Bản án số 29/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 của TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 của TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Ba Đồn (TAND tỉnh Quảng Bình)
Số hiệu: 29/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị T xin ly hôn anh Trần Xuân H vì mâu thuẩn gia đình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ BA ĐỒN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 29/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 9 - 2019
V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Thanh Diện.
2. Bà Trần Thị Ngọc Lan.
Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn Thư Tòa án nhân dân thị
xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Giang – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh
Quảng Bình, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 46/2019/TLST-HNGĐ
ngày 19 tháng 4 năm 2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm
2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1992.
Nơi trú: Thôn Thọ H, Quảng S, thị Ba Đ, tỉnh Quảng Bình.
mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Xuân H, sinh năm 1985.
Nơi trú: Thôn Đông B, Quảng T, thị Ba Đ, tỉnh Quảng Bình.
Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2019, bản tự khai ngày 28/5/2019, tại phiên
tòa thì nguyên đơn chị Trương Thị T trình bày: Chị anh Trần Xuân H yêu
nhau tự nguyện, đăng kết hôn tại Uban nhân dân Quảng S, thị Ba
Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 28/02/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống
hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mđẻ của anh H được một thời gian ngắn thì
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H tham gia vào các tệ nạn hội,
không trách nhiệm với vcon, nên chị bỏ vnhà bố mẹ đsinh sống ly
thân với anh H từ đó, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm vợ
2
chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Xuân H.
Về con chung: Trước khi đăng kết hôn chị anh H đã 01 con
chung là Trần Anh D, sinh ngày 22/11/2016. Hiện nay đang với chị. Sau ly
hôn chị nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng không yêu cầu anh H cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có. Hiện tại vợ chồng chị không nợ ai không
ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Trần Xuân H: Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã thông báo việc
thụ vụ án, đồng thời triệu tập anh đến Tòa án Ủy ban nhân dân Quảng T
nhiều lần để giải quyết việc chị Trương Thị T xin ly hôn, nhưng anh Trần Xuân
H vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết.
Qua xác minh tại địa phương (UBND xã Quảng T) thì anh Trần Xuân H
đang hộ khẩu thường trú tại địa phương. Qua xác minh tạigiađình (b mẹ đẻ
anh H) thì anh Trần Xuân H đều nhận được thông tin (các văn bản tố tụng) liên
quan đến việc giải quyết vụ án) mà Tòa án tống đạt.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thư phiên tòa đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện chấp hành quyền nghĩa vụ đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật,
không đến tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b
khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia
đình:
1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Xuân H;
2. Về quan hhôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn với anh
Trần Xuân H;
3.Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Anh D, sinh ngày 22/11/2016
cho chị Trương Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Xuân H không
phải cấp dưỡng nuôi con chung, vì chị T có đủ điều kiện và không yêu cầu.
4. Về quan hệ tài sản: Không xem xét;
5. Về án phí: Chị Trương Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo
về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải,
đồng thời triệu tập anh Trần Xuân H đến Tòa án Ủy ban nhân dân Quảng
T hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị Trương Thị T xin ly hôn, nhưng anh
3
Trần Xuân H vắng mặt không do không gửi ý kiến bằng n bản cho
Tòa án biết.
Qua xác minh tại địa phương (UBND xã Quảng T) thì anh Trần Xuân H
đang hộ khẩu thường trú tại địa phương. Mặt khác, bố mẹ đẻ của anh H cho
biết anh H đã được thông tin (các văn bản tố tụng) về việc giải quyết vụ án do
Tòa án tống đạt. Anh Trần Xuân H được Tòa án triệu tập 02 lần đến tham gia tố
tụng tại phiên tòa vào các ngày 03/9/2019 ngày 19/9/2019, nhưng vẫn vắng
mặt không do. vậy, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự, xử vắng mặt anh Trần Xuân H căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Trần Xuân H đăng
kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Quảng S, thị Ba Đ, tỉnh Quảng Bình) vào
ngày 28/02/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vchồng chung sống
hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H
ham chơi không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Chị T chuyển về sống cùng
bố mẹ đẻ của chị, từ đó vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai.
Sau khi thụ vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo thụ vụ án, thông
báo phiên hòa giải và giao nộp chứng cứ cũng như tham gia ttụng tại phiên tòa
nhưng anh H đều vắng mặt không do không gửi ý kiến bằng văn bản
cho Tòa án biết. Chứng tỏ anh H cũng chẳng tha thiết gì đến việc xây dựng cuộc
sống hạnh phúc gia đình, xét thấy tình cảm vợ chồng khó thể hàn gắn được.
vậy cần áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình x cho chị
Trương Thị T được ly hôn với anh Trần Xuân H là có cơ sở.
[3] Về quan hệ con chung: Chị T anh H 01 con chung Trần Anh
D, sinh ngày 22/11/2016 hiện nay đang được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng ổn
định. Sau ly hôn chị T nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng
con chung. Xét thấy, hiện nay con đang n nhỏ, nguyện vọng của chị T phù
hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, vậy cần giao con chung
Trần Anh D, sinh ngày 22/11/2016 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng
phù hợp. Anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chị T đủ
điều kiện và không yêu cầu.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Không có
[5] Về án phí ly hôn: Chị Trương Thị T phải chịu theo luật định.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo luật
định.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân
sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Xuân H.
4
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Trần
Xuân H.
3.Giao con chung Trần Anh D, sinh ngày 22/11/2016 cho chị T tiếp tục
chăm sóc nuôi dưỡng. Anh H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con
chị T có đủ điều kiện và không yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Trương Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí ly hôn thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được
trừ vào số tiền tạm ng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã
nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002359 ngày 18 tháng 4 năm 2019. (Chị
Trương Thị Tâm đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị T được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trần Xuân H được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án do Tòa án tống đạt hoặc kể từ
ngày bản sao bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi anh H
thường trú./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- VKSND thị xã Ba Đồn;
- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
- Các đương sự;
- UBND xã Quảng Sơn;
- Lưu hồ vụ án, Vp.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Dƣơng
5
Tải về
Bản án số 29/2019/HNGĐ-ST Bản án số 29/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất