Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 25/04/2023 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 25/04/2023 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 140.Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Trần Văn Thời (TAND tỉnh Cà Mau)
Số hiệu: 28/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/04/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Tấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trường
Ông Văn Công Trọn
- Thư phiên tòa: Phạm Tuyết Ngân Thư của Tòa án nhân dân
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Mau
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 19/2023/TLST-HS, ngày 13
tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS,
ngày 18 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: ơng Văn B(giới tính Nam), sinh năm 1977.
Tên gọi khác: B1
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xã Trần H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: Thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nghề nghiệp: Làm biển.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 4/12.
Cha: Dương Văn Đ, sinh năm (chết).
Mẹ: Diệp Thị N, 68 tuổi.
Anh, chị, em ruột: có 5 người, lớn nhất 48 tuổi, nhỏ nhất 37 tuổi.
Vợ: Nguyễn Thị Bé A, sinh năm 1984.
Con: 02 người con.
Tiền án:
2
- Năm 2004, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tuyên phạt 42 tháng
giam về tội Trộm cắp tài sn, chấpnh xong hình phát được ra trại ngày 06/4/2006,
nhưng phần dân sự chưa bồi thương cho người bị hại 5,5 chỉ vàng 24K 550.000
đồng, án pnh sự 50.000 đồng, án phí dân sự 220.000 đồng.
- Năm 2007, bị Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tuyên phạt 03 năm về tội
Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt được ra trại ngày 30/9/2009.
Năm 2011, bị Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 11
năm tù giam về tội Cướp giậti sản và cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt được
ra trại ngày 05/6/2018.
Tiền sự: Năm 2021 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc 16 tháng, chấp hành xong
ngày 12/10/2021.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/12/2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Bị
cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trương Văn C, sinh năm 1977; Nơi trú: thị trấn S, huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2022 Trương Văn C, làm thuyền viên trên ghe biển kiểm
soát BT 97993-TS do Phạm Thị D làm chủ ghe. Nguyễn Công Đ m thuyền
trưởng, trong quá trình làm thuyền viên trên u, Trương Văn C bị Đ Nguyễn
Văn E, Nguyễn Văn F, Nguyễn Văn G cùng nhiều đối tượng hành hạ, đánh đập.
Đến ngày 30 tháng 5 năm 2022 C vào btcáo hành vi phạm tội của các đối
tượng trong đó Đ là con trai Phạm Thị D, làm thuyền trưởng thỏa thuận bồi
thường khắc phục hậu quả cho C với số tiền 150.000.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ
ngày 29 tháng 5 năm 2022, bà D đưa 20.000.000 đồng cho C để khắc phục hậu
quả, C đưa cho B đếm đủ 20.000.000 đồng kêu B đưa số tiền này về trả cho K,
nhưng B không đưa cho K chiếm đoạt chi xài, đến ngày 30 tháng 5 năm 2022,
B tiếp tục chiếm đoạt thêm stiền 130.000.000 đồng của C rồi btrốn. Như vậy,
tổng số tiền B chiếm đoạt của C 150.000.000 đồng để chi xài nhân, sau đó bị
công an phát hiện. Đến ngày 16/12/2022 B đến công an đầu thú khai nhận nh vi
phạm tội, hiện nay vợ B Nguyễn Thị A, đã nộp tại quan điều tra
130.000.000 đồng, n 20.000.000 đồng, B cam kết khắc phục tiếp, (bút lục số:
02, 37, 39, 40, 41, 42, 52, 53, 55, 56, 57, 83, 84, 78, 79, 90).
Tại Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 15 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát
nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Dương Văn B về tội Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự
năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi của bị cáo
đã thực hiện và xin giảm nhẹ hình phạt.
3
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố bị cáo, sau khi luận tội,
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phạt bcáo Dương Văn B từ 02 năm 06
tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn cơ sở ni dung vụ án, n cứ vào các tài liu trong h sơ vụ án đã đưc tranh
tng tại phiên tòa, Hi đng xét x nhn đnh như sau:
[1] Vhành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo những
người tham gia tố tụng trong vụ án, không người nào ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hoàn toàn
phù hợp với lời khai tại quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại phù hợp
với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án do cơ quan điều tra thu thập. Bị cáo
thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Từ đó, đủ sở để kết
luận: Vào ngày 29 ngày 30 tháng 5 năm 2022 Dương Văn B lợi dụng lòng tin
của Dương Văn C, chiếm đoạt số tiền của anh C 150.000.000 đồng chi xài cá nhân,
sau đó biết bị phát hiện nên bị cáo ra đầu thú.
Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào thục hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản
của người khác trị giá 4.000.000 đồng, đến dưới 50.000.000 đồng, nhưng đã bị
xữ phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này
hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174
290 Bộ luật này chưa xóa án tích còn vi phạm hoặc tài sản phương
tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ thì bphạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản
đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc điều kiện, khả năng nhưng cố tình
không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp
pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 02
năm đến 07 năm.
c. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Do đó, Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 15/3/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm
sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo Dương Văn B về tội “Lạm dụng
4
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật
hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hôị, xâm phạm đến tài sản thuộc
quyền sở hửu của người khác một cách trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật
tự tại địa phương. Bị cáo người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, biết hành
vi xâm phạm sở hữu người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên bị cáo
đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xvề các hành vi
chiếm đoạt tài sản cố ý gây thương tích; 01 lần bị xử hành chính về ma túy,
lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 bộ luật hình sự, thế nhưng bcáo vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Do
đó, cần một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã
gây ra nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người ích cho xã hội tác
dụng răng đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra tại phiên
tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục, bồi
thường cho bị hại, bị cáo tự nguyện đến quan công an đầu tkhai nhận
hành vi phạm tội, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy
định tại các Điểm b và s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đơn yêu cầu
bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng, bcáo đã tác động gia đình
nộp tại quan điều tra số tiền 130.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại, số tiền
20.000.000 đồng còn lại cần buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại. Bị hại
quyền liên hệ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời để được
nhận số tiền 130.000.000 đồng.
[5] Về án phí: B cáo phải chịu án phí hình sự dân sự thẩm theo quy định
của pháp luật.
[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”.
2. Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 175; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51;
Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584,
Điều 589 Bộ luật dân sự.
Phạt bị cáo Dương Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày 16/12/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số
tiền 20.000.000 đồng. Bị hại quyền liên hệ với Chi cục thi hành dân sự huyện
Trần Văn Thời đnhận stiền gia đình bị cáo đã nộp để bồi thường cho bị hại
130.000.000 đồng.
5
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn
phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2
Điều 468 của B luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
- Về án phí hình sự thẩm: Buộc bị cáo Dương Văn B phải chịu 200.000
đồng.
- Về án phí dân sthẩm: Buộc bị cáo Dương Văn B phải chịu 1.000.000
đồng.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật bị cáo quyền tự nguyện thi hành
án hoặc bcưởng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6,7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện Trần Văn Thời;
- Công an huyện Trần Văn Thời;
- CCTHADS huyện Trần Văn Thời;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Trần Văn Thời;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu HS-VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(ĐÃ KÝ)
Hồ Minh Tấn
Tải về
Bản án số 28/2023/HS-ST Bản án số 28/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2023/HS-ST Bản án số 28/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất