Bản án số 3/2026/HC-ST ngày 15/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 3/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 3/2026/HC-ST ngày 15/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 3/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội giữa anh Nguyễn Duy T và Trưởng Công an xã Q, thành phố Đà Nẵng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 3/2026/HC-ST Bản án số 3/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 3/2026/HC-ST Bản án số 3/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG
Bản án số: 03/2026/HC-ST
Ngày: 15-5-2026
V/v: Khiếu kiện Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh, trật tự, an toàn xã hội
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Châu Thị Kim Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Hồng Hải;
2. Bà Trần Thị Xuân Tiên.
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm - Thư Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng tham gia
phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà
Nẵng xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 05/2025/TLST-HC ngày 18
tháng 11 năm 2025 về “Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 123/2026/QĐXXST-HC ngày 18 tháng 3 năm 2026 Quyết định
hoãn phiên tòa số 05/2026/QĐST-HC ngày 17/4/2026 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1987. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Nguyễn Thị S,
sinh năm 1982 (theo Giấy ủy quyền ngày 09/10/2025). Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: thôn P, xã Q, thành phố Đà Nẵng.
2. Người bị kiện: Trưởng Công an xã Q, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Tấn T1; chức vụ: Trưởng Công
an xã.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Phó
Trưởng Công an xã Q (theo Giấy ủy quyền ngày 25/11/2025). Vắng mặt
Cùng địa chỉ: thôn N, xã Q, thành phố Đà Nẵng.
2
3. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn T3, sinh năm 1959. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1989. Vắng mặt.
+ Ông Hứa Đình C, sinh năm 1965. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1965. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: thôn P, xã Q, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai đơn xin vắng mặt, người khởi kiện
-anh Nguyễn Duy T trình bày: xuất phát từ tranh chấp đất đai giữa gia đình ba
anh là ông Nguyễn T3 gia đình ông Nguyễn Văn T5, ông T3 đã yêu cầu ông
T5 tháo dỡ nhà, trả lại đất nhưng ông T5 không thực hiện. Vào ngày 29/6/2024,
dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn T3, em trai anh tên Nguyễn Văn T4, người
làm thuê tên Hứa Đình C và anh T đã thực hiện hành vi đập phá một bức tường
xây gạch, tháo dỡ một phần mái tôn gồm 05 miếng tôn dài, 02 tấm tôn ngắn của
gia đình ông Nguyễn Văn T5. Sau đó, Công an xã N đã mời ông T3, ông C, anh
T4 anh T xuống trụ sở làm việc, lấy lời khai. Đến ngày 06/10/2024, anh T
nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC của
Trưởng Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam cũ về hành vi cố ý làm hư hỏng tài
sản, mức phạt tiền 4.000.000 đồng. Anh T khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC của Trưởng Công an huyện N,
tỉnh Quảng Nam cũ vì những lý do sau:
+ Về trình tự, thủ tục: Công an huyện N đã không lập biên bản vi phạm
hành chính không giao biên bản vi phạm hành chính cho người vi phạm.
Ông Đỗ Viết H - Phó Trưởng Công an huyện Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính không có Quyết định thừa ủy quyền của Trưởng Công an huyện.
+ Về nội dung: Hành vi tháo dỡ tôn của anh không phải là hành vi vi
phạm hành chính mà là hành vi dân sự vì động cơ, mục đích không cố ý làm hư
hỏng tài sản. Gia đình anh đã nhiều lần trao đổi để ông T5 tháo dỡ nhà, trả lại
đất nhưng ông T5 không thực hiện. Gia đình anh tháo dỡ để thực hiện quyền sử
dụng đất hợp pháp. Cơ quan có thẩm quyền chưa xác định giá trị thiệt hại về tài
sản bị hỏng, chủ sở hữu tài sản. Việc áp dụng điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị
định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ để xử phạt anh là
không đúng quy định của pháp luật.
- Tại Công văn trả lời số 635/CAX-PCTP ngày 25/11/2025, quá trình
làm việc đơn xin vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện
trình bày: ngày 17/7/2024, Công an xã tiếp nhận đơn trình báo của ông Nguyễn
Văn T5 về việc ngôi nhà của ông bị người khác tự ý tháo dỡ, đập phá gây
hỏng tài sản. Tiếp nhận đơn trình báo, Công an tiến hành xác minh, kết quả
như sau: vào ngày 29/6/2024, ông T3, anh T, anh T4 ông C đem theo công
cụ gồm: búa, máy cắt gạch, máy khoan đến nhà của ông T5. Lúc này, ông T5
3
không mặt nhà, chỉ cháu của ông T5 nhà. Đến nhà của ông T5, ông
T3, anh T, anh T4 ông C sử dụng dây ni lông giăng để xác định ranh giới
ngay tại nhà của ông T5. Giăng xong, ông T3 ngồi phía trước nhà chỉ đạo
yêu cầu con trai mình ông C tiến hành tháo dỡ, đập phá tài sản nhà ông T5
theo dấu đã giăng dây. Anh T4 leo lên mái nhà dưới, anh T ông C dưới
đất, anh T4 dùng máy khoan tháo dỡ đinh, đưa tôn xuống cho anh T ông C
xếp tôn để bên hông nhà. Tiếp đến, anh T dùng máy cắt gạch cắt theo dấu đã đo
trước đó. Cắt xong, ông C dùng búa đập phá tường gạch, làm mảng tường bên
hông bể vỡ hỏng hoàn toàn. Sau khi đập phá tài sản của ông T5 xong, tất cả
về nhà. Đến chiều, những người trên quay lại dùng xi măng để đổ sáu trụ
tông ngay trên mảnh đất đã tháo dỡ trước đó. Hậu quả: tài sản thiệt hại gồm 07
tấm tôn bị tháo dỡ trong đó gồm 05 tấm có kích thước 4,1 mét x 1,1 mét và 02
tấm kích thước 2,4 mét x 1,1 mét, tường gạch bị đập phá khoảng 06 m
2
.
Theo Kết luận định giá số 10/KL-ĐGTS ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá
tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định giá trị thiệt hại là 1.844.500
đồng. Qua tra cứu nhân thân của ông Nguyễn T3, anh Nguyễn Duy T, anh
Nguyễn Văn T4 và ông Hứa Đình C xác định những người này chưa có tiền án,
tiền sự về hành vi liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Do đó, hành
vi ông Nguyễn T3, anh Nguyễn Duy T, anh Nguyễn Văn T4 ông Hứa Đình
C không cấu thành tội “Cố ý làm hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178
Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 19/9/2024, quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện N đã ra Quyết định không khởi tvụ án hình sự đối với nguồn tin
“Cố ý làm hỏng tài sản”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra
Công văn số 150/CV-ĐTTH ngày 20/9/2024 về việc chuyển hồ sơ cho Công an
xã N xử lý vi phạm hành chính. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Công an xã N xác định
hành vi của ông Nguyễn T3, anh Nguyễn Duy T, anh Nguyễn Văn T4 ông
Hứa Đình C đã vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15
Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống
tệ nạn hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực
gia đình. Hành vi trên có khung hình phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000
đồng. Những người nêu trên không tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi xử
hành chính. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của ông
Nguyễn T3, anh Nguyễn Duy T, anh Nguyễn Văn T4 ông Hứa Đình C
của Trưởng Công an huyện N. Ngày 04/10/2024, Công an N tham mưu cho
Trưởng Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-
XPHC đối với hành vi của anh Nguyễn Duy T.
Đối với yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-
XPHC ngày 04/10/2024 của anh Nguyễn Duy T về không lập biên bản vi phạm
và không giao biên bản cho người vi phạm, người bị kiện cho biết chuyển hồ sơ
vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Thông 28/2020/TT-
BCA về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố. Trong Quyết định x phạt vi phạm hành chính số
34/QĐ-XPHC ngày 04/10/2024 của Công an huyện N, Công an N tham
4
mưu căn cứ Quyết định về việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính số
1391/QĐ-GQXP ngày 27/9/2024.
- Tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Hứa Đình C trình bày: vào ngày 29/6/2024, ông được ông Nguyễn
T3 thuê đập phá nhà của ông T5. Ông đã nhận được Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính của Trưởng Công an huyện N đã chấp hành nộp phạt. Nay
ông không liên quan đến vụ kiện của anh Nguyễn Duy T. Ông đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật xin được vắng mặt trong quá trình
giải quyết vụ án.
- Tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Văn T5 trình bày: anh Nguyễn Duy T đã thực hiện hành vi
đập phá tài sản của gia đình ông nên Công an huyện N xử phạt hành chính đối
với anh T đúng. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
và xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn T3 anh
Nguyễn Văn T4: trong quá trình giải quyết vụ án ông T3, anh T4 không hợp
tác, cố tình không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối thoại mặc đã được Tòa án
tống đạt hợp lệ các văn bản ttụng theo quy định của pháp luật. vậy, ông
T3, anh T4 không ý kiến đối với yêu cầu khiếu kiện của người khởi kiện
vắng mặt tại các phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa thực hiện
đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Người
khởi kiện, người bị kiện, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Văn T5, ông Hứa Đình C đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình; người
đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện Nguyễn Thị S, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn T3 anh Nguyễn Văn T4 chưa thực hiện
đúng các quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 55 Điều 60
Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều
193 Luật Tố tụng hành chính, khoản 4 Điều 39, các Điều 54, 56, 57 58,
khoản 1, khoản 3 Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ
sung năm 2020; điểm a khoản 2 Điều 15 và khoản 4 Điều 69 Nghị định
144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn hội; phòng chống tệ nạn
xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình;
Điều 10 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định
chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều
21 Thông 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ C1 về trình tự, thủ tục
5
tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn
Duy T nơi cư trú tại thôn P, xã Q, thành phố Đà Nẵng. Anh T khởi kiện yêu
cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày
04/10/2024 của Trưởng Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam cũ, nay Trưởng
Công an Q, thành phố Đà Nẵng. vậy, quan hệ pháp luật giải quyết
“Khiếu kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,
trật tự, an toàn hội” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 6 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 115
Luật Tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa, người khởi kiện,
người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T5, ông
Hứa Đình C đơn xin xét xử vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của
người khởi kiện Nguyễn Thị S, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn T3, anh Nguyễn Văn T4 đã được triệu tập hợp l nhưng vắng mặt
không do. Do đó, Hội đồng xét xcăn cứ khoản 2 Điều 157 Điều 158
Luật Tố tụng hành chính tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.
[1.3]. Về thời hiệu khởi kiện: ngày 04/10/2024, Trưởng Công an huyện
N ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC. Ngày
21/3/2025, anh Nguyễn Duy T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân huyện Q cũ.
Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn cũ chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Nam cũ vào ngày 18/6/2025. Ngày 30/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Nam chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà
Nẵng để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo
quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện:
[2.1]. Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định:
Ngày 17/7/2024, ông Nguyễn Văn T5 đơn báo cáo về việc ông T3,
anh T, anh T4 ông C hành vi đập phá, tháo dỡ tài sản của ông T5. Tiếp
nhận tin báo, Công an xã N đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ: triệu tập
những người trên để làm việc, lấy lời khai, chụp ảnh hiện trường... Khi thấy có
dấu hiệu tội phạm, Công an xã N đã Phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm số
03/PC-CAX ngày 23/7/2024 cho quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N
6
cũ. Sau khi tiếp nhận, quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến
hành các biện pháp thu thập tài liệu về nhân thân, xác định chsở hữu tài sản,
yêu cầu định giá tài sản. Nhận được Kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS
ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N,
đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự, quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện N ban hành Quyết định không khởi tố vụ án số 207/QĐ-ĐTTH ngày
19/9/2024 chuyển hồ x vi phạm hành chính đúng quy định tại
khoản 1 Điều 63 Luật Xử vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung
năm 2020 Điều 21 Thông 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/20260 của bộ C1
về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đúng quy định
tại khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung
năm 2020.
[2.2]. Về thẩm quyền ban hành Quyết định:
Căn cứ khoản 4 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa
đổi bổ sung năm 2020 khoản 4 Điều 69 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày
31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh, trật tự, an toàn hội; phòng chống tệ nạn hội; phòng cháy, chữa
cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình, người thẩm quyền xử
phạt Trưởng Công an huyện. Căn cứ vào Điều 54 Luật Xử vi phạm hành
chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 Điều 10 Nghị Định
118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số
Điều biện pháp thi hành Luật Xử vi phạm hành chính, Trưởng Công an
huyện N đã ban hành Quyết định số 1391/QĐ-CAH(TM) ngày 27/9/2024 v
việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính cho ông Đỗ Viết H - Phó Trưởng
Công an huyện. vậy, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-
XPHC ngày 04/10/2024 của Trưởng Công an huyện N do ông Đỗ Viết H -
Phó Trưởng Công an huyện ký là đúng thẩm quyền.
[2.3]. Xét yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
34/QĐ-XPHC ngày 04/10/2024 của Trưởng Công an huyện N thì thấy:
- Về hành vi: tại các biên bản làm việc ông T3, ông C, anh T4, anh T đều
thừa nhận vào ngày 29/6/2024, ông T3, anh T, anh T4 và ông C đem theo công
cụ gồm: búa, máy cắt gạch, máy khoan đến nhà của ông T5. Lúc này, ông T5
không mặt nhà, chỉ cháu của ông T5 nhà. Đến nhà của ông T5, ông
T3, anh T, anh T4 ông C sử dụng dây ni lông giăng để xác định ranh giới
ngay tại nhà của ông T5. Giăng xong, ông T3 ngồi phía trước nhà chỉ đạo
yêu cầu con trai mình ông C tiến hành tháo dỡ, đập phá tài sản nhà ông T5
theo dấu đã giăng dây. Anh T4 leo lên mái nhà dưới, anh T ông C dưới
đất, anh T4 dùng máy khoan tháo dỡ đinh, đưa tôn xuống cho anh T ông C
xếp tôn để bên hông nhà. Tiếp đến, anh T dùng máy cắt gạch cắt theo dấu đã đo
trước đó. Cắt xong, ông C dùng búa đập phá tường gạch, làm mảng tường bên
hông bể vỡ hư hỏng hoàn toàn. Sau khi đập phá tài sản của ông T5 xong, tất cả
về nhà. Đến chiều, những người trên quay lại dùng xi măng để đổ sáu trụ
7
tông ngay trên mảnh đất đã tháo dtrước đó. Tại bản tự khai ngày 19/7/2024,
anh Nguyễn Duy T trình bày: “… Tôi nhận thấy sau khi thực hiện tháo gỡ
cắt 1 bức tường bằng gạch không khi không chủ nhà nhà là tôi sai do
đó tôi tự nguyện giao nộp cho Công an xã,…”.
- Về hậu quả: tài sản thiệt hại gồm 07 tấm tôn bị tháo dỡ gồm 05 tấm
kích thước 4,1 mét x 1,1 mét 02 tấm có kích thước 2,4 mét x 1,1 mét, tường
gạch bđập phá khoảng 06 m
2
. Theo Kết luận định giá số 10/KL-ĐGTS ngày
04/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định
giá trị thiệt hại là 1.844.500 đồng.
Việc anh T cho rằng tranh chấp giữa gia đình anh ông T5 tranh chấp dân
sự. Tuy nhiên, ông T3, anh T, anh T4 không tiến hành khởi kiện tranh chấp dân
sự tại Tòa án có thẩm quyền, mà tự ý tháo dỡ tôn, phá tường nhà của ông T5 đã
xâm phạm đến quyền quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp của ông T5. Ông T3,
anh T, anh T4ông C nhận thức hành vi của mình gây thiệt hại đến tài sản
của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản thiệt hại 1.844.500
đồng, dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
Hình sự năm 2015; đồng thời ông T3, anh T, anh T4 và ông C không có tiền án,
tiền sự về hành vi liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu tài sản, nên hành vi
trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định của
Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi nêu trên đã đủ yếu tố xử vi phạm hành
chính “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15
Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống
tệ nạn hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực
gia đình. Do đó, Trưởng Công an huyện N áp dụng khoản 2 Điều 15 Nghị định
144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 để xử phạt anh Nguyễn Duy T đúng với
tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xcăn cứ vào khoản 4 Điều 39,
các Điều 54, 56, 57 58; khoản 1, khoản 3 Điều 63 Luật Xử vi phạm hành
chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; điểm a khoản 2 Điều 15 và khoản
4 Điều 69 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
phòng chống tệ nạn hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng
chống bạo lực gia đình; Điều 10 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021
của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều biện pháp thi hành Luật Xử
vi phạm hành chính; Điều 21 Thông 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của
Bộ C1 về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy T về hủy
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày 04/10/2024 của
Trưởng Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam (nay Trưởng Công an Q,
thành phố Đà Nẵng).
[3]. Về án phí: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, người khởi
kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
8
[4]. Về quyền kháng cáo: các đương sự quyền làm đơn kháng cáo
theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, các Điều 115, 116, 157,
158, 168, 191, 193, 194, 204 206, 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1
Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; khoản 4 Điều 39, các Điều 54, 56, 57
và 58, khoản 1, khoản 3 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa
đổi bổ sung năm 2020; điểm a khoản 2 Điều 15 khoản 4 Điều 69 Nghị định
144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn hội; phòng chống tệ nạn
xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình;
Điều 10 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định
chi tiết một số Điều biện pháp thi hành Luật Xử vi phạm hành chính;
Điều 21 Thông tư 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ C1 về trình tự, thủ
tục tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy T đối với yêu cầu hủy
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày 04/10/2024 của
Trưởng Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam (nay Trưởng Công an Q,
thành phố Đà Nẵng).
2. Về án phí hành chính thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh
Nguyễn Duy T phải chịu, được trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án
số 0005523 ngày 14/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
3. Các đương squyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình
tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 6 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 6 - Đà Nẵng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Châu Thị Kim Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 3/2026/HC-ST Bản án số 3/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 3/2026/HC-ST Bản án số 3/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất