Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 30/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - VĨNH LONG
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chí Điền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Khuôl.
2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.
- Thư phiên a: Ông Huỳnh Minh Trí - Thư Tòa án nhân dân khu
vực 12 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh
Long tiến hành xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
88/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28
tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNngày
12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ch Trn Th D, sinh năm 1980 (vắng có đơn).
Địa ch: p X, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
- B đơn: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1986 (vắng mt).
Địa chỉ: Ấp X, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện (BL 04) trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần
Thị D trình bày: Chị với anh Huỳnh Văn L chung sống với nhau vào năm 2005
đăng kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân N, huyện C, tỉnh T nay
P, tỉnh V (BL 07). Qtrình chung sống 02 con chung tên Huỳnh Cẩm Y,
sinh năm 2006 đã trưởng thành và Huỳnh Trần P, sinh năm 2017 hiện đang do chị
nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, tính
tình không hợp, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân
không đạt được. Anh L quen người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm chăm
sóc gia đình, bỏ mặc vợ con chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng Anh L vẫn không
2
sửa đổi. Vì vậy hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay. Nay xác
định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với Anh L.
Về con chung: Con chung tên Huỳnh Cẩm Y, sinh năm 2006 đã trưởng
thành nên chị không yêu cầu giải quyết; Đối với con chung tên Huỳnh Trần P, sinh
năm 2017 thì chị yêu cầu được nuôi dưỡng không yêu cầu Anh L phải cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không tranh chấp với Anh L.
Về nợ chung: Chị không tranh chấp với Anh L.
Anh Huỳnh Văn L vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Cháu Huỳnh Trần P đơn xin giải quyết vắng mặt lời khai như sau
(BL 25-26): Huỳnh Trần P con chung của anh Huỳnh n L và chị Trần Thị D.
Nếu cha mly hôn thì Huỳnh Trần P nguyện vọng được sống với mTrần
Thị D.
Tại phiên tòa:
Tất cả các đương sự vắng mặt, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào
mới và cũng không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai tham gia tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long phát biểu quan
điểm:
Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết ván của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.
Việc chấp hành của người tham gia ttụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành
đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn không chấp
hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện
kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D.
Cho chị D được ly hôn với Anh L. Về con chung: Do con chung tên Huỳnh Cẩm
Y, sinh năm 2006 đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét giải quyết; Giao con
chung tên Huỳnh Trần P, sinh năm 2017 cho chị D nuôi dưỡng Anh L không
phải cấp dưỡng nuôi con, đây cũng phù hợp với ý chí, nguyện vọng của Huỳnh
Trần P muốn được sống với mẹ. Về chia tài sản chung: Chị D không tranh chấp
với Anh L nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị D không tranh
chấp với Anh L nên đề nghị không xem xét giải quyết. Ngoài ra, n đề nghị Hội
đồng xét xử xử lý về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi
kiện, lời trình bày của đương sự các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác
định quan hệ pháp luật vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy
định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Huỳnh
Văn L địa chỉ cư trú tại xã P, tỉnh V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
3
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều
35 điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông
báo về việc thụ vụ án các văn bản tố tụng khác cho anh Huỳnh Văn L được
cha ruột và mẹ ruột của Anh L ông Huỳnh Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị P nhận
đã thông báo lại cho Anh L biết. Tuy nhiên Anh L vẫn vắng mặt tại phiên tòa
hôm nay lần thứ hai chị Trần Thị D đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt
nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt chị D và Anh L.
[3] Về nội dung:
Xét thấy, theo lời khai của chị Trần Thị D hồ thể hiện chị anh
Huỳnh Văn L chung sống với nhau vào năm 2005 đăng kết hôn vào năm
2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp (BL 07).
Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình
không hợp, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không
đạt được. Anh L quen người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm chăm sóc gia
đình, bỏ mặc vợ con chị D đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng Anh L vẫn không sửa
đổi. Vì vậy hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay.
Tòa án tiến hành xác minh đối với Nguyễn Thị P mẹ ruột của Anh L
thì được biết: …Việc chị D yêu cầu ly hôn thì theo P cho biết chị D nghi
ngờ Anh L người phụ nữ khác, chị D Anh L hiện nay đã sống ly thân với nhau
từ tháng 11/2024 đến nay. Phía gia đình bà P cũng đã động viên giải thích cho Anh
L và chị D đoàn tụ, sống chung với nhau nhưng không thành. Hiện nay Anh L đi
làm ở Thành phố Hồ Chí Minh và thỉnh thoảng có liên lạc v gia đình để hỏi thăm,
còn hiện nay chị D sống và làm việc ở đâu thì P không rõ…Về mối quan hệ hôn
nhân giữa chị D và Anh L thì bà cũng đồng ý cho ly hôn vì mối mâu thuẫn giữa chị
D Anh L trong hôn nhân không thể vận động đoàn tụ được, mỗi đứa một nơi.
Chị D hiện nay cũng không có về thăm gia đình bà P và mất liên lạc với nhau” (BL
35-36).
Tòa án tiến hành xác minh đối với chính quyền địa phương nơi tcủa
chị D Anh L chung sống trước đây thì được biết “…Mâu thuẫn gia chị D
Anh L thì địa phương không nắm rõ. Tuy nhiên qua tiếp xúc với gia đình của Anh
L mruột là Nguyễn Thị P thì P trình bày cho chính quyền địa phương
biết rằng Anh L chị D đã sống ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay. Nguyên
nhân là do chị D cho rằng Anh L người phụ nữ bên ngoài không lo kinh tế
gia đình. Nếu chị D kiên quyết ly hôn thì chính quyền địa phương cũng đồng ý
không thể vận động đoàn tụ và hòa giải với nhau được” (BL 33-34).
Tòa án đã nhiều lần mời chị D Anh L đến Tòa án để hòa giải nhằm động
viên hàn gắn gia đình nhưng Anh L đều vắng mặt không rõ lý do. Vấn đề này thấy
rằng Anh L đã bỏ mặc hôn nhân của mình tình trạng hôn nhân giữa chị D
Anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân
Gia đình năm 2014 Nghị quyết s01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội
4
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử sẽ xem xét việc yêu cầu
ly hôn của chị D đối với Anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống chị D Anh L có 02 người con chung
tên Huỳnh Cẩm Y, sinh năm 2006 đã trưởng thành Huỳnh Trần P, sinh năm
2017. Quá trình tố tụng do con chung tên Huỳnh Cẩm Y đã trưởng thành nên chị D
không yêu cầu giải quyết, còn con chung Huỳnh Trần P thì chị D yêu cầu được tiếp
tục nuôi dưỡng. Vấn đề này thấy rằng, từ trước đến nay cháu Huỳnh Trần P do chị
D nuôi dưỡng nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt. Hơn nữa cháu
Huỳnh Trần P có lời khai là nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống
với mẹ. vậy Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao cháu Huỳnh Trần P cho chị D
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phợp với ý chí, nguyện vọng của
cháu Huỳnh Trần Pphù hợp với quy định pháp luật.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh
Huỳnh Văn L n Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về chia tài sản chung: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh Huỳnh Văn
L nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh Huỳnh Văn L nên
Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình thẩm
theo quy định.
Dành cho anh Huỳnh Văn L một vụ kiện khác để yêu cầu thay đổi người
nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung với chị Trần Thị D khi
yêu cầu.
[4] Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
tòa phù hợp với nhận định của Tòa án các tài liệu chứng cứ khác có trong h
sơ vụ án nên được chấp nhận.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228 khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 83 Luật Hôn nhân Gia đình năm
2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D. Cho chị Trần Thị D được
ly hôn với anh Huỳnh Văn L.
5
Về con chung: Do con chung tên Huỳnh Cẩm Y, sinh năm 2006 đã trưởng
thành nên Tòa án không xem xét giải quyết. Giao con chung tên Huỳnh Trần P,
sinh năm 2017 cho chị Trần Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo
dục. Đây cũng là phù hợp với ý chí, nguyện vọng của cháu Huỳnh Trần P.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh
Huỳnh Văn Ln Tòa án không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh Huỳnh Văn
L nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trần Thị D không tranh chấp với anh Huỳnh Văn L nên
Tòa án không xem xét giải quyết.
Dành cho anh Huỳnh Văn L một vụ kiện khác để yêu cầu thay đổi người
nuôi con sau khi ly hôn, chia tài sản chung nợ chung với chị Trần Thị D khi
yêu cầu.
Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân
thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0009057 ngày 14/4/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 12 - Vĩnh Long. Chị Trần Thị D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ
thẩm.
Chị Trần Thị D anh Huỳnh Văn L được kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án,
người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9
Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Viện KSND khu vực 12 - Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dương Chí Điền
Tải về
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất