Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 17/01/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST ngày 17/01/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 29/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/01/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Trịnh Tiến T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
_____________
Bn án s: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/01/2023
V/v “Ly hôn, tranh chp v nuôi
con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Thị Bích Liên.
Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Th Huyn - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Hi Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 298/2022/TLST-
HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2022/QĐXXST-HNGĐ
ngày 14 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 253/2022/QĐST-
HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh ngày 18/02/1993.
ĐKHKTT: Khu H, th trn S, huyn S, tnh Hi Dương.
Chỗ ở hiện nay: Đội 5, thôn L, xã S1, huyện H1, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Trịnh Tiến T, sinh ngày 02/8/1988.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu H, thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang cư trú tại: Nhật Bản.
(Chị Y vắng mặt, đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt,
quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị và anh Trịnh Tiến T được tự do tìm
hiểu, tnguyện đăng kết hôn tại Uban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh
Hải Dương vào ngày 24/3/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau
2
tại gia đình nhà chồng, ngay từ thời gian đầu chung sống vợ chồng đã mâu thuẫn
về kinh tế, cuối năm 2016 anh T đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đó chị đang
mang thai không làm ăn được nên đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ khi sang Nhật Bản
anh rất ít liên lạc về cho chị, cũng như không gửi tiền về cho chị chăm sóc con
cái trang trải cuộc sống, anh không quan tâm đến mẹ con chị, vợ chồng
thường xuyên xảy ra cãi nhau mỗi khi anh T liên lạc về nhà. Nay, chị xác định
vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn anh Trịnh Tiến T.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung Trịnh Hùng K, sinh ngày
18/02/2017, hiện con đang với chị. Chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung cho đến khi con thành niên tự nguyện không yêu cầu anh T phải
cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hiện tại chị đang làm công nhân tại Công ty
may Tinh Lợi, thu nhập bình quân 8.000.000đ - 10.000.000/tháng, chị đảm bảo
đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung.
Về tài sản chung nợ chung: Chị xác định vchồng không nên chị
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị Y không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T nên Tòa án đã
tiến hành xác minh tại gia đình anh T. Thị T1 (là mẹ đanh T) trình bày:
không biết địa chỉ cụ thể của anh T nước ngoài nên không cung cấp cho
Tòa án được. Tuy nhiên anh T vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện
thoại, đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án trách nhiệm thông
báo cho anh T biết. Thông qua gia đình anh T trình bày anh muốn lại Nhật
Bản làm ăn thêm một thời gian nhưng chị Y không nhất trí nên vợ chồng bất
đồng quan điểm, trên thực tế vợ chồng sống xa cách mỗi người một nơi thời
gian đã lâu, bản thân chị Y không muốn sống tại gia đình nhà chồng nên đã về
nhà bố mẹ đ. Nay chị Y đơn xin ly hôn, anh không mong muốn nhưng chị
Y cương quyết xin ly hôn nên anh nhất trí. Anh T xác định vợ chồng 01 con
chung như chị Y trình bày là đúng, anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung cho
đến khi con thành niên tnguyện không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng tiền
nuôi con chung. Tuy nhiên, chị Y cũng nguyện vọng được nuôi con nên anh
nhất trí. Vchồng không có tài sản chung cũng như không có nợ chung nên anh
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị Y, anh T đăng ký kết
hôn sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được
một thời gian ngắn thì anh T đi lao động nước ngoài, chị Y không sống tại gia
đình nhà chồng về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng mỗi người một nơi. Nay chị
Y đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
3
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, T, Hội đồng xét xử
nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều
81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Trịnh Tiến T. Về con chung:
Giao con chung Trịnh Hùng K, sinh ngày 18/02/2017 cho chị Y chăm sóc, nuôi
dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con
chung. Chị Y phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y sinh sống Việt Nam, bị
đơn anh Trịnh Tiến T nơi trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại khu H, thị
trấn S, huyện S, tỉnh Hải Dương, hiện anh T đang lao động tại Nhật Bản. Do
vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Y không cung cấp được địa chỉ cụ thể của
anh T Nhật Bản. Tòa án đã đề nghị gia đình anh T cung cấp địa chỉ nhưng gia
đình không cung cấp được. Tòa án cũng tống đạt các văn bản tố tụng cho người
thân trong gia đình anh T gia đình đã thông báo cho anh T biết việc Tòa án
đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Y anh T, đồng thời Tòa án tiến hành
niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa lần thứ hai
chị Y vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thông qua gia đình anh T
quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ
luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự
theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yanh Trịnh Tiến T kết hôn
trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn S, huyện
S, tỉnh Hải Dương vào ngày 24/3/2016 hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết n
vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn,
chủ yếu mâu thuẫn về kinh tế. Năm 2016 anh T đi lao động tại Nhật Bản, chị
cũng chuyển vnhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng không quan tâm đến nhau thường
xuyên xảy ra cãi nhau mỗi khi anh T liên lạc về nhà. Nay, chị xác định tình cảm
vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trịnh
Tiến T. Thông qua gia đình anh T trình bày anh và gia đình đã khuyên bảo nhiều
lần, nhưng chị Y không nghe, vẫn cương quyết xin ly hôn nên anh nhất trí. Hi
đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y anh T đã trầm trọng,
4
mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện,
xử cho chị Y ly hôn anh T phù hợp với quy định tại Điều 51 56 Luật Hôn
nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Y anh Trịnh Tiến T có 01
con chung Trịnh Hùng K, sinh ngày 18/02/2017, hin con đang vi ch Y.
Ch Y anh T cùng thống nhất: chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung cho đến khi con thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, thỏa thuận của
anh chị phù hợp với thực tế phù hợp với các Điều 81, 82 83 Luật Hôn
nhân gia đình nên cần chấp nhận. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Y không
yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
[2.3] Vtài sản chung, nợ chung: Chị Y, anh T c định không nên Hội
đồng xét xkhông xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí dân sự thẩm về Hôn
nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51; 56; 81; 82 Điều 83 Luật n nhân gia đình; Điều
147 Bộ luật T tụng n sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tờng vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca chị Nguyễn Thị Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Trịnh Tiến
T.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn ThY trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trịnh Hùng K, sinh ngày 18/02/2017
cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhn sự tự nguyện của chY tạm
thời không yêu cầu anh T phi cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản tr.
3. Về tài sản, nợ chung: Không .
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự thẩm về Hôn nhân gia đình được đối trừ số tiền tạm ứng án
phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo biên lai thu số
AA/2021/0001720 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh
Hải Dương. Chị Y đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
5
Anh Trịnh Tiến T được quyn kngo bản án trong thời hạn 30 ngày k từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được nm yết theo quy đnh của pháp lut./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Hải
Dương;
- Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Tải về
Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST Bản án số 29/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất