ông Đ các con của ông Đ, bà C
là anh B và chị H trách nhiệm trả lại cho bà các khoản sau đây:
Tiền vay 300.000.000 đồng và tiền lãi tính theo mức lãi suất 1,5%/tháng
từ ngày 09/02/2023 đến ngày xét xử;
Tiền hụi vốn là 250.920.000 đồng và tiền lãi tính theo mức lãi suất
1,5%/tháng từ ngày 19/9/2023 đến ngày xét xử.
Bị đơn, ông Minh Đ trình bày: Vợ ông tên Trần Thị Kim C (chết ngày
19/9/2023). Khi còn sống, vợ chồng ông kinh doanh hoa tươi chợ C2, ngoài ra bà
C còn làm đầu thảo hụi cho vay tiền góp, những người chơi hụi với C chủ
yếu là dân buôn bán ở chợ C2. Từ trước đến nay ông chỉ lo làm hoa tươi nên không
mấy quan tâm đến việc làm ăn của C. Tiền hụi thường do C tự đi thu nên
ông không biết. Sau khi C chết, một số người hụi sống đến nhà ông đòi nợ,
trong đó N. Ông thỏa thuận để ông trả nợ dần bằng hình thức giao hoa
tươi cho N để trừ nợ đối với khoản tiền hụi, còn đối với số tiền vay thì ông thỏa
thuận để ông làm có tiền sẽ trả cho bà N sau. Lúc đầu N cũng đồng ý, nhưng sau
đó không hiểu lý do gì lại làm đơn khởi kiện.
Đối với các giấy tờ N đã giao nộp cho Tòa gồm quyển sghi tiền hụi
tiền vay 300.000.000 đồng, giấy biên nhận vay số tiền 100.000.000 đồng 07
giấy chốt tiền hụi mỗi tháng, ông xác nhận là do bà Trần Thị Kim C viết, tuy nhiên
nội dung các tài liệu này không ràng, không xác nhận của chính quyền địa
phương, nên ông không biết cụ thể số tiền bà C còn nợ N bao nhiêu. Hơn
nữa, N đã khởi kiện cha con ông, nên nay ông không đồng ý trả tiền theo yêu
cầu của N vì C chơi hụi cũng như vay tiền của N, ông hoàn toàn không
hay biết.
Anh Lê Gia B trình bày: Anh B xác nhận khi còn sống mẹ anh là bà Trần Thị
Kim C có làm chủ hụi và cho vay tiền góp. Khi bà C bận thì có nhờ anh đi thu tiền
hụi giúp, nhưng sau khi mẹ anh chết sổ sách trong gia đình bị mất nên anh không
biết được cụ thể N chơi với mẹ anh những dây hụi nào bao nhiêu phần và số
tiền hụi mà N đã đóng. Anh cũng không biết việc N cho bà C vay tiền. Sau
khi C chết, N mang giấy tờ, sổ sách đến nhà yêu cầu trả nợ, sau khi xem
xét giấy tN đưa, nhận thấy đúng chviết của mẹ anh, nên anh ghi ra
giấy cho bà N các nội dung gồm hụi 08 phần, mỗi ngày bà N đóng 1.200.000 đồng,
tháng 8 đóng được 31 ngày với tổng số tiền 37.200.000 đồng, trừ tiền hụi bà
N phải đóng của tháng 9/2023 là 33.000.000 đồng thì tháng 8 gia đình anh phải trả
lại cho N số tiền 4.200.000 đồng. Từ ngày 10/9 đến trước ngày manh chết
19/9/2023 N đóng được số tiền 1.200.000 đồng/ngày x 9 ngày = 10.080.000
đồng, nhưng do anh tính nhầm số tiền N đóng mỗi ngày từ 1.200.000 đồng
thành 1.500.000 đồng tính nhầm số ngày đóng t09 ngày lên 10 ngày nên mới
ghi nhầm số tiền bà N đã đóng thành 15.000.000 đồng, ngoài ra còn tiền lãi của số
tiền vay 4.500.000 đồng. Khi ghi nội dung giấy trên anh ng chưa biết N
chơi mấy dây hụi mà chỉ ghi theo lời nói của bà N. Các khoản tiền này anh chỉ tính
với N từ tháng 8 đến khi manh chết, còn các khoản trước đó C N tự
tính với nhau anh không biết. Sau khi tính toán nợ xong, gia đình anh N
thỏa thuận sẽ giao hoa tươi cho N để cấn trừ nợ, lúc đầu bà N đồng ý nhưng sau
đó N đòi lấy nhiều hoa hơn thì gia đình anh không đồng ý, nếu như vậy gia
đình anh sẽ không còn vốn để làm ăn, do vậy mà N khởi kiện. Đối với các
khoản nợ hụi, cũng như nợ vay giữa bà N và bà C cụ thể thế nào anh không biết rõ.
Nay với yêu cầu khởi kiện của bà N anh không đồng ý.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Đỗ Th T trình bày: Trần Thị
Kim C là con ruột của bà và ông Trần Văn Đ1. Bà C chết đột ngột nên không để lại
di chúc. Khi còn sống, C chơi hụi vay tiền của ai hay không ông,
không biết. C kết hôn với ông Đ đến nay đã hơn 20 năm nhưng C để lại
tài sản gì hay không thì bà không biết. Nay bà C chết, tài sản và nợ nần do bà C đ
lại cha, con ông Đ tự giải quyết. Vợ chồng đã được thông báo về kết quả kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, ng khai chứng cứ hoà giải, ông không yêu cầu
Tòa án hòa giải công khai chứng cứ lại. Ông bà đã già, yếu, đi lại khó khăn nên
đề nghị Tòa án căn c quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày số tiền vay 300.000.000 đồng và tiền hụi
250.920.000 đồng nợ chung của C ông Đ, việc vay tiền chơi hụi
do C trực tiếp giao dịch, nhưng ông Đ biết tiền có được C cũng sử
dụng cho mục đích chung của gia đình, mua đất khu phố H, phường H, thị H
đứng tên hai vợ chồng. Nay C chết nên yêu cầu ông Đ và các con Gia B
Gia H có trách nhiệm trả lại số tiền nêu trên. Nguyên đơn không yêu cầu trả
tiền lãi suất, cũng như không yêu cầu cha mcủa C ông Đ1 T cùng
trách nhiệm trả nợ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, anh Lê Phước Ý trình bày: Ông Đ,
anh B chị H thừa nhận bà N tham gia chơi 08 phần của 04 dây hụi 5.000.000
đồng, gồm 25 phần, khui vào các ngày 20/6/2022, 10/4/2022, 01/11/2022 và
25/02/2023 như nguyên đơn trình bày, đồng thời cũng thừa nhận các chữ ký, chữ
viết trong các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp trong hồ vụ án
chữ viết chữ của Trần Thị Kim C. Tuy nhiên, do các tài liệu, chứng cứ
các giấy tính tiền hụi hàng tháng hầu hết không ghi ngày, tháng, năm viết, đối
với giấy tính tiền hụi và tiền lãi do anh B viết là viết theo yêu cầu của bà N, thực tế
anh B không tham gia các dây hụi nên không biết rõ, do đó anh B không thừa nhận
giá trị pháp của tài liệu này. Cụ thể về tiền hụi phía bị đơn thừa nhận, dây hụi
khui ngày 10/4/2022 N tham gia 01 phần, đóng hụi được 15 lần đến lần thứ 16
thì hốt hụi, số tiền hụi chết bà N còn nợ là 45.000.000 đồng, dây hi khui ngày
20/6/2022 bà N tham gia chơi 01 phần đóng được 13 lần, mỗi lần đóng 4.000.000
đồng, với tổng số tiền 52.000.000 đồng; Dây hụi khui ngày 01/11/2022, N
tham gia chơi 02 phần đóng được 08 lần, mỗi lần đóng 4.000.000 đồng, với
tổng số tiền 64.000.000 đồng; Dây hụi ngày 25/02/2023, N tham gia chơi 04
phần đã đóng được 05 lần, mỗi lần đóng 4.000.000 đồng, với tổng số tiền đã
đóng được là 80.000.000 đồng, tổng số tiền hụiN đã đóng cho bà C từ ngày mở
hụi đến ngày 30/6/2023 là 196.000.000 đồng, trừ 45.000.000 đồng tiền hụi chết thì
ông Đ, anh B chị H đồng ý trả lại cho N số tiền 151.000.000 đồng trong
phạm vi di sản thừa kế do bà C để lại.
Đối với tiền vay, do giấy nợ ngày 09/01/2023 bị chỉnh sửa nên bị đơn không
đồng ý trả số tiền này, đối với số tiền 100.000.000 đồng theo giấy biên nhận ngày
12/12/2022 bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn trong phạm vi di sản thừa kế của
C để lại.
Tại Bản án dân sự thẩm số:13/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Chp nhn yêu cu khi kin v Tranh chấp hợp đồng vay tài sn, hp
đồng góp hi thc hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” của Phm Th
Ngc N đối vi ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B và ch Lê Gia H.
Buc ông Minh Đ trách nhim tr cho Phm Th Ngc N s tin
275.460.000 đồng (bng chữ: Hai trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm sáu ơi
nghìn đồng).
Buc ông Lê Minh Đ, anh Gia B và ch Lê Gia H có trách nhiệm liên đới
tr cho Phm Th Ngc N s tiền là 275.460.000 đng (bng chữ: Hai trăm bảy
mươi lăm triu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) trong phm vi di sn tha kế do
Trn Th Kim C để li.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền,
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 06/3/2024 ông Minh Đ, anh Gia B ch Gia H kháng cáo
yêu cu cp phúc thm sửa án thẩm theo hướng chp nhn mt phn yêu cu
khi kin của nguyên đơn, bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tin tng cng
251.000.000 đồng trong phm vi di sn tha kế ca bà C để li.
Ngày 12/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh ban hành
Quyết định kháng ngh s 01/QĐ-VKS-DS, đ ngh Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sa mt phn bản án sơ thm v xác định
trách nhim tr nợ, nghĩa vụ thc hin v tài sn, v án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại din hp pháp ca b đơn ông Đ, anh B, ch H gi nguyên yêu
cu kháng cáo.
- Nguyên đơn N yêu cu gi nguyên bn án sơ thẩm.
- Kim sát viên Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh rút li mt phn
kháng ngh v việc xác đnh trách nhim tr n hi.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh phát biu ý kiến:
+ V t tng: Vic tuân theo pháp lut t tng ca Thm phán, Hi đồng xét
xử, thư phiên tòa kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
x ngh án đã thực hiện đúng quy đnh ca B lut t tng dân sự; các đương sự
thc hiện đúng quyền và nghĩa vụ ca mình.
+ V nội dung: Căn c khoản 2 Điều 308, Điều 309 B lut T tng dân s
đề ngh Hội đồng xét x:
Chp nhn mt phn kháng cáo ca b đơn ông Đ, anh B và ch H đối vi s
tiền vay và xác định tin vay là n riêng ca bà C.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu
Thành đối vi nội dung xác định n vay là n riêng ca C xác định lại nghĩa
v thc hin v tài sn và án phí.
Sa Bn án dân s thẩm s 13/2024/DS-ST ngày 27/02/2024 ca Tòa án
nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh, theo hướng: Xác định n hi n chung ca
C, ông Đ; Xác định s tin vay là n riêng ca bà C. Buc những người tha kế
ca C trách nhim tr
½ n hi n vay trong phm vi di sn do C để
li.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, căn ckết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Minh Đ, anh Gia B ch Gia H
hp lệ, đúng theo quy định tại các Điều: 271, 272, 273 ca B lut T tng dân s.
[1.2] Ngày 12/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây
Ninh ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự
thẩm số: 13/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là đảm bảo thời hạn theo quy định tại Điều 280
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Phạm Thị Ngọc N khởi kiện yêu cầu ông Minh Đ các con ông Đ
là anh Lê Gia B và chLê Gia H tr s tin bà C đã vay khi còn sống
300.000.000 đồng 250.920.000 đng tin hi C đã nhận ca tng cng
550.920.000 đồng nhưng bị đơn ông Đ, anh B, ch H ch tha nhn s tin vay
100.000.000 đồng và tin hụi 151.000.000 đồng, tng cộng là 251.000.000 đồng.
[3] Xét kháng cáo của b đơn ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B và chGia H
thy rng:
[3.1] Đối vi khon tiền vay 300.000.000 đồng, nguyên đơn N cho rng
đã cho bà C vay 03 lần, mỗi lần vay là 100.000.000 đng. Lần đầu bà C vay có viết
giy vay tin ngày 12/12/2022; Ln 2 bà C vay 100.000.000 đồng và viết biên nhn
ngày 09/01/2023 vi ni dung vay N 200.000.000 đồng (bao gm c s tin
100.000.000 đồng bà C đã vay ngày 12/12/2022); Ln 03 là vào tháng 02/2023, khi
bà C đăng hụi thì có vay thêm của bà số tiền là 100.000.000 đồng, do tin tưởng nên
đã đ C sa giy biên nhn ngày 09/01/2023 t 200.000.000 đồng (Hai trăm
triệu đồng) thành 300.000.000 đng (Ba trăm triệu đồng). Xét thy, li khai ca
N phù hp vi ni dung các giy biên nhn và phù hp vi khon tin lãi
4.500.000 đồng/tháng (được tính theo mc lãi suất 1,5%/tháng/300.000.000 đồng
tin vốn) được C tr cho N thể hiện trong các giấy tính tiền hụi lãi hàng
tháng do C lập khi còn sống anh B lập sau khi C mất. Mặc giấy biên
nhận ngày 09/01/2023 bị sửa từ số tiền 200.000.000 đồng thành s tin
300.000.000 đồng, tuy nhiên, ngoài giấy biên nhận này tnguyên đơn N còn
xuất trình giấy biên nhận nợ với số tiền là 100.000.000 đng ngày 12/12/2022, nên
vic sa ni dung giy biên nhn không th xut phát t phía nguyên đơn vì điu
này hoàn toàn không lợi cho nguyên đơn. Phía b đơn ông Đ, anh B, ch H thừa
nhận chữ viết chữ ký tên trong giấy nhận tiền ngày 09/01/2023 do C viết
tên nhưng s tiền vay 300.000.000 đồng s chnh sa nên không đồng ý
với số nợ trên nhưng không yêu cầu giám định. Như vậy, đủ sở để xác
định vic bà N cho bà C vay s tin 300.000.000 đồng vi lãi suất 1,5%/tháng là có
thật. Do đó N khi kin yêu cu ông Đ những người tha kế ca C phi
tr s tin trên là có cơ sở chp nhn.
[3.2] Đối vi khon tin hụi: Căn cứ vào các tài liu, chứng cứ các giấy
tính tiền hụi hàng tháng do C, anh B viết giao cho N gi, li khai ca nhng
ngưi làm chng các hi viên tham gia các dây hi cùng vi N, li khai ca
Trn Th Kim C1 (ch ca bà C và là người thu tin hi ca ch N thay cho bà C
mi ln bà C có vic bận), cũng như lời tha nhn ca b đơn ông Đ xác định, bà N
có tham gia 08 phn hi ca 04 dây hụi 5.000.000 đồng, m vào các ngày
10/4/2022, 20/6/2022, 01/11/2022 và 25/02/2023 do bà C làm chủ thảo. N đóng
hi theo hình thức góp mỗi ngày và tiền góp hụi của tháng trước s là tiền đóng hụi
cho tháng sau. N đã đóng hụi cho C đến ngày 18/9/2023 (trước ngày C
mt mt ngày) vi tng s tiền là 300.000.000 đng. Phía b đơn chỉ tha nhn
N đóng hụi t ngày m hụi đến ngày 30/6/2023 vi tng s tin là 196.000.000
đồng, đối vi thi gian sau phía b đơn không thừa nhận cho rằng giấy tính tiền
hụi do anh B viết sau không ghi ngày, tháng, năm, cũng như ghi theo yêu cu
ca bà N nên không có giá tr. Xét thy, các dây hi bà N tham gia đều là hi tháng
(tc mi tháng khui hi mt lần), nhưng N đóng hụi theo hình thức góp theo
ngày, mỗi ngày góp s tiền là 1.200.000 đồng (tương đương 150.000 đồng/1phần
hụi/ngày), như vậy để có tiền đăng hụi cho hi viên lãnh hụi (hốt hụi) thì bà N phải
góp tiền hụi từ tháng trước. n cứ vào giấy tính tiền hụi và tiền lãi do anh B (con
C) viết trên mu “Hoá đơn bán hàng” của shop hoa tươi “Cúc Bảo Hân” (BL
35) anh B đã giao cho N lời trình bày của anh B thừa nhận khi C còn
sống việc chốt tiền hụi hàng tháng doC làm, sau khi C mt do tháng 8
đầu tháng 9/2023 C chưa tính tiền hi cho N nên anh mi viết giy chốt lại
số tiền hụi với bà N. Như vậy, có căn c xác định bà N đã đóng tiền hi liên tc t
trước khi m hụi 01 tháng cho đến ngày 18/9/2023 (trước khi C chết mt ngày)
vi tng s tiền 300.000.000 đồng, sau khi tr s tin hi chết N n li C
là 35.000.000 đồng và 14.080.000 đồng b đơn đã trả trước đó, hin bà C còn nợ bà
N là 250.920.000 đồng. Do đó, bà N yêu cu phía b đơn ông Đ, anh B và ch H tr
li s tin hụi đã đóng là 250.920.000 đồng là có căn cứ.
[4] Về xác định trách nhiệm trả nợ: C làm chủ thảo hụi cho vay tiền
góp trong thời gian dài, ông Đ người sống chung nhà với C sau khi C
chết thì N gặp ông Đ để yêu cầu trả nợ, ông Đ cũng đồng ý trả nợ vay nợ
hụi cho N nên sở xác định ông Đ biết việc C chơi hụi vay tiền của
N nhưng không ý kiến phản đối. Tiền vay, cũng như tiền thu được từ việc
làm thảo hụi, C cũng sử dụng cho mục đích chung của gia đình, mua tài sản
chung vợ chồng nên cấp sơ thẩm xác định đây là nợ chung của ông Đ và bà C là có
căn cứ.
[5] Đối vi kháng ngh ca Vin kim sát huyn C và đề ngh ca Vin kim
sát nhân dân tnh Tây Ninh yêu cu sa mt phn bản án thẩm v xác định s
tin n hi, n vay n riêng cùa C và xác đnh lại nghĩa v thc hin v tài
sn, v án phí, nhn thy:
[5.1] Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên thống nhất: Đối vi phn n hi
xác định n chung ca v chng bà C, ông Đ. Bản án thẩm buc ông Đ
trách nhim tr ½ n chung căn cứ nên Kim sát viên rút mt phn kháng
ngh v vic xác định trách nhim tr n hụi là có cơ sở chp nhn.
[5.2] Đối vi n vay Kiểm sát viên xác định n riêng ca C là không
phù hp. Vì nợ này trong thời kỳ hôn nhân, việc C vay tiền của N để
mua tài sn v chồng cùng đứng tên. Bản án thẩm xác định n chung buc
ông Đ tr ½ n chung là phù hợp quy định khoản 2 Điều 37 Luật HNGĐ nên Vin
kim sát nhân dân huyn C kháng ngh yêu cầu xác định n vay là n riêng ca
C là không có cơ s chấp nhận.
[5.3] Về thực hiện nghĩa vụ về tài sản: Bản án thẩm xác định tuyên
buc ông Đ, B, H những người thuc hàng tha kế th nht ca C trách
nhiệm liên đới tr cho bà N s tiền 275.460.000 đng trong phm vi di sn do bà C
để lại không đúng nên Vin kim sát nhân dân huyn C kháng ngh đề ngh sa
bản án thẩm theo hướng tuyên buc những người tha kế ca C trách
nhim tr n cho bà N trong phm vi di sn do bà C để li, không buộc trách nhim
liên đới là có n cứ chấp nhận
[5.4] Về án phí: Bản án thẩm tuyên buc ông Đ, anh B, ch H trách
nhiệm liên đối tr cho ch N s tiền 275.460.000 đồng trong phm vi di sn do
C để lại, nhưng về án phí li tách ra ông Đ, anh B, ch H mỗi người phi chu
4.594.000 đồng trong phm vi di sn do bà C để li là không phù hp và mâu thun
nhau nên Vin kim sát nhân dân huyn Châu Thành kháng ngh sở chấp
nhận.
Xét thấy: Cấp thẩm buộc ông Đ trách nhiệm trả ½ nghĩa vụ chung,
tương đương với số tiền là 275.460.000 đồng là có căn c nhưng cấp sơ thẩm buộc
ông Đ anh B, chị H nghĩa vụ liên đới trả cho chị N số tiền 275.460.000
đồng trong phạm vi di sản thừa kế do C để lại không đúng theo quy định tại
Điu 288, Điều 615 Bộ luật dân sự. Do đó cấp phúc thẩm cần sửa lại cách tuyên án
buộc ông Đ trách nhiệm trả ½ nghĩa vụ chung, tương đương với số tiền
275.460.000 đồng và buộc ông Đ, anh B, chị H có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền là
275.460.000 đồng trong phạm vi di sản thừa kế do bà C để lại là phù hợp.
[6] N không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi, cũng như không yêu cầu T,
ông Đ1 thực hiện nghĩa vụ tài sản do bà C để lại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Minh Đ, anh Gia B, chị Gia H.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành và
đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về thực hiện nghĩa vụ về tài sản
án phí. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án thẩm về cách tuyên án
nghĩa vụ trả nợ và án phí.
[8] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Minh Đ phải chịu 13.773.000 đồng tiền án phí.
Ông Đ, anh Lê Gia B và chị Lê Gia H phải chịu 13.773.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm trong phạm vi di sản thừa kế do bà C để lại.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Đ, anh B chị
H không được chấp nhận nên ông Đ, anh B, chH mỗi người phải chịu 300.000
đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điu 429, 463, 471, 615, 651, 658, 688 B lut Dân s năm
2015; Ngh định số: 19/2919/NĐ-CP ngày 19/02/2019 ca Chính ph quy đnh v
h, hụi, biêu, phường; Ngh quyết s 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hi
đồng Thm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dn áp dng mt s quy định ca
pháp lut v lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca U ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim,
thu, np, qun lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chp nhn kháng cáo ca ông Lê Minh Đ, anh Gia B ch
Gia H.
2. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-
DS ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành và Đề nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản án
phí.
Sửa bản án dân sự thẩm số: 13/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
3. Chp nhn yêu cu khi kin v “Tranh chp hợp đồng vay tài sn, hp
đồng góp hi thc hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” của Phm Th
Ngc N đối vi ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B và ch Lê Gia H.
Buc ông Minh Đ trách nhim tr cho Phm Th Ngc N s tin
275.460.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Buc ông Minh Đ, anh Gia B ch Gia H trách nhim tr cho
Phm Th Ngc N s tiền là 275.460.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triu
bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) trong phm vi di sn tha kế do Trn Th Kim
C để li.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Minh Đ phải chịu 13.773.000 đồng (Mười ba triệu bảy trăm bảy
mươi ba nghìn đồng).
Ông Minh Đ, anh Gia B chị Gia H phải chịu 13.773.000 đồng
(Mười ba triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng) trong phạm vi di sản thừa kế do
Trần Thị Kim C để lại.
Ch Phm Th Ngc N đưc nhn lại 15.018.000 đồng (Mười lăm triệu
không trăm mười tám nghìn đồng) tin tm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0008615 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Chi cc Thi hành án dân s huyn Châu
Thành, tnh Tây Ninh.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B chị Lê Gia H mỗi người phải chịu 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ, anh B
chị H đã nộp 900.000 đồng theo biên lai thu số 0009927 ngày 06 tháng 03 năm
2024 ca Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận
ông Đ, anh B và ch H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành
án dân s; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngảy tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TPHCM;
- VKSNDCC tại TPHCM;
- Phòng KTNV TAND tỉnh TN
- VKSND tỉnh TN
- Đương sự;
- TAND huyện CT;
- Chi cục THA huyện CT;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Ngọc Giàu
Tải về
Bản án số 305/2024/DS-PT Bản án số 305/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 305/2024/DS-PT Bản án số 305/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất