Bản án số 30/2021/DS-ST ngày 24/12/2021 của TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2021/DS-ST ngày 24/12/2021 của TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tịnh Biên (TAND tỉnh An Giang)
Số hiệu: 30/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/12/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH A
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:
30/2021/DS-ST
Ngày: 24-12-2021
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Cù Minh Sâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Trần Thanh Hoàng;
2.Ông Nguyễn Thanh Thuần
Thư phiên tòa: Ông Thanh Hùng, Thư tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh A tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Phong - Kiểm sát viên;
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử
thẩm công khai vụ án thụ số: 150/2020/LTST-DS ngày 10/11/2020, về
việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định vụ án được đưa ra xét
xử số 92/2021/QDDXXST-DS ngày 02/11/2021 Quyết định hoãn phiên tòa
số 55/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T, địa chỉ:Số 266- 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
Phường 8, Quận 3, Thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn
Đức Thạch Diễm - Tổng Giám đốc. Người đại diện ủy quyền: Ông Trần Minh
Sơn- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng T - chi nhánh A, địa chỉ: số 333 Trần Hưng
Đạo, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh A (Theo Quyết định số
3977/2020/QĐ-PL ngày 28/12/2020). Ông Trần Minh Sơn ủy quyền lại cho ông
Nguyễn Văn C, sinh năm 1991- chức vụ: Phó phòng giao dịch T- chi nhánh A,
theo Giấy ủy quyền ngày 22/12/2021;
- Bị đơn: Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1976, địa chỉ: Khóm X, thị
trấn T, huyện T, tỉnh A;
2
Ông Nguyễn Văn C có mặt, bà Nguyễn Thị Thanh P vắng mắt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,cũng
như tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng T trình bày: Vào ngày 23/05/2020,
Nguyễn Thị Thanh P vay của Ngân hàng T số tiền vốn gốc 50.000.000 đồng,
theo Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476, ngày 23/5/2018,
mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh bán phê, thời hạn 184 ngày, lãi suất
24%/ năm.
Cho vay không tài sản đảm bảo. Bên được cấp tín dụng đồng ý không
hủy ngang điều kiện cho Sacombank được toàn quyền xử lý (hoặc chỉ định
bên thứ ba để xử lý) bất tài sản nào thuộc sở hữu của bên được cấp tín dụng
để thu hồi nợ trong trường hợp Bên được cấp tín dụng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ
nào theo hợp đồng này.
Trong quá trình vay, bà P đã thanh toán được số tiền vốn 5.295.800 đồng
số tiền lãi 493.500 đồng. Nhưng từ ngày 09/06/2018 đến hiện nay, bà P
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình cho Ngân hàng, việc này đã vi phạm
Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476, ngày 23/5/2018 đã ký.
Ngân hàng nhiều lần liên hệ làm việc nhưng không có kết quả.
Do đó, Ngân hàng T yêu cầu:
Nguyễn Thị Thanh P phải thanh toán số tiền vốn 44,704,200 đồng và
tiền lãi phát sinh 5,555,900 đồng, không yêu cầu tiền lãi phát sinh theo hợp
đồng tín dụng đã ký cho đến khi thi hành án xong các khoản nợ.
Bị đơn Nguyễn Thị Thanh P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng
vắng mặt không có lý do, nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ktừ khi thụ vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán: Được phân công thụ giải quyết vụ án đã thực hiện đúng
quy định của BLTTDS. Thẩm phán còn để quá thời hạn chuẩn bị xét xtheo
quy định tại điều 203 BLTTDS,
+ Hội đồng xét xử, Thư ký: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các
quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 74 BLTTDS.
3
- Về nội dung: Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nợ số 01038-00476 ngày
23/05/2018 được xác lập giữa Ngân hàng T - Chi nhánh A - PGD T với bà
Nguyễn Thị Thanh P trên sở tự nguyện, không trái pháp luật, nên làm phát
sinh quyền nghĩa vụ các bên. Tính từ lúc vay, bà Nguyễn Thị Thanh P đã
không thc hiện nghĩa vụ trả nợ mặc được Ngân hàng nhiều lần nhắc nợ.
vậy, bà Nguyễn Thị Thanh P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng
khởi kiện yêu cầu trả số tiền vốn 44.704.200 đồng và lãi 5,555,900 đồng là có
cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền: Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh
P trả số tiền đã vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476,
ngày 23/5/2018; Bà Nguyễn Thị Thanh P đang trú trên địa bàn huyện T; nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[1.2] Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị
Thanh P được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không do, nên xét
xử vắng mặt bà Tuyền theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân
sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số theo Hợp
đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476, ngày 23/5/2018, thời hạn vay
184 ngày, trả góp trả gốc và lãi hàng ngày. Bà Nguyễn Thị Thanh P đã vi phạm
hợp đồng từ ngày 09/6/2018, đến ngày 29/10/2020 Ngân hàng khởi kiện, nên
vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019, Điều 429 Bộ luật dân sự năm
2015 là 03 năm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét thấy, bà Nguyễn Thị Thanh P vay của Ngân hàng T - Chi
nhánh A - PGD T số tiền vốn gốc 44.704.200 đồng, theo Hợp đồng tín dụng
kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476, ngày 23/5/2018, thỏa thuận mục đích vay
bổ sung vốn kinh doanh quán phê, thời hạn 184 ngày, lãi suất 24%/năm
tương ứng với lãi suất tại thời điểm cho vay, theo P thức trả góp 304,700
4
đồng/ngày, số tiền trả cuối kỳ 288,900 đồng, k trả nợ đầu tiên vào ngày
24/5/2018; Trong quá trình thực hiện hợp đồng, P đã thực hiện trả vốn được
5.295.800 đồng và số tiền lãi 493.500 đồng; TP không tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ trả nợ vi phạm hợp đồng tín dụng nêu trên, tđó việc Ngân hàng
yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh P trả vốn 44.704.200 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Căn cứ Điều 5 của Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01206-
00062 ngày 30/11/2017 Phụ lục hợp đồng kèm theo thì lãi suất vay 24%/năm
tính trên số nợ thực tế, trường hợp chậm trả nợ gốc, bên được cấp tín dụng
phải chịu lãi suất qua hạn 150%/năm lãi suất trong hạn chịu lãi phạt
10%/năm đối với số trên lãi chậm trả. Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức
tín dụng ngày 17/6/2010 thì Tổ chức tín dụng khách hàng quyền thỏa
thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng theo quy định của pháp luật” và Thông s39/2016/TT-NHNN ngày
30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của Tổ
chức tín dụng đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Theo đó, P sẽ tiếp
tục chịu lãi theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01206-
00062 ngày 30/11/2017 và Phụ lục hợp đồng kèm theo đã ký kết cho đến khi thi
hành án xong tất cả các khoản nợ; Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Ngân hàng
chỉ yêu cầu trả mức lãi suất cố định không yêu cầu điều chỉnh lãi suất theo
Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận n số 01206-00062 ngày 30/11/2017 Phụ
lục hợp đồng kèm theo đã kết, xét lãi Ngân hàng yêu cầu không vượt mức đã
thỏa thuận, nên có cở sở xem xét chấp nhận.
[2.3] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng T.
[3] Về án phí: Nguyễn Thị Thanh P phải chịu toàn bộ án phí dân sự
sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 466 Bluật dân sự năm 2015; Điều 136, Điều 138,
Điều 144, Điều 147,Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019; khoản 2 Điều
91 Luật tổ chức tín dụng; Thông số 36/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của
Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
5
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của Ngân hàng T
Buộc bà Nguyễn Thị Thanh P trách nhiệm trả cho Ngân hàng T số tiền
còn nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01038-00476,
ngày 23/5/2018 vốn gốc 44.704.200 (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn
hai trăm đồng) và lãi là 5,555,900 (năm triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn chín
trăm đồng);
- Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 2.513.000 (Hai triệu năm trăm mười
ba ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;
- Hoàn trả cho Ngân hàng T số tiền 1.255.000 (một triệu hai trăm m
mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm Ngân hàng đã nộp
theo biên lai thu số TU/2019/0005882 ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện T;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng T có quyền kháng cáo
để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh A xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của Nguyễn Thị Thanh P 15 ngày, kể từ
ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKS nhân dân H. T (1);
- Tòa án nhân dân tỉnh A(1);
- Thi hành án DS H. T(1);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ (1),
- Lưu văn phòng (1).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cù Minh Sâm
6
Tải về
Bản án số 30/2021/DS-ST Bản án số 30/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất