Bản án số 302/2025/HC-PT ngày 16/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 302/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 302/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 302/2025/HC-PT
Tên Bản án: | Bản án số 302/2025/HC-PT ngày 16/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 302/2025/HC-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 16/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hành chính |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: | Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 302/2025/HC-PT
Ngày: 16-6-2025
V/v:“ Khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính về lĩnh
vực quản lý đất đai”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán:
Ông Phạm Ngọc Thái
Ông Võ Ngọc Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tiến Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Quách Hoà Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 469/2024/TLPT-HC ngày
02/12/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về
lĩnh vực quản lý đất đai.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 128/2024/HC-ST ngày 17/8/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1577/2025/QĐ-PT ngày
6 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: ông Phan T, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số A đường D,
phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Võ Kim T1; địa chỉ: D C, phường S,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ.
2. Ủy ban nhân dân huyện Đ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn Q, chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Đỗ Tuấn K - Phó Chủ tịch; vắng
mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Trần Duy Quốc V – Phó
Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường Ủy ban nhân dân huyện Đ, vắng mặt.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ; địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Quảng Nam.
Người đại diện hợp pháp: ông Đỗ Văn H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ,
huyện Đ, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Đinh Công T2 - Cán bộ địa
chính xã Đ, vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phan Đình B, sinh năm 1949, (chết ngày 14/9/2023). Địa chỉ: Ấp A,
xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Đình B: bà Trương
Thị B1, sinh năm 1956; bà Phan Thị Thảo V1, sinh năm 1977; bà Phan Thị Ngọc
L, sinh năm 1979; ông Phan Nhật N, sinh năm 1984; ông Phan Nhật T3, sinh năm
1993. Đều cư trú tại: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
2. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số C L, phường B, quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
3. Ông Phan T4, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng
Nai, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Ông Phan Thế V2, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khối phố D, phường A, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Võ Kim T1; địa chỉ: D C, phường S,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, ngưi đại diện theo
y quyn ca khởi kiện trình bày:
Cha ông Phan T là ông Phan L1, sinh năm 1914 (chết năm 1972) và mẹ ông
là bà Ngô Thị L2, sinh năm 1920 (chết năm 1997). Trong quá trình chung sống
cha mẹ ông là ông L2 và bà L2 có 05 người con chung là: ông Phan Đình B (sinh
năm 1949), ông là Phan T (sinh năm 1956), ông Phan Thế V2 (sinh năm 1956),
ông Phan T4 (sinh năm 1958) và bà Phan Thị H1 (sinh năm 1959). Vào năm 1956,
cha mẹ ông là ông Phan L1 và bà Ngô Thị L2 có mua thửa đất với diện tích là
2.200 m
2
có giấy xác nhận của chính quyền chế độ cũ. Gia đình chúng ông sống
tại thửa đất này đến khi đất nước thống nhất. Khoảng những năm 1982, vì mẹ ông
già và bệnh nên ông đưa mẹ ông ra Đà Nẵng trị bệnh. Tuy nhiên, mẹ ông cũng
thường về lại đây chăm sóc nhà cửa, cây trồng dù lúc bấy giờ, mẹ ông có nhờ ông
Nguyễn R chăm coi nhà cửa, vườn tược, tiếp tục quản lý diện tích đất này đến khi
ông T quay về yêu cầu ông R trả lại đất để ông T kê khai đăng ký quyền sử dụng
3
đất. Sau khi cha mẹ ông mất, hằng năm ông vẫn về nhà tại đây để lo hương khói
cho Ông bà tổ tiên và giữ gìn nhà đất.
Năm 2015, Ủy ban nhân dân xã Đ thu hồi lại một phần của thửa đất để làm
đường với diện tích là 1500 m
2
nhưng Ủy ban nhân dân xã Đ không ra Quyết định
thu hồi đất, phần diện tích đất còn lại khoảng hơn 700 m
2
nằm ở hai bên đường.
Năm 2018, ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
một phần diện tích thửa đất nêu trên là thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11 với diện
tích 370,8 m
2
(phần đất còn lại nằm bên kia đường) với toàn bộ diện tích là đất ở.
Tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã Đ không ký xác nhận vào mẫu số 05/ĐK (Phiếu
lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc đất và thời điểm sử dụng đất) và trả hồ sơ
xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông nên đã làm đơn khiếu nại đối
với Ủy ban nhân dân xã Đ. Sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ trả lời khiếu
nại cho ông bằng Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-UBND ngày
22/12/2021, vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ký xác nhận vào mẫu số 05/ĐK,
không công nhận nguồn gốc đất của cha mẹ ông đối với thửa đất 562a, tờ bản đồ
số 11 với diện tích 370,8 m
2
khi cho rằng hiện trạng thửa đất không có nhà, ông
rời khỏi địa phương từ năm 1982.
Không đồng tình với quyết định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-UBND ngày
22/12/2021 nêu trên, ông tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện
Đ. Tại quyết định giải quyết khiếu nại số 219/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm
2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, Chủ tịch Ủy ban nhân huyện Đ công
nhận và vẫn giữ nguyên nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã Đ khi cho rằng Ủy ban nhân dân xã Đ không ký xác nhận
vào phiếu 05/ĐK ngày 11/5/2020 là đúng.Nhận thấy cả hai Quyết định số 02/QĐ-
UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ và Quyết định số 219/QĐ-UBND của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ đã từ chối thừa nhận nguồn gốc nhà đất của
cha mẹ chúng ông tạo lập và sinh sống ổn định từ những năm 1956 là hoàn toàn
sai trái với các quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ. Đây là thửa đất
do cha mẹ chúng ông tạo lập, đã có nhà và sinh sống ổn định từ những năm 1956
nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Vì vậy,
gia đình ông T hoàn toàn đủ điều kiện xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất 562a, loại đất ở là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai
qua các thời kỳ.
Do đó nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Huỷ Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan T, hiện ở tại số A
đường D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng;
- Huỷ Quyết định số 219/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan T, địa chỉ số A đường
D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng (lần hai).
Đôi với yêu cầu của người khởi kiện: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện
4
tích 370,8m
2
, loại đất ở tại thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cho hộ gia
đình ông Phan T (gồm ông Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan
Thế V2, ông Phan T4) theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà người khởi
kiện thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện
tích theo Mảnh trích đo địa chính năm 2023 duyệt ngày 18/9/2023 của Văn phòng
Đ thì diện tích theo hiện trạng của thửa đất ông Phan T khởi kiện là 415,5 m²,
trong đó có 211,9 m² nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông, loại đất ở nông
thôn, tại thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cho hộ gia đình ông Phan T
(gồm ông Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan Thế V2, ông Phan
T4).
Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án, ngưi bị kiện Ủy ban nhân dân
huyện Đ và ngưi bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp ca ngưi bị kiện trình bày:
Chủ tịch UBND huyện Đ giữ nguyên quan điểm theo nội dung Quyết định
số 219/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải
quyết nại.
Ủy ban nhân dân huyện Đ không đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích 370,8m
2
, loại đất ở
tại thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cho hộ gia đình ông Phan T (gồm ông
Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan Thế V2, ông Phan T4).
Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án, ngưi bị kiện Ch tịch Ủy ban nhân
dân xã Đ, huyện Đ và ngưi bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp ca ngưi bị kiện
trình bày:
Sau khi nhận được đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11 thì ngày 27/9/2018 UBND xã đã xác minh 7 hộ
trong đó có ông Nguyễn R xác nhận từ năm 1982 gia đình ông T đã đi kinh tế mới
nên thửa đất này được HTX Đ1 chia để nhân giống thổ mạ, theo UBND xã Đ xác
minh năm 1982 gia đình ông T đã dỡ nhà đi khỏi địa phương không còn ở trên đất
này. Theo hồ sơ kê khai theo Nghị định 64/CP thì đây là thửa đất 562a, tờ bản đồ
số 11, diện tích 370,8m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, đất do UBND xã quản lý.
UBND xã đã họp xét nguồn gốc đất và hội đồng đã thống nhất hiện trạng thửa đất
do ông Nguyễn R đang trồng chuối, ông T đã rời khỏi địa phương không trực tiếp
sản xuất trên thửa đất này nên không thống nhất cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Phan Triệu .
Do đó, Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan T là đảm bảo đúng
quy định của pháp luật.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 128/2024/HC-ST ngày 17/8/2024 ca
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 115, khoản 2 Điều 116,
điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 21 Luật đất đai năm
5
1993; Điều 100; Điều 101; Điều 132 của Luật đất đai năm 2013; Điều 18, Điều
19, Điều 20, Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng
dẫn thi hành luật đất đai; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan T về yêu cầu:
- Huỷ Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan T, hiện ở tại số A
đường D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng.
- Huỷ Quyết định số 219/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan T, địa chỉ số A đường
D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng (lần hai).
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích diện tích Theo Mảnh trích đo
địa chính năm 2023 duyệt ngày 18/9/2023 của Văn phòng Đ thì diện tích theo
hiện trạng của thửa đất ông Phan T khởi kiện là 415,5 m², loại đất ở, trong đó có
211,9 m² nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông cho hộ gia đình ông Phan T
(gồm ông Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan Thế V2, ông Phan
T4).
Kiến nghị UBND xã Đ và Ủy ban nhân dân huyện Đ đưa ra khỏi danh sách
đất công ích, xác lập hồ sơ đăng ký, xin cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu đối với thửa
đất số 562A (562a), tờ bản đồ số 11, trong đó có diện tích Theo Mảnh trích đo địa
chính năm 2023 duyệt ngày 18/9/2023 của Văn phòng Đ thì diện tích theo hiện
trạng của thửa đất hộ ông Phan T khởi kiện là 415,5 m², loại đất ở, trong đó có
211,9 m² nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông. Kèm theo Mảnh trích đo bản
đồ địa chính do Văn phòng Đ xác lập ngày 18/9/2023.
(Diện tích đất được cấp theo Mảnh trích đo địa chính năm 2023 duyệt ngày
18/9/2023 của Văn phòng Đ).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng
cáo theo quy định.
Ngày 4/10/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam nhận đơn kháng cáo
của người bị kiện: UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ, kháng cáo toàn bộ
Bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo
hường bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Ngày 28/8/2024, Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 23/QĐ-VKS-HC 4
của VTVKSND tỉnh Quảng Nam: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ
thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, tại
phiên toà phúc thẩm:
6
Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các
quy định của Luật tố tụng hành chính trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ
nguyên quyết định kháng nghị số 23/QĐ-VKS-KC ngày 28/8/2024 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 41 Luật tố tụng hành chính: Chấp nhận kháng nghị
số 23/QĐ-VKS-HC của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và
kháng cáo của người bị kiện: Chủ tịch UBND và UBND huyện Đ, tỉnh Quảng
Nam, sửa Bản án sơ thẩm, xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Triệu
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại
phiên toà, xem xét quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
định như sau:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện không rút đơn khởi
kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên Kháng
nghị số 23/QĐ-VKS-HC ngày 28/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Nam. Đơn kháng cáo của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan
Triệu .
[2] Về nội dung kháng cáo của người bị kiện và nội dung kháng nghị của
Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ
thẩm, theo huớng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Xét nội
dung kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc quá trình đăng ký kê khai, quản lý sử dụng đối
với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích 415,5 m², hộ gia đình ông T đang
khiếu nại, khiếu kiện thể hiện:
Theo hồ sơ vụ án thể hiện cũng như trình bày của hộ gia đình ông T tại
phiên Tòa xét xử ngày 17/8/2024 cũng như tại phiên toà phúc thẩm, hộ gia đình
ông T quản lý sử dụng thửa đất nêu trên từ năm 1956 đến năm năm 1982 nhưng
không đăng ký kê khai qua các thời kỳ thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước.
Theo hồ sơ kê khai theo Nghị định 64/CP tại trang 114 Sổ đăng ký
ruộng đất thì đây là thửa đất 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích 2.210 m² loại đất
trồng cây lâu năm; Tên chủ sử dụng đất: Đất công ích do UBND xã Đ quản lý.
Tại tờ bản đồ số 11, trang 115 thể hiện: thửa đất 562a, tờ bản đồ số 11,
diện tích 2.210 m² loại đất trồng cây lâu năm; Tên chủ sử dụng đất: UBND xã.
[2.2] Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đáng gia chứng cứ một cách
khách quan toàn diện vụ án về quá trình kê khai, đăng ký, quản lý sử dụng đối với
thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích 415,5m
2
, cụ thể:
7
Từ 1982 đến nay, các thành viện hộ gia đình ông Phan T không sử dụng
đất liên tục, ổn định, lâu dài và không đăng ký kê khai đất đai qua các thời kỳ,
không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước. Việc Toà án cấp sơ thẩm
cho rằng, ông Phan T cho ông Nguyễn R1 trực tiếp quản lý đất từ 1982 đến nay
để khẳng định thửa đất vẫn được sử dụng “ổn định, liên tục” là không có căn cứ,
bởi lẽ: trong quá trình canh tác, ông Nguyễn R1 cũng không nộp thuế sử dụng đất
hay đăng ký kê khai đất đai với cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định của
pháp luật.
[2.3] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2023 của Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Nam đối với thửa đất 562a, tờ bản đồ số 11, tại xã Đ,
huyện Đ ghi nhận: hiện trạng trên đất toàn bộ thửa đất có trồng cây chuối do ông
Nguyễn Ry T5; có 02 cây cau có quả; ngoài ra không ghi nhận gì hết; không có
tài sản nào khác.
Do vậy, có thể khẳng định nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng thửa
đất nêu trên của hộ ông Phan T sử dụng từ năm 1956 đến năm 1982; từ năm 1982
đến nay (hơn 40 năm) gia đình ông T không quản lý sử dụng ổn định liên tục,
không đăng ký kê khai qua các thời kỳ; không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đối
với nhà nước; hiện thửa đất thuộc đất công ích do UBND xã Đ quản lý và một
phần diện tích đất nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông; ông T không có một
trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013;
chưa được UBND xã Đ xác định nguồn gốc đất. Hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất
lần đầu chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài
sản gắn liền với đất, cấp Giấy CNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất: “Người sử dụng
đất nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định để làm thủ tục đăng ký".
Đồng thời, theo quy định khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T7 quy định về hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục
đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất lần đầu.
Vì vậy, ngày 22/12/2021 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết
định giải quyết khiếu nại số 02/QĐ-UBND có nội dung không xác nhận vào Phiếu
05/ĐK ngày 11/5/2020 lấy ý kiến của khu dân cư thôn Q về nguồn gốc đất và thời
điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích 370,8m² để
lập hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ ở cho ông Phan T và Chủ tịch UBND huyện Đ công
nhận và giữ nguyên nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND
xã Đ tại Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của UBND xã Đ về việc
giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan T (hiện trú tại số A, đường D, phường M,
quận N, thành phố Đà Nẵng). UBND xã Đ không ký xác nhận vào Phiếu 05/ĐK
ngày 11/5/2020 là đúng quy định pháp luật.
[3] Như đã phân tích nêu trên, không có cơ sở để buộc Ủy ban nhân
dân huyện Đ cấp Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện
8
tích 415,5 m², loại đất ở tại thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cho hộ gia
đình ông Phan T (gồm ông Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan
T6) theo đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm
thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Phan T là chưa khách quan, toàn diện, chưa có căn cứ. Kháng cáo của người bị
kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ
thẩm theo hướng bác toàn bộ đơn khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ nên
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, cấp
phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại nghĩa
vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 348 Luật tố tụng hành chính và
Điều 32 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuy nhiên, ông Phan T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn
theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 41 Luật tố tụng hành chính: Chấp nhận kháng
nghị số 23/QĐ-VKS-HC ngày 28/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Nam và kháng cáo của người bị kiện: Chủ tịch UBND và UBND
huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 115, khoản 2 Điều 116,
điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 100; Điều 101 của
Luật đất đai năm 2013; Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
hướng dẫn thi hành luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan T về yêu cầu:
- Huỷ Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan T, hiện ở tại số A
đường D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng.
- Huỷ Quyết định số 219/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan T, địa chỉ số A đường
D, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng (lần hai).
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 562a, tờ bản đồ số 11, diện tích diện tích Theo Mảnh trích đo
địa chính năm 2023 duyệt ngày 18/9/2023 của Văn phòng Đ thì diện tích theo
hiện trạng của thửa đất ông Phan T khởi kiện là 415,5 m², loại đất ở, trong đó có
9
211,9 m² nằm trong quy hoạch hệ thống giao thông cho hộ gia đình ông Phan T
(gồm ông Phan Đình B, ông Phan T, bà Phan Thị H1, ông Phan Thế V2, ông Phan
T4).
[2] Án phí:
[2.1]Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ và Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Nam
không phải chịu án phí sơ thẩm hành chính.
- Chủ tịch UBND xã Đ, huyện Đ không phải chịu án phí hành chính
sơ thẩm.
- Ông Phan T được miễn án phí sơ thẩm hành chính.
[2.2] Về án phí phúc thẩm hành chính:
- UBND huyện Đ và Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Nam
không phải chịu án phí phúc thẩm hành chính. Do vậy được hoàn lại số tiền tạm
ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000260 và
số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000261 cùng
ngày 11/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Cường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm