Bản án số 30/2022/HNGĐ-PT ngày 20/12/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2022/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 30/2022/HNGĐ-PT ngày 20/12/2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 30/2022/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/12/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn giữ ông Nguyễn Văn Đ với bà Nguyễn Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH M ĐỒNG
Bản án số: 30/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 20-12-2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con, chia tài sản khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG A HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TỈNH M ĐNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Thành Tâm
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Nhàn Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2022/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 11
năm 2022 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 113/2022/HNGĐ-ST ngày
23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/QĐ-PT ngày 30/11/2022 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967.
Địa ch: thôn H, xã N, huyn L, tỉnh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật Dương
Đình N Văn phòng luật Dương Đình N Thuộc Đoàn luật tỉnh Lâm
Đồng; địa chỉ: Số S N, tổ H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Bà Nguyn Th H, sinh năm 1971.
Địa ch: thôn H, xã N, huyn L, tỉnh Lâm Đồng.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C; Địa chỉ: Tòa nhà
C5 khu bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Nội. Người đại diện theo
2
pháp luật: Ông Dương Quyết T Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo
ủy quyền: Bà Chắng Khánh Quỳnh L Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch
ngân hàng Chính sách hội huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Theo quyết định số
7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng chính sách
hội Việt Nam, quyết định số 111/QĐ-NHCS ngày 09/9/2020 của Giám đốc
Phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ:
Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H Bị đơn.
(Ông Đ, bà H, ông Nam có mặt; Ngân hàng C vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo nội dung đơn xin ly hôn, lời trình bày của người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thì:
V quan h hôn nhân: Năm 1989, ông Nguyễn Văn Đ Nguyn Th H
xây dựng gia đình với nhau trên sở t nguyn, t chc l i theo phong
tc truyn thống, đăng kết hôn vi nhau ngày 04/11/1989 ti y ban nhân
dân T, huyn B, tnh Hải Dương. Sau khi kết hôn v chng ông Đ, H sinh
sống, làm ăn tại T, huyn B, tnh Hải Dương. Đến năm 1998, vợ chng ông Đ,
H chuyn v sinh sống, làm ăn tại thôn H, N, huyn L, tỉnh Lâm Đồng.
Quá trình sng chung v chng hòa thun, hạnh phúc. Đến năm 2015 thì phát
sinh mâu thun. Nguyên nhân là do gia v chng có quá nhiu s khác bit, bt
đồng v tính cách, li sống quan điểm sng. V chồng không tìm được tiếng
nói chung, khong cách gia v chng ngày càng nhiều. Không khí gia đình lúc
nào cũng trong tình trạng căng thẳng, mt mi. Mc dù, v chng ông Đ, H
đã nhiều ln nói chuyn với nhau để gii quyết mâu thun, hàn gn li tình cm
v chồng nhưng đều không kết quả. Đến nay mâu thun v chồng đã trầm
trng, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Đ xác định không còn tình cm
vi H, v chng không th tiếp tc chung sng vi nhau nên ông Đ yêu cu
Tòa án nhân dân huyn L gii quyết cho ông Đ và bà H đưc ly hôn.
V con chung: V chng 03 con chung Nguyn Th T, sinh ngày
09/03/1993; Nguyn Th Thu H, sinh ngày 03/8/2000 Nguyễn Phương Nam,
sinh ngày 23/6/2009. Con chung Nguyn Th T và Nguyn Th Thu H đã đủ tui
trưởng thành vi ai do con chung t quyết định. Ông đồng ý giao con chung
Nguyễn Phương N cho H nuôi dưỡng, ông t nguyn cấp dưỡng nuôi con
2.000.000 đồng/ tháng.
V tài sn chung gm: Diện tích 5805m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa
đất số 124, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại thôn H, N, huyện L, tỉnh Lâm
Đồngvà tài sản gắn liền với đất gồm 01 căn nhà xây cấp 4 diện tích 40,48m
2
;
3
01 nhà bếp diện tích 19,6m
2
; 01 mái vòm diện tích 17,5m
2
; 01 hthống
nước năng lượng mặt trời gồm bồn nước inox dung ch 1000 lít hiệu Đại
Thành, bình năng lượng mặt trời dung tích 140 lít hiệu NaKoRo; 100 cây cà phê
kinh doanh; 200 cây thanh long. Thửa đất này đã được UBND huyện Lâm
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 283023 ngày 15/10/2001 cập
nhật tại trang IV ngày 29/8/2018 về việc đứng tên người sử dụng đất ông
Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn ThH.
Diện tích 340m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 359, tờ bản đồ số
31 tọa lạc tại KP C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Thửa đất này đã được
UBND huyện Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 818621
ngày 09/8/2007 đứng tên người sử dụng đất ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị
H.
Diện tích 3318m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số TĐ 02, tờ bản đồ
số: Mảnh trích đo 04/2019 tọa lạc tại N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Thửa đt
này đã được UBND huyện Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 027618 ngày
15/10/2020 đứng tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị H tài sản gắn liền với đất
200 cây cà phê trồng 04 năm tuổi; 20 cây bơ trồng năm thứ 3.
Khi ly hôn, ông Đ yêu cầu Toà án xem xét giao cho ông Đ canh tác, quản
lý, sử dụng thửa đất số 359, tờ bản đồ số 31 tọa lạc tại KP C, thị trấn N, huyện
L, tỉnh Lâm Đồng thửa đất số 02, tờ bản đồ số: Mảnh trích đo 04/2019
tọa lạc tại xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và tài sản gắn liền với đất.
Ông Đ đồng ý giao cho H canh tác, quản lý, sử dụng thửa đất số 124, tờ
bản đồ số 19 tọa lạc tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồngvà tài sản gắn liền
với đất.
Đối với giá trị tài sản bà H nhận nhiều hơn ông Đ là 9.897.000 đồng thì ông
Đ không yêu cầu bà H thanh toán lại.
Về nchung: Vợ chồng ông Đ, bà H nợ Ngân hàng chính sách hội
huyện Lâm số tiền 20.000.000 đồng. Khi ly hôn, ông Đ đồng ý trả một
nửa số nợ gốc 10.000.000 đồng lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến
khi thanh toán xong nợ gốc.
2.Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: và ông Đ kết hôn với nhau năm 1989 trên sở
tự nguyện, đăng kết hôn tại y ban nhân dân T, huyn B, tnh Hi
Dương. Quá trình sống chung hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2007 thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Đ bài bạc, rượu chè, quan hệ bất chính với
4
người phụ nữ khác. Từ đó dẫn đến kinh tế gia đình sa sút. Nay, ông Đ xin ly
hôn, xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đồng ý ly hôn với
ông Đ.
Về tài sản chung: H xác định tài sản chung của vợ chồng bà như ông Đ
trình bày đúng. Tuy nhiên, không đồng ý chia tài sản chung như yêu cầu
của ông Đ. đồng ý giao cho ông Đ thửa đất diện tích 340m
2
, n các
thửa đất khác thì bà yêu cầu ông Đ n đi chia cho bà một nửa giá trị bằng tiền.
Về nợ chung: H xác định vchồng nợ Trần Thị Trúc, địa chỉ:
thôn Trâm Phúc, Thái Hòa, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương số tiền
700.000.000 đồng; nợ vợ chồng anh Nguyễn Viết Thành, chị Nguyễn Thị Thu,
địa chỉ: thôn Hoàn Kiếm 1, N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng số tiền
520.000.000 đồng; nợ chị Nguyễn Thị Thu H, địa chỉ: thôn Tiên Kiều, xả Bãi
Sậy, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên số tiền 480.000.000 đồng; nợ Ngân hàng
chính sách hội huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng số tiền 20.000.000 đồng.
Khi ly hôn, H yêu cầu chia đôi khoản nợ của ngân hàng chính sách hội
huyện Lâm Hà; còn khoản nợ của chị Trúc, vợ chồng anh Thành, chị T chị H
thì do ông Đ không thừa nhận là nợ chung và bà cũng không có chứng cứ chứng
minh nên để bà tự trả nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với những khoản
nợ này.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại bản án số 113/2022/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Văn Đ, xử cho ông Nguyễn
Văn Đ được ly hôn với bà Nguyễn ThH.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày
23/6/2009 cho bà Nguyn Th H trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi ỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con
2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng) đến khi con chung đtuổi trưởng thành theo
quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Giao cho ông Đ được quyền canh tác, sử dụng diện
tích 340m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 359, tờ bản đồ s31 tọa lạc
tại KP C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 3318m
2
đất trồng cây
lâu năm thuộc thửa đất số TĐ 02, tờ bản đồ số: Mảnh trích đo 04/2019 tọa lạc tại
xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và tài sản gắn liền với đất là 200 cây cà phê trồng
04 năm tuổi; 20 cây bơ trồng năm thứ 3 (có trích lục họa đồ thửa đất kèm theo).
Giao cho H được quyền canh tác, sử dụng diện tích 5805m
2
đất trồng
cây lâu năm thuộc thửa đất số 124, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại thôn H, N,
5
huyện L, tỉnh Lâm Đồngvà tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà xây cấp 4 có
diện tích 40,48m
2
; 01 nhà bếp diện tích 19,6m
2
; 01 mái vòm diện tích
17,5m
2
; 01 hệ thống nước năng lượng mặt trời gồm bồn nước inox dung tích
1000 lít hiệu Đại Thành, bình năng lượng mặt trời dung tích 140 lít hiệu
NaKoRo; 100 cây phê kinh doanh; 200 cây thanh long (có trích lục họa đồ
thửa đất kèm theo).
Các đương sự quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền đđăng
ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
4. Về nchung: Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho ngân hàng chính
sách hội huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng số tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền
lãi tính đến ngày 23/9/2022 36.986 đồng tiếp tục chịu lãi suất theo hợp
đồng tín dụng đã ký cho đến khi thi hành xong nợ gốc.
Buộc Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng C huyện L, tỉnh Lâm Đồng
số tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 23/9/2022 36.986 đồng
tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã cho đến khi thi hành xong
nợ gốc.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi ptố tụng, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 04/10/2022, Nguyễn ThH có đơn kháng cáo yêu cầu sửa một phần
bản án thẩm số 113/2022/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện Lâm theo hướng, giao toàn bộ tài sản cho ông Đ, ông Đ
nghĩa vụ thanh toán cho bà ½ giá trị tài sản chung.
Tại phiên tòa hôm nay, H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên
đơn ông Đ không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà H.
Ý kiến của Luật bảo vquyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Từ
năm 2021 cho đến nay thì ông Đ đã dọn ra ở trọ, còn bà H vẫn sinh sống tại căn
nhà cấp 4 trên thửa đất 124. Hiện nay điều kiện hoàn cảnh của ông Đ H
đều nhu cầu về nơi đất để canh tác nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu chia tài sản như yêu cầu của ông Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến vviệc chấp
hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên
toà hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Đồng thời nêu quan điểm đnghị HĐXX không chấp nhận
kháng cáo của bà Nguyễn Thị H. Căn cứ khoản 2, Điều 308 BLTTDS sửa bản
án thẩm về phần nợ chung, không buộc bà H trách nhiệm trả nợ cho Ngân
hàng C huyện L số tiền 10.000.000 đồng.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị H làm trong hạn luật
định, ngưới kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc theo quy định tại Điều
272, Điều 273, Điều 276 Bộ luật ttụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của bà H về phần tài sản chung thì thấy rằng:
[2.1.1] Vợ chồng ông Đ, H đều thống nhất xác định: Diện tích 5.805m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 124, tờ bản đồ số 19 tọa lạc thôn H,
N, huyện L; trị giá 2.834.517.000 đồng; diện tích 340m
2
đất trồng cây lâu năm
thuộc thửa đất s359, tbản đồ số 31 tọa lạc tại KP C, thị trấn N, huyện L; trị
giá 2.006.000.000 đồng và diện tích 3.318m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa
đất số TĐ 02, tờ bản đồ số: Mảnh trích đo 04/2019 tọa lạc xã N, huyện L; trị giá
818.620.000 đồng tài sản chung của vợ chồng.
[2.1.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ nhu cầu có chỗ ở, nhu cầu canh tác sử
dụng đất của vợ chồng chia cho các bên được nhận bằng hiện vật cụ thể như
sau: Giao cho ông Đ được quyền canh tác, sử dụng diện tích 340m
2
đất trồng
cây lâu năm thuộc thửa đất số 359, tờ bản đồ số 31 tọa lạc khu phố C, thị trấn N,
huyện L, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 3.318m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất
số 02, tờ bản đồ số: Mảnh trích đo 04/2019 tọa lạc tại N, huyện L, tỉnh
Lâm Đồng tài sản gắn liền với đất 200 cây phê trồng 04 năm tuổi; 20
cây bơ trồng năm thứ 3. Tổng giá trị tài sản ông Đ được nhận trị giá là
2.824.620.000 đồng. Giao cho H được quyền canh tác, sử dụng diện tích
5.805m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 124, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại
thôn H, N, huyện L, tỉnh Lâm Đồngtài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn
nhà xây cấp 4 có diện tích 40,48m
2
; 01 nhà bếp có diện tích 19,6m
2
; 01 mái vòm
diện tích 17,5m
2
; 01 hệ thống nước năng lượng mặt trời gồm bồn nước inox
dung tích 1000 lít hiệu Đại Thành, bình năng lượng mặt trời dung tích 140 lít
hiệu NaKoRo; 100 cây phê kinh doanh; 200 cây thanh long. Tổng giá trị tài
sản H được nhận 2.834.517.000 đồng. Tổng trị tài sản theo kết quả Thẩm
định giá H được nhận nhiều hơn ông Đ 9.897.000 đồng. Tuy nhiên, ông Đ
không yêu cầu H thanh toán lại gtrị tài sản chênh lệch nên Tòa án cấp sơ
thẩm không đặt ra để giải quyết là phù hợp.
Do đó, việc bà H kháng cáo đề nghị giao toàn bộ tài sản chung cho ông Đ
để ông Đ bán hết tài sản thanh toán lại cho ½ giá trị nkết quả Thẩm định
giá là không phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không có
7
cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà H, như ý kiến đề xuất của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa.
[2.2] Về n chung: Tòa án cấp thẩm buộc ông Nguyễn Văn Đ,
Nguyễn Thị H mỗi người phải trả cho Ngân hàng chính sách hội huyện Lâm
Hà số tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 23/9/2022 là 36.989 đồng
tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã cho đến khi thi hành xong
nợ gốc. Tuy nhiên, theo phiếu giao dịch ngày 04/10/2022 của Chi nhánh
NHCSXH tỉnh Lâm Đồng PGD huyện Lâm thể hiện Nguyễn Thị H đã
thanh toán số nợ gốc lãi cho ngân hàng theo quyết định của bản án thẩm
với tổng số tiền 10.128.220 đồng. Do vậy cần sửa bản án thẩm đối với phần
nợ chung theo hướng không buộc Nguyễn Thị H trả nợ cho Ngân hàng chính
sách xã hội huyện Lâm Hà số tiền nợ gốc và lãi, phần nợ gốc còn lại buộc ông Đ
phải có nghĩa vụ trả là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bản án
sơ thẩm về phần nợ chung.
[2.3] Về quan hệ hôn nhân, con chung các phần khác của bản án
thẩm: Sau khi xét xử thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát
không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa về phần nợ chung không liên quan
đến yêu cầu kháng cáo của bà H, nên bà H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng phí, án phí Tòa án của Ủy
ban thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị H. Sửa bản án
thẩm số 113/2022/HNGĐ-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện m
về phần nợ chung.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân, con chung các phần khác của bản án thẩm:
Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu
lực pháp luật.
8
2. Về tài sản chung: Giao cho ông Đ được quyền canh tác, sử dụng diện
tích 340m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 359, tờ bản đồ s31 tọa lạc
tại KP C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 3318m
2
đất trồng cây
lâu năm thuộc thửa đất số TĐ 02, tờ bản đồ số: Mảnh trích đo 04/2019 tọa lạc tại
xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và tài sản gắn liền với đất là 200 cây cà phê trồng
04 năm tuổi; 20 cây bơ trồng năm thứ 3 (có trích lục họa đồ thửa đất kèm theo).
Giao cho H được quyền canh tác, sử dụng diện tích 5805m
2
đất trồng
cây lâu năm thuộc thửa đất số 124, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại thôn H, N,
huyện L, tỉnh Lâm Đồngvà tài sản gắn liền với đất gồm: 01 căn nhà xây cấp 4 có
diện tích 40,48m
2
; 01 nhà bếp diện tích 19,6m
2
; 01 mái vòm diện tích
17,5m
2
; 01 hệ thống nước năng lượng mặt trời gồm bồn nước inox dung tích
1000 lít hiệu Đại Thành, bình năng lượng mặt trời dung tích 140 lít hiệu
NaKoRo; 100 cây phê kinh doanh; 200 cây thanh long (có trích lục họa đồ
thửa đất kèm theo).
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm
thủ tục theo quy định của pháp luật để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với phần tài sản được chia (Có trích lục họa đồ thửa đất kèm theo).
3. Về nợ chung: Buộc ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ trả cho Ngân hàng
chính sách hội huyện Lâm 10.000.000 đồng nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày
23/9/2022 36.986 đồng tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã
cho đến khi thi hành xong nợ gốc.
4. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 89.594.249 đồng (tám
mươi chín triệu chín trăm năm mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi chín đồng) tiền
án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 10.300.000 đồng (mười triệu ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0002741 ngày 29/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Lâm Hà. Buộc ông Đ phải nộp tiếp 79.294.249 đồng (bảy mươi chín triệu hai
trăm chín mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc H phải chịu 88.690.340 đồng (tám mươi tám triệu sáu trăm chín
mươi nghìn ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự thẩm
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ
vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí đã tạm ứng tại biên lai thu
số 0010775 ngày 14/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. H
còn phải nộp 88.690.340 đồng (tám mươi tám triệu sáu trăm chín mươi nghìn ba
trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
9
quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND H. Lâm Hà (02);
- Phòng KTNV&THA;
- Các đương sự (03);
- Lưu AV – HS (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Thị Vân
Tải về
Bản án số 30/2022/HNGĐ-PT Bản án số 30/2022/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất