Bản án số 29/2022/HNGĐ-ST ngày 17/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung vợ chồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2022/HNGĐ-ST ngày 17/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung vợ chồng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Mỹ Hào (TAND tỉnh Hưng Yên)
Số hiệu: 29/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/05/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MH
TỈNH HƯNG YÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 5 - 2022
"V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản chung vợ chồng"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MH - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Xuân Hùng - Cán bộ hưu trí.
Bà Vũ Thị Diệu Thúy - Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ
Thưphiên toà: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã MH, tỉnh
Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị MH, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên
toà: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị MH, tỉnh Hưng
Yên xét xthẩm công khai vụ án dân sự thẩm thụ số: 135/2022/TLST -
HNGĐ ngày 09/12/2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung vợ
chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày
22/4/2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Phạm Sỹ L, sinh ngày 15/8/1976 (Có mặt)
Tên gi khác: Phm S L, sinh ngày 15/8/1973.
Địa chỉ: Tổ dân phố , phường PCK, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
* Bị đơn: Chị Phan Thị N, sinh ngày 27/01/1979 ( mặt)
Tên gọi khác: + Phạm Thị N, sinh ngày: 27/01/1979.
+ Đặng Thị N, sinh ngày: 27/01/1975.
Địa chỉ: Tổ dân phố , phường PCK, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Phạm Thu L1, sinh ngày 28/12/2009 (vắng mặt)
- Bà Vũ Thị A, sinh năm: 1939 (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố , phường PCK, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Phạm Thị H, sinh ngày 08/8/1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường BS, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên
- Chị Phạm Thị Thu N, sinh ngày 31/7/1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn LT, xã LX, huyện YM, tỉnh Hưng Yên.
* Người làm chứng:
- Chị Lê Thị T, sinh năm: 1962 (vắng mặt)
- Anh Phạm Sỹ S, sinh năm: 1959 (vắng mặt)
2
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố , phường PCK, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
- Chị Lò Thị T1, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn HD,DQ, thị MH, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, anh Phạm Sỹ L trình bày: Anh và chị
Phan Thị N, sinh ngày 27/01/1979 vợ chồng, kết hôn trên sở hoàn toàn tự
nguyện được Uỷ ban nhân dân PCK (nay Uỷ ban nhân dân phường PCK)
cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/9/1995. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị N
và anh chưa đủ tuổi nên anh chị đều khai tăng thêm tuổi nhưng giữ nguyên ngày
sinh; anh khai tên Phạm Sỹ L, sinh ngày 15/8/1973 còn chị N khai tên Đặng
Thị N, sinh ngày 27/01/1975 để thực hiện thủ tục đăng kết hôn. Anh xác định
vợ anh chị N 03 tên là Phan Thị N, Đặng Thị N Phạm Thị N. Vchồng
chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do
chị N nghi ngờ anh quan hệ bất chính người phụ nkhác nên vợ chồng thường
xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh đã nhiều
lần giải thích, cố gắng để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng không thành, chị N
thể hiện sự không tin tưởng coi thường anh. Kể từ cuối năm 2021 anh chị sống
ly thân, vchồng tuy sống cùng nhà nhưng không quan hệ vợ chồng, việc của anh
người đó làm không quan tâm đến nhau. Đến nay anh xác định tình cảm vchồng
không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn nên đề nghị Toà
án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 03 con chung gồm: cháu Phạm Thị
H, sinh ngày 08/8/1998; cháu Phạm Thị Thu N, sinh ngày 31/7/1996; cháu Phạm
Thu L1, sinh ngày 28/12/2009. Hiện cháu H cháu N đều đã trưởng thành đã
lập gia đình nên anh tự nguyện không u cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu L1,
do cháu nguyện vọng với chị N nên anh đề nghTòa án giải quyết cho chị N
nuôi, anh trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho chN 1.000.000 đồng/1
tháng (cấp dưỡng định kng tháng) cho đến khi cháu L1 thành nn.
V tài sản chung: Anh c định vợ chồng có tài sn chung là 01 ngôi nhà 02 tầng
01 tum và tài sản sinh hoạt trong gia đình. Đối với tài sản sinh hoạt trong gia đình anh
tự nguyện không yêu cầu a án giải quyết. Anh yêu cầu Tán giải quyết chia đôi
i sản chung là ngôi nhà 2 tầng 01 tum cho anh chị mỗi người 1/2; anh đề nghị được
nhận bằng hiện vật s có trách nhiệm trphần tiền chênh lệch cho chN.
Về nợ, ruộng nông nghiệp, công sức: Vợ chồng anh không liên quan gì đến
nhau nên anh tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, đơn đnghị, chị Phan Thị N trình bày: Do khi đăng
kết hôn, chị anh L chưa đủ tuổi kết hôn nên anh chị đều khai tăng tuổi; chị
khai tên của chị Đặng Thị N sinh ngày 27/01/1975 còn anh L khai tên Phạm
Sỹ L, sinh ngày 15/8/1973 theo trình bày của anh L để đăng ký kết hôn và được Ủy
ban nhân dân xã PCK (nay là Ủy ban nhân dân phường PCK) cấp giấy chứng nhận
kết hôn ngày 27/9/1995 đúng. Chị xác định, chị anh L kết hôn hoàn toàn dựa
trên tình yêu. Chị xác định chị có 3 tên là Phan Thị N, Đặng Thị N Phạm Thị N
như trình bày của anh L. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến 2007 thì xảy ra mâu
3
thuẫn nguyên nhân do anh L thường xuyên vắng nhà để đi chơi với một người
phnữ nhưng chị không biết tên tuổi . Chị trao đổi với anh L khuyên
anh chấm dứt quan hệ để vợ chồng chung sống nuôi dạy con cái. Anh L nghe lời
khuyên của chị vợ chồng tiếp tục chung sống cùng nhau. Đầu năm 2021, chị bắt
gặp anh L nhắn tin yêu thương cho người phụ nữ tên ThT1, sinh năm 1996
(quê ở Yên Bái) trú tại thôn Phú Hữu, xã DQ, thị xã MH. Chị khuyên anh L tập
trung làm kinh tế gia đình, chăm sóc vợ con nhưng anh L không nghe, vẫn tiếp tục
nhắn tin u thương với người phụ nữ đó nên giữa anh chị xảy xát, đánh cãi
chửi nhau. Anh L đánh chị đập điện thoại hủy hết chứng cứ các tin nhắn nên
chị không thể cung cấp cho Tòa án. Anh L họp gia đình tuyên bố cắt đứt quan hệ
với chị, mọi người khuyên ngăn nhưng anh L không nghe, ttay viết giấy ly thân
với chị và thuê nhà ra cùng chị T1. Đầu tháng 12 năm 2021, anh L quay về sống
cùng nhà với chị nhưng lại họp gia đình tuyên bố không còn tình cảm với chị
làm đơn ly hôn. Chị xác định hiện nay anh chị tuy sống cùng nhà, nhưng việc của ai
người đó làm không quan tâm đến nhau; vợ chồng không còn nh cảm, chung sống
không hạnh phúc tuy nhiên chị vẫn mong muốn các con cả bố mẹ, các cháu
ông bà nên chị vẫn đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị đ
cho anh chị được vở với nhau.
Về con chung: Chị nhất tvới quan điểm của anh L về việc vợ chồng chị có 03
con chung cháu H, cháu N cháu L1 n trình y của anh L. Hiện cháu H
cháu N đều đã tởng thành và đã lập gia đình nên chị tự nguyện không yêu cầu T
án giải quyết. Hiện nay chị không thai. Trường hợp vợ chồng ly hôn, chmong
muốn được nuôi cháu L1nhất trí quan điểm của anh L cấp dưỡng nuôi con chung
cho chị 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu L1 đ18 tuổi. Tuy nhiên, chyêu
cầu anh L cấp dưỡng nuôi cu L1 một lần cho chị. Hiện chị đang làm công nhân
thu nhập khoảng 6.000.000đ/tng, chị thu nhập nơi ổn định đảm bảo để
nuôi cu L1.
V tài sản chung: Vợ chồng chị có tài sản chung ntrình y của anh L; gia
chị và anh L đã tự thỏa thuận phân chia xong nên chtự nguyn không yêu cầu a án
giải quyết. Về nợ, ruộng ng nghiệp, ng sức: giữa chvà anh L không liên quan
đến nhau n chị t nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, cháu Phạm Thu L1 trình bày: Trường hợp anh L chị
N ly hôn, cháu đề nghị Toà án giải quyết cho cháu được ở với mẹ. Cháu không liên
quan gì đến kinh tế của anh L chị N nên cháu tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải
quyết và cháu đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
Cháu Phạm Thị Thu N cháu Phạm Thị H trình bày: Quá trình chung sống
anh L, chị N xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh L tình cảm với người
phụ nữ khác thuê nhà ra ở riêng; gia đình đã khuyên can anh L nhiều lần nhưng
không được; anh L nóng tính, thường xuyên chửi bới chị N, đôi khi còn đánh chị
N. Tháng 12 năm 2021, anh L quay về chung sống cùng với chị N tuy nhiên hai
người lại sống ly thân, việc của ai người đó làm không quan tâm đến nhau. Đến
nay, các cháu đề nghị Tòa án giải quyết để anh L chị N về sống với nhau. Các cháu
không liên quan đến kinh tế, không liên quan đến công nợ với anh L chị N nên
các cháu đều tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4
Bà Thị A (là mẹ đẻ của anh L) trình bày: Anh L, chị N là vợ chồng
đăng kết hôn được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1995. Bà xác định chị
Phan Thị N sinh năm: 1979, Đặng Thị N sinh năm: 1975 và Phạm Thị N sinh năm
1979 đều cùng một người; anh Phạm SL sinh năm: 1976 1973 đều cùng
một người. Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn do chị N nghi ngờ anh
L có người phụ nữ khác. Mặc dù bà không được chứng kiến trực tiếp con trai bà
chung sống với người phụ nữ khác hay không, nhưng cũng đã khuyên bảo anh
L nếu thì cũng phải bỏ người phụ nữ đó để về chung sống cùng chị N nuôi
dạy các con; vchồng anh L thường xuyên cãi nhau khiến rất mệt mỏi. Tuy
nhiên anh L không thừa nhận việc có quan hệ với người phụ nữ khác như chị N nói
thuê nhà ra riêng. cũng như gia đình khuyên bảo, anh L quay về nhà sống
cùng chị N. Mặc sống cùng nhà, nhưng anh chị sống ly thân, không quan tâm
đến nhau, việc của ai người đó làm, nếu có nói chuyện với nhau thì cũng xảy ra i
vã, khuyên can nhưng không được. nhận thấy, trong suốt thời gian qua,
gia đình đã hàn gắn để anh chị vđoàn tụ, tuy nhiên anh L kiên quyết ly hôn,
chị N không có động thái nào thể hiện sự tôn trọng chồng thường xuyên có thái
độ coi thường chồng cũng như gia đình nhà chồng nên đề nghị Tòa án giải
quyết cho anh chị được ly hôn. Vợ chồng anh L có 03 con chung là cháu N, cháu H
cháu L1 như trình bày của anh L, chị N. Các cháu N, H đã thành niên; cháu L1
còn nhỏ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Giữa
vợ chồng anh L không liên quan đến công nợ n bà tự nguyện kng yêu cầu
Tòa án giải quyết. Vợ chồng anh L i sản chung ngôi nhà 02 tầng 01 tum xây
dựng trên thửa đất của bà, ngi ra còn có cáci sản trong sinh hoạt gia đình. xác
định, vẫn để cho anh L sử dụng thửa đất trên ng với ngôi nhà. Cho đến nay, anh
chị xảy ra mâu thuẫn, nhất tvới quan điểm của anh L, chia đôi ni n, anh L s
nhận bằng hin vật và có trách nhiệm trả tiền cnh lệch cho chN. không có yêu
cầu đề nghTòa án giải quyết vấn đề gì n đnghT án giải quyết vắng mặt.
* Ngưi làm chng là anh Phạm S S và chLê ThT trình bày: Anh ch không biết
chị T1 ai, không chng kiến vic anh L và ch T1 chung sng với nhau, cũng không
biết vic anh L ch T1 có quan hệ tình cảm. Tuy nhiên anh chị vn khuyên anh L không
thuê tr mà v n sinh sống. Cho đến nay anh L làm đơn ly hôn ch N, anh ch đề nghị
Tòa án gii quyết theo quy đnh của pháp luật.
* Người làm chứng chị Thị T1 trình bày: Chị xác định chị anh L
bạn bè, không có quan hệ yêu đương. Thời gian gần đây vợ anh L chị N còn đến
gặp chị để trao đổi về việc chị có quan hệ bất chính với anh L nói chị chấm dứt
quan hệ với anh L. Để tránh xảy ra muẫn nên chị đã chuyển chỗ từ thôn Phú
Hữu, DQ đến thôn HD, DQ. Chị xác định giữa ch anh L chỉ quan hệ
bạn bè bình thường, giữa anh chị không tình cảm nam nhay sống chung với
nhau do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị.
Trong q trình giải quyết vụ án, T án đã tiếnnh xemt thẩm định tại chỗ,
định giái sản ngày 30/3/2022 và tiến nh phiên họp về việc giao nộp, tiếp cậnng
khai chứng c a giải. Ngày 21/4/2022 anh L đơn xin t một phn yêu cầu
khởi kiện vchia i sản chung vchồng; các vấn đề kc anh vẫn ginguyên u
cầu khởi kiện. Chị N c định vợ chồng anh chđã tự thỏa thuận giải quyết xong về
5
vấn đề i sản chung n chtự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị đề nghị
Tòa án công nhận quan hệ hôn nn của vợ chồng anh chị; giải quyết cho chị được
nuôi cu L1 và yêu cầu anh L cấp ỡng ni con một lần cho chị. Tòa án hòa giải
nhưng kng thành, do vậy phải đưa vụ án ra t xử.
Tại phiên toà hôm nay:
Anh L xin rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng; anh đề nghị Tòa án giải
quyết cho anh chị N được ly hôn. Về con chung, anh đề nghị Tòa án giải quyết
cho chị N được nuôi con cháu L1; anh cấp dưỡng nuôi con cho chị N định kỳ
hàng tháng 1.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi cháu L1 thành niên. Về tài sản
chung, nợ, ruộng, công sức: Anh chị N không liên quan đến nhau nên anh tự
nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị N đề nghị a án giải quyết công nhận quan hệ n nhân của vợ chồng
chị; trường hợp anh L vẫn ơng quyết ly hôn tchcũng chấp nhận đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, chị nhất t quan điểm của anh
L là giao cháu L1 cho chị chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên; chị đề nghị Tòa
án giải quyết buộc anh L cấp ỡng nuôi con cho chị một lần (mức cấp ỡng
1.000.000 đồng/1 tháng); trường hợp anh L không đồng ý cấp dưỡng một lần thì chị
cũng nhất trí để anh L cấp dưỡng nuôi con định kỳ hàng tháng 1.000.000 đồng/ 1
tháng cho đến khi cháu L1 thành niên như quan điểm của anh L. Về i sản chung:
Chị đồng ý việc anh L rút u cầu chia tài sản chung; chị xác định giữa anh chị
không liên quan đến nhau về tài sản chung, nợ, ruộng, ng sức nên chị tự nguyện
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thịMH trình bày quan điểm: Toà án thụ
vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,ng
khai chứng cứ, lập biên bản hòa giải đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án giải quyết cho anh L được ly
hôn chị N. Giao cháu L1 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh L
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị N 1.000.000 đồng/1 tháng (cấp
dưỡng định kỳ theo tháng) cho đến khi cháu L1 thành niên (đủ 18 tuổi). Đình ch
giải quyết yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của anh L; anh chị có quyền yêu cầu
giải quyết trong ván khác. Về nợ, ruộng, ng sức do anh L, chị N tự nguyện
không yêu cầu a án giải quyết nên không phải giải quyết. Anh L phải chịu án phí
thẩm ly hôn án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý
kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn (anh Phạm Sỹ L) bị đơn (chị
Phan Thị N) là tranh chấp Hôn nhân gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi
con, chia tài sản chung. Tại phiên tòa mặc đã được Toà án triệu tập hợp lệ
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều đề nghị xét xử vắng
mặt. vậy Tòa án xét xử vắng mặt người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người
6
làm chứng phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228, khoản 1 khoản 2
Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ n nhân: Qua lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi nga vụ liên quan, ngưi làm chứng ng như c i liu chứng cứ do
đương sự giao nộp p hợp với nội dung xác minh tại Ủy ban nn dân phường PCK,
ng an phưng PCK, n bn ci chính hộ tịch của Uỷ ban nn dân thị xã MHn
đủ căn cứ xác định anh L, chị N đăng kếtn tự nguyn tại Ủy ban nhân dân xã
PCK (nay UBND phưng PCK) năm 1995 đã được cấp Giấy chứng nhận kết
n. ChN anh L đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã nơi trú của anh L
theo đúng quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 nên vic kết hôn đó
đã được đăng tại đúng quan thẩm quyền. Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình
m 1986 quy định: "Nam từ đủ 20 tuổi tr lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mi được kết
hôn"; thời điểm kết hôn, chị N anh L ca đủ tuổi kết n nên kếtn của chị N và
anh L là trái pp luật. Tại thời điểm giải quyết vụ án, chN anh L đã có đủ điều kiện
kết n nhưng anh L c định tình cảm vợ chồng không n, mâu thuẫn vợ chồng
không hàn gắn được đề ngha án gii quyết cho anh chị đưc ly hôn; chị N đ
nghị a án công nhận quan hệ vchồng.
Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị thì thấy, quá trình chung sống anh chị không
tìm được tiếng nói chung để giải quyết những mâu thun, nghi ngờ của ch N về việc
anh L quan h bất chính với nời phnữ kc. Anh L không tha nhận có quan
hệ ngoại nh, chN thừa nhận không tài liu chứng cứ chứng minh việc anh L
chung sống như vợ chồng với ngưi phnữ kc n Tòa án không n cgiải
quyết, bản thân chị mong muốn Tòa án công nhận quan hệ vợ chồng của anh chđể
anh chị tiếp tục về chung sống cùng nhau nhưng chị không quan tâm, chăm c và
chia sẻ với anh L. Vợ chồng anh chị tuy sống cùng n nhưng việc của ai người đó
m, không quan tâm tới nhau. Ti phiên tòa, chN đề ngh Tòa án công nhn quan h
vợ chồng của anh chị với mục đích để các con chị có cả bố mẹ, tờng hợp anh L
ơng quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý. Tất cả những tình tiết này đã phản ánh đúng
thực trạng hôn nhân của vợ chồng anh ch, tình cảm yêu thương gắn bó giữa anh chị
không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng. Cho đến nay, anh L cương quyết đề nghị a
án giải quyết cho anh chị được ly hôn, do vậy căn cứ Điều 5 Luật hôn nhân gia
đình năm 1986; Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm c
khoản 2 Điều 4 Thông Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-
BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát
nhân dân Tối cao, Bộ pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật n
nhân và gia đình; Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L giải quyết cho anh
L được ly hôn chị N.
[2.2]. Về con chung: Anh L, chị N c định vợ chồng có 03 con chung là cháu
Phạm Thị H, sinh ngày 08/8/1998; cháu Phạm Thị Thu N, sinh ngày 31/7/1996;
cháu Phạm Thu L1, sinh ngày 28/12/2009. Hiện nay cháu N và cháu H đều đã thành
niên nên anh chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu L1, anh
chị thống nhất giao cháu L1 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Anh L đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung cho chị N định kỳ hàng tháng
7
1.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu L1 thành niên. Tại phiên tòa, chị N chấp
nhận mức cấp ỡng nuôi con của anh L nhưng chđề nghị a án giải quyết buộc
anh L cấp dưỡng nuôi con một lần cho chị; trường hợp anh L không đồng ý thì chị
cũng nhất trí quan điểm của anh L về việc anh L cấp ỡng nuôi con định kỳ hàng
tháng 1.000.000 đồng/ 1 tháng cho đến khi cháu L1 thành nn.
Việc anh chị thỏa thuận thống nhất chị N chăm c nuôi dưỡng cu L1 t thấy
thỏa thuận của anh chị phù hợp với nguyện vọng của cháu L1 chị N có đủ điều
kiện để nuôi con nên được Hội đồng t xử chp nhận; giao cháu L1 cho chN chăm
c nuôi ỡng đến khi cu L1 thành nn (đủ 18 tuổi).
Xét mc cấp dưỡng, pơng thức cp dưỡng nuôi con của anh L, chN thì thy:
Hiện nay anh L làm công nn, thu nhập 6.000.000 đồng/1 tng. Anh ch đều thống
nhất mức cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000 đồng/1 tháng. Mức cấp dưỡng nuôi
con chung của anh chị thỏa thuận là phù hợp với quy định của pháp luậtn được Hội
đồng xét x chấp nhận. Quá trình gii quyết vụ án, anh chị không thống nhất phương
thức cấp ỡng nuôi con, tại phn a chị N ng đồng ý đanh L cấp dưỡng nuôi
con định kng tháng cho chị là 1.000.000 đồng/ 1 tng cho đến khi cháu L1 tnh
niên. Hiện nay anh L làm công nn, thu nhập không cao; bản tn chị N hiện nay
ng có công việc ổn định đủ điều kin để nuôi con nên buộc anh L nghĩa vụ cấp
ỡng nuôi con thc hiện định kỳ hàng tháng cho chị N theo mức cấp ng trên
phù hợp với quy định của pp luật.
[2.3]. Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh L đơn yêu cầu chia
tài sản chung của vợ chồng; tuy nhiên đến ngày 21/4/2022 anh L đơn xin rút
yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, chị N xác định anh chị đã tthỏa thuận
giải quyết xong về tài sản chung nên chị tự nguyện không yêu cầu a án giải
quyết về tài sản chung của vợ chồng n Hội đồng t xử không đặt ra giải quyết.
Do đó, n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử đình chỉ một phần u cầu khởi kiện của anh L về u cầu giải quyết tài sản
chung vợ chồng; nếu sau y anh L, chN yêu cầu khởi kiện sẽ được xem xét
giải quyết trong một vụ kiện dân sự khác.
[2.4]. Vvay nợ, ruộng ng nghiệp, ng sức: Anh L, chị N tự nguyện không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét x không đặt ra để xét.
[2.5]. Các vấn đề khác: Quá trình giải quyết vụ án cháu L1, cháu H, cháu N, bà
A đều xác định không liên quan đến kinh tế, công nợ với anh L, chị N tự nguyện
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng t xkhông đặt ra đểt.
[3]. Ván phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn thẩm án phí cấp dưỡng
nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
8
Căn cứ vào Điều 5 Luật hôn nhân gia đình 1986; Điều 11, Điều 12, Điều
51, Điều 56, Điều 57, Điều 73, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều
116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm c
khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228,
khoản 1 khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm c khoản 2 Điều 4
Thông liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao Bộ
Tư pháp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Sỹ L được ly hôn chị Phan Thị N.
[2]. Vcon chung: Giao cháu Phạm Thu L1, sinh ngày 28/12/2009 cho chị
Phan Thị N chămc, nuôi dưỡng đến khi cháu L1 thành niên.
Về mức cấp dưỡng phương thức cấp dưỡng: Anh L trách nhiệm cp
dưỡng nuôi con chung cho ch N 1.000.000 đồng/01 tháng; cấp dưỡng định kỳ hàng
tháng k t ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu L1 thành niên (đủ 18
tui).
Anh L quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở
anh L thực hiện quyền này.
Anh L, chị N quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con mức cấp dưỡng
nuôi con chung sau ly hôn.
Kể từ ngày chị N đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp về việc cấp dưỡng
nuôi con cho đến khi thi hành án xong, nếu anh L không thi hành khoản tiền cấp
dưỡng nuôi con thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời
gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[3]. Vềi sản chung: Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của anh
Phạm Sỹ L về phần tài sản chung vợ chồng. Anh L, chị N có quyền khởi kiện, yêu
cầu Tòa án giải quyết trong một vụ kiện dân sự khác.
[4]. Về vay nợ, công sức ruộngng nghiệp: Kng phải giải quyết.
[5]. Án phí: Anh Phạm Sỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí thẩm ly hôn
300.000 đồng án phí cấpỡng ni con. Trả lại anh L số tiền tạm ứng án p chia tài
sản chung vợ chồng, được đối tro stiền tạm ứng án phí 5.300.000 đồng anh L đã
nộp theo Bn lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013040 ngày 09/12/2021 của
Chi cục thi nh án n sự thị MH. Trả lại anh L 4.700.000 đồng (Bốn triệu, by
trăm nghìn đồng).
[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo pháp luật của người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án; người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
hợp lệ theo quy định của pháp luật.
9
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thị xã MH;
- Phòng KTNV &THS TAND tỉnh Hưng
Yên;
- Chi cục T.H.A DS thị xã MH;
- Đương sự;
- UBND phường PCK;
- Lưu HS vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
NGUYỄN THỊ OANH
Tải về
Bản án số 29/2022/HNGĐ-ST Bản án số 29/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất