Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 12/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về tội tàng trữ hàng cấm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 12/05/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về tội tàng trữ hàng cấm |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Mỹ Hào (TAND tỉnh Hưng Yên) |
| Số hiệu: | 28/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/05/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MỸ HÀO
TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 12/5/2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Trần Xuân Sơn.
2/ Ông: Phan Xuân Hùng.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng- Thư ký TAND thị xã Mỹ Hào
Đại diện VKSND thị xã tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phượng - KSV.
Ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở, TAND thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày
08/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HS ngày
28/4/2022 đối với bị cáo:
* Ng V Đ A(tên gọi khác N A) - sinh năm 1995.
Giới tính: Nam
Nơi cư trú: Thôn L M, xã Ph U, huyện A Th, tỉnh H Y.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 06/12
Họ, tên bố: Ng H C (đã chết).
Họ, tên mẹ: Ng Th S, sinh năm 1969.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân Thân: Ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện A Th, tỉnh H Y xử
phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong
hình phạt tù ngày 21/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại
Nhà tạm giữ Công an thị xã M H, tỉnh H Y. Có mặt tại phiên tòa.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/Bà:Ng Th S, sinh năm 1969.
2
Nơi cư trú: Thôn L M, xã Ph U, huyện A Th, tỉnh H Y.
Có mặt tại phiên tòa.
*Những người làm chứng.
1/Chị: Tr Th Q N, sinh năm 1985.
Trú tại: Tổ C, phường T Ph, thành phố L Ch, tỉnh L Ch.
2/Anh: Ng V N, sinh năm 1986.
3/Anh: Ng V Đ, sinh năm 1989.
Đều trú tại: Thôn B S, xã B S1, huyện A Th, tỉnh H Y.
4/Anh: N D Th, sinh năm 1987.
Trú tại: Tổ dân phố Ph C, phường M Đ, TX. M H, tỉnh H Y.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 10/01/2022, Công an thị xã M H, tỉnh H Y
nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại đường đê K S phía trước
chùa Th X thuộc thôn Th X, xã H L, thị xã M H, tỉnh H Y có đối tượng Ng V Đ A
(tên gọi khác N A), sinh năm 1995, HKTT: Thôn L M, xã Ph U, huyện A Th,
tỉnh H Y điều khiển xe mô tô biển số: 88F1-9013 chở 01 bao tải dứa ở phía trước
xe mô tô nghi có biểu hiện tàng trữ hàng cấm là pháo nổ. Công an thị xã M H phối
hợp với Công an xã H L tiến hành phát hiện, kiểm tra. Vật chứng thu giữ: Quản lý
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, sơn màu nâu, biển số đăng ký: 88F1-
9013; thu giữ tại giá để hàng phía trước xe mô tô 01 bao tải dứa màu nâu bên trong
có 04 khối hình hộp giống nhau, đều được bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ, vàng
có ghi chữ nước ngoài, mỗi hộp có kích thước (15x15x15)cm (niêm phong ký hiệu
M1); 01 hộp hình trụ tròn màu đỏ, có ghi chữ nước ngoài đường kính 30cm, chiều
cao 06cm (niêm phong ký hiệu M2); Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải
của Đ A 01 ống thủy tinh có một đầu cong tròn (hay còn gọi là Coóng) bị ám khói
đen, chiều dài 12,5cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký
hiệu M4) và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu hồng dạng
cục, bột (niêm phong ký hiệu M3); thu tại túi quần phía trước bên trái 01 bật lửa
màu vàng có ghi chữ nước ngoài; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu
hồng trắng (bên trong nắp 02 sim số thuê bao 0917619715 và 0377582195); thu tại
túi quần phía sau bên phải 01 ví giả da màu nâu, bên trong có số tiền
1.200.000đồng.
3
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M H tiến hành khám
xét chỗ ở của Ng V Đ A tại thôn L M, xã Ph U, huyện A Th, tỉnh H Y, kết quả
khám xét không thu giữ gì.
Tại thông báo kết luận sơ bộ số: 37/PC09 ngày 10/01/2022 và Kết luận giám
định số: 37/PC09 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh H
Y, kết luận: Mẫu vật trong niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng 5,8kg đều
là pháo nổ, loại pháo hoa nổ. Mẫu vật trong niêm phong ký hiệu M2 có tổng khối
lượng 0,7kg là pháo nổ.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Trả lại mẫu vật sau khi trích lại 0,2kg
pháo trong niêm phong ký hiệu M1 và 0,1 kg pháo trong niêm phong ký hiệu M2
giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã M H quản lý
Tại thông báo kết luận sơ bộ số: 91/MT-PC09 ngày 10/01/2022 và Kết luận
giám định số: 91/MT-PC09 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuận hình sự - Công
an tỉnh H Y, kết luận: Mẫu chất màu hồng dạng cục, bột trong niêm phong ký hiệu
M3, có khối lượng 0,042gam là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu chất dạng
tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M4, không xác định được khối lượng
là ma túy, loại Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 01 Coóng thủy tinh và 01 phong bì niêm
phong mẫu vật gửi giám định giao cho Công an thị xã M H quản lý.
Quá trình điều tra Ng V Đ A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của
mình. Đ A khai: Do có nhu cầu mua pháo đốt trong dịp tết nguyên đán năm 2022,
Đ A nói chuyện với anh Tr V Đ, sinh năm 1989, HKTT: Thôn A Nh xã V Nh,
huyện A Th, tỉnh H Y (là bạn của Đ A): “Xem có chỗ nào bán pháo nổ không để
tôi mua về đốt tết chơi”, Đ bảo “có” rồi Đ sử dụng số điện thoại 0705784583 nhắn
tin, giới thiệu cho Đ A số điện thoại 0336228501 của người bán pháo nổ. Chiều
ngày 10/01/2022, Đ A gọi điện vào số thuê bao 0336228501 thì có một người đàn
ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ?) nghe điện thoại, Đ A nói “có bán pháo nổ không”,
người đàn ông bảo “có”. Đ A nói “Bán cho 04 dàn pháo hoa nổ loại 36 quả và 01
dàn pháo nổ”, người đàn ông đồng ý nói “Tổng các loại pháo trên hết
3.000.000đồng”, sau đó cả hai hẹn gặp nhau ở khu vực cầu Th X thuộc thôn Th X,
xã H L, thị xã M H. Khoảng 17 giờ cùng ngày Đ A điều khiển xe mô tô biển số:
88F1-9013 đến nơi hẹn thì gặp một người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ?) đội
mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, sơn màu
xanh (không rõ biển số). Đ A đưa cho người đàn ông này 3.000.000đồng, người
đàn ông cầm tiền và chỉ cho Đ A ra căn nhà bỏ hoang gần đó lấy pháo rồi người
đàn ông này bỏ đi. Đ A đi vào căn nhà hoang thấy có 01 bao tải bên trong có pháo
4
nổ, Đ A bê bao tải lên mang ra giá đèo hàng phía trước xe mô tô, sau đó điều khiển
xe mô tô đi về. Trên đường về đến khu vực đường đê K S phía trước chùa Th X
thuộc thôn Th X, xã H L thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra và thu giữ vật
chứng như đã nêu trên. Quá trình điều tra đã xác định được Đ A thực hiện hành vi
phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra Đ A còn khai: Ngày 09/01/2022 trên đường từ tỉnh H D về nhà Đ
A (không nhớ địa điểm nào?), anh Tr V Đ đã cho Đ A 01 chiếc Coóng thủy tinh và
01 túi nilon bên trong có ma túy, Đ A cất trong người để sử dụng, sau đó đã bị thu
giữ như nêu ở trên.
Đối với việc Đ A khai: Anh Tr V Đ đã cho Đ A số điện thoại của người bán
pháo nổ; 01 chiếc Coóng thủy tinh và ma túy để sử dụng như nêu ở trên. Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an thị xã M H đã triệu tập anh Tr V Đ đến làm việc và cho
đối chất. Tại Cơ quan điều tra anh Đ không thừa nhận như Đ A đã khai nên không
đủ căn cứ để xử lý đối với anh Đ
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Đ A xác định trong
phần tin nhắn, nhật ký cuộc gọi trong khoảng thời gian từ 16 giờ 04 phút đến 16
giờ 59 phút ngày 10/01/2022 có số điện thoại 0377582195 liên lạc với số điện
thoại 0336228501 và số 0707584583. Qua điều tra xác định số điện thoại
0377582195 là của Đ A còn số điện thoại 0336228501 được đăng ký chủ thuê bao
mang tên chị Tr Th Q N, sinh năm 1985, HKTT: Tổ C, phường T L, thành phố L
Ch, tỉnh L Ch và số điện thoại 0705784583 được đăng ký chủ thuê bao mang tên H
T A Đ, sinh năm 1993, HKTT: Thôn P M, xã Ph L, huyện T Ph, tỉnh B Đ. Cơ quan
điều tra đã tiến hành làm việc với chị Ng, chị Ng xác định từ trước đến nay không
sử dụng số điện thoại 0336228501 và cũng không biết lý do vì sao số điện thoại
trên mang tên chị. Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan cảnh sát điều tra huyện
T Ph, tỉnh B Đ, chị Đ khai: Khoảng năm 2019, chị đăng ký sử dụng thuê bao
0705784583 nhưng đến năm 2020 chị không đăng ký sử dụng số điện thoại này
nữa, đến nay chị không biết ai sử dụng số điện thoại nói trên. Chị Đ, chị Ng và anh
Đ đều trình bày các anh chị đều không quen biết nhau nên không đủ căn cứ xử lý
đối với chị Ng, chị Đ.
Đối với việc Ng V Đ A có hành vi tàng trữ trái phép 0,042gam ma túy
Methamphetamnie để sử dụng (dưới 0,1gam được qui định tại điểm c khoản 1 điều
249 BLHS). Quá trình điều tra xác định, trước đó Đ A không bị xử phạt vi phạm
hành chính và không bị kết án về các tội liên quan đến ma túy nên hành vi nêu trên
của Ng V Đ A không cấu thành tội phạm. Công an thị xã M H đã ra Quyết định xử

5
phạt vi phạm hành chính và tiêu hủy ma túy hoàn lại sau giám định và chiếc Coóng
thủy tinh.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 88F1-9013; bao tải dứa màu nâu; bật lửa màu
vàng; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (bên trong nắp 02sim); 01 chiếc ví
giả da màu nâu bên trong có số tiền 1.200.000đồng đã bị Cơ quan điều tra thu giữ.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Ng Th S,
sinh năm 1969, HKTT: Thôn L M, xã Ph U, huyện A Th, tỉnh H Y (là mẹ đẻ của
Đ A). Bà S cho Đ A mượn xe nhưng không biết Đ A sử dụng chiếc xe mô tô trên
để đi mua pháo nổ. Nay Bà S có nhu cầu nhận lại chiếc xe mô tô trên. Còn chiếc
bao tải dứa; bật lửa; chiếc điện thoại di động (bên trong nắp 02 sim); chiếc ví giả
da và số tiền 1.200.000đồng nêu trên là tài sản hợp pháp của Đ A. Đ A sử dụng
chiếc bao tải dứa; 01 điện thoại di động bên trong nắp sim số thuê bao 0377582195
liên quan đến việc phạm tội. Chiếc bật lửa; chiếc sim điện thoại có số thuê bao
0917619715; chiếc ví giả da và số tiền 1.200.000đồng không liên quan đến việc
phạm tội, nay Đ A có nhu cầu nhận lại chiếc ví, chiếc bật lửa và số tiền nói trên
còn chiếc sim điện thoại Đ A không có nhu cầu nhận lại.
Đối với việc Đ A khai người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ) đã bán pháo
nổ cho Đ A. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M H đã tiến hành xác minh
nhưng chưa xác định được đối tượng bán pháo nổ cho Đ A và chưa xác định được
người đang sử dụng số thuê bao 0705784583 nhắn tin cho Đ A số điện thoại để
mua pháo nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ giải quyết sau.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKSMH ngày 08/4/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân thị xã M H đã truy tố Ng V Đ A về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c
khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diệnViện kiểm sát nhân dân thị xã M H vẫn giữ nguyên
quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Ng V Đ A ( tên gọi khác N A), phạm tội “Tàng trữ hàng
cấm”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 điều
38 Bộ luật hình sự. Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326
quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Ng V Đ A ( tên gọi khác N A) từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù,
thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ10/01/2022.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị
cáo.
6
Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46, điểm a,c khoản 1 và
khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm và điểm a khoản 3 điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy số pháo hoa nổ và pháo nổ hoàn lạisau giám định đựng
trong khối hình hộp bìa cát tông màu trắng, xanh có ghi chữ Thăng Long được
niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H Y; 02 sim điện
thoại có các số thuê bao 0377582195 và 0917619715; 01 bao tải dứa màu nâu đã
qua sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO màu trắng hồng.
Trả lại bị cáo 01 ví giả da màu nâu trên ví có ghi chữ ARMAN; 01 bật lửa
gas màu vàng trên có ghi chữ nước ngoài và số tiền 1.200.000đồng.
Trả lại bà Ng Th S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu, biển
số: 88F1-9013.
(Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Ủy nhiệm chi)
Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật
Tại phiên tòa, bị cáo Ng V Đ A không tranh luận, nhất trí với nội dung bản
luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M H; Bị cáo đề nghị HĐXX
cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập
công đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1/ Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an
thị xã M H và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã M H
và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
2/ Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ng V Đ A đã thành
khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa
hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của những
người có quyền, lợi ích liên quan và người làm chứng; Biên bản phạm tội quả tang
7
cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ. Như vậy, có đủ cơ sở
khẳng định: Do có nhu cầu mua pháo đốt trong dịp tết nguyên đán năm 2022, Đ A
nói chuyện với anh Tr V Đ và nhờ Đ xem có chỗ nào bán pháo nổ để mua về chơi
tết. Sau khi có số điện thoại của người bán pháo, Đ A đã liên hệ mua của một
người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 04 dàn pháo hoa nổ loại 36 quả và
01 dàn pháo nổ với giá 3.000.000đồng. Khoảng 17 giờ cung ngày Đ A điều khiển
xe mô tô đến nơi hẹn tại thôn Th X, xã H L, thị xã M H thì gặp người đàn ông này
và thực hiện hành vi mua số lượng pháo trên. Sau khi mua được pháo, bị cáo trên
đường về đến khu vực đường đê K S phía trước chùa Th X thuộc thôn Th X, xã H
L thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra và thu giữ vật chứng như đã nêu
trên. Hành vi phạm tội của bị cáo được qui định tại điểm c khoản 1 điều 191 Bộ
luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M H truy tố bị cáo về tội danh
và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ khả
năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mua bán mặt hàng
Nhà nước cấm mua bán trên thị trường. Việc mua, bán và sử dụng pháo hoa nổ và
pháo nổ đã bị Nhà nước nghiêm cấm trong một thời gian rất dài, hàng năm trên các
phương tiện thông tin đại chúng cũng như chính quyền cấp cơ sở đều có các hoạt
động tuyên truyền và yêu cầu các hộ gia đình ký cam kết không mua, bán và đốt
các loại pháo vào dịp tết cổ truyền và các ngày lễ hội. Tuy nhiên, do ham vui nên
bị cáo đã thực hiện hành vi mua pháo hoa nổ và pháo nổ để đốt vào dịp tết cổ
truyền của dân tộc. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự
quản lý của Nhà nước đối với một số mặt hàng cấm, gây hoang lo lắng trong quần
chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, hành vi này
phải được xử lý với hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung
cho xã hội.
Đối với hành vi bị cáo tàng trữ 0,042gam ma túy, loại Methamphetamine
cùng vật chứng thu giữ của bị cáo 01 chiếc Coóng thủy tinh và 01 túi nilon đựng
ma túy. Do hành vi này của bị cáo chưa cấu thành tội phạm nên Công an thị xã M
H đã xử phạt hành chính và tiêu hủy toàn bộ vật chứng nên không đặt ra xem xét.
3/Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và hướng xử lý
đối với bị cáo:.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và thành
khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà
bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, khi cân
nhắc hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy cần bắt bị cáo cách ly
khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như nội dung đề nghị mức hình phạt
8
đối với bị cáo tại bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác
dụng, cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
4/ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn
định, không có tài sản riêng. Vì vậy, HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5/ Về vật chứng:
Đối với số pháo hoa nổ và pháo nổ hoàn lại sau giám định đựng trong khối hình
hộp bìa cát tông màu trắng, xanh có ghi chữ Thăng Long được niêm phong có dấu
đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H Y là vật chứng trong vụ án cần
tịch thu, tiêu hủy. Đối với 02 sim điện thoại có các số thuê bao 0377582195 và
0917619715; 01 bao tải dứa màu nâu đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần
tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng hồng thu của bị cáo, bị
cáo sử dụng vào việc liên lạc mua pháo là vật chứng liênquan đến hành vi phạm tội
của bị cáo cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với: 01 ví giả da màu nâu trên ví có ghi chữ ARMAN; 01 bật lửa màu vàng và
số tiền 1.200.000đồng là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi
phạm tội. Bị cáo có đề nghị nhận lại cần trả lại cho bị cáo sử dụng.
Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu, biển số: 88F1-
9013 là tài sản của Bà S cho bị cáo mượn, Bà S không biết bị cáo sử dụng làm
phương tiện đi mua pháo. Bà S có đề nghị xin nhận lại. Đây là tài sản hợp pháp của
Bà S cần trả lại Bà S để sử dụng.
7/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1
điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Ng V Đ A (tên gọi khác N A) phạm tội “Tàng trữ hàng
cấm”
2. Xử phạt: Bị cáo Ng V Đ A (tên gọi khác N A) 09 (chín) tháng tù, thời
hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam10/01/2022.
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với
bị cáo.

9
4. Về vật chứng:Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46, điểm a,c khoản 1 và
khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm và điểm a khoản 3 điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy số pháo hoa nổ và và pháo nổ hoàn lại sau giám định đựng
trong khối hình hộp bìa cát tông màu trắng, xanh có ghi chữ Thăng Long được
niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H Y; 02 sim điện
thoại có các số thuê bao 0377582195 và 0917619715; 01 bao tải dứa màu nâu đã
qua sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO màu trắng hồng.
Trả lại bị cáo 01 ví giả da màu nâu trên ví có ghi chữ ARMAN; 01 bật lửa
gas màu vàng trên có ghi chữ nước ngoài và số tiền 1.200.000đồng.
Trả lại bà Ng Th S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu, biển
số: 88F1-9013.
(Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Ủy nhiệm chi)
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
6.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và lợi ích liên quan có mặt
tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm.
Nơi nhận:
-
Tòa án tỉnh
- VKS +CA + Chi cục THADS thị
xã.
- Những người tham gia tố tụng
-Phòng nghiệp vụ CA + Sở tư pháp tỉnh
- Lưu
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Ngọc Lâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm