Bản án số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 09/07/2021 của TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 28/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 28/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 09/07/2021 của TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Vinh (TAND tỉnh Nghệ An) |
| Số hiệu: | 28/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/07/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | xét xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
Bản án số: 28/2021/LHST
Ngày: 09/07/2021
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa
2. Ông Nguyễn Công Thẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia
phiên toà: Bà Đậu Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 09 tháng 07 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 150/2021/TLST-
HNGĐ ngày 23 tháng 04 năm 2021về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXX-ST ngày31 tháng 05 năm 2021 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đặng Sỹ L – sinh năm 1964
Địa chỉ: khối 23, phường Hưng Bình, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (có đơn
xin xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị T – sinh năm 1964
Địa chỉ: khối 23, phường Hưng Bình, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (có
đơn xin xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn ngày 08/4/2021 và những lời trình bày trong quá
trình giải quyết vụ án của ông Đặng Sỹ L thì: ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị Tkết
hôn với nhau vào năm 1990, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và không đăng ký kết
hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sốnghạnh phúc được một thời gian dài thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu
quan tâm chăm sóc nhau, thường xẩy ra cãi vã, xô xát nhau. Mâu thuẫn ngày càng
căng thẳng đến đầu năm 2019 vợ chồng sống ly thân đến nay. Nayông Đặng Sỹ L
thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên
xin được ly hôn với bà Đỗ Thị T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Đặng Hoàng A - sinh ngày
22/05/1991 và Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005. Nay ly hôn ông Đặng
Sỹ L đề nghị giao cháu Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005 cho bà Đỗ Thị
T trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Đặng Hoàng A - sinh ngày 22/05/1991 đã trưởng
thành nên việc ở với ai là tùy cháu. Ông L sẽ có trách nhiệm với con chung.
Về tài sản: ông Đặng Sỹ L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bà Đỗ Thị T trình bày: Bà Đỗ Thị T thừa nhận
thời gian kết hôn và khi kết hôn vợ chồng không đăng ký kết hôn, thời gian vợ
chồng mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian vợ chồng sống ly thân như
ông Đặng Sỹ L trình bày là đúng.Nay ông Đặng Sỹ L làm đơn xin ly hôn bà Đỗ
Thị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là là Đặng Hoàng A - sinh
ngày 22/05/1991 và Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005. Nay ly hôn cháu
Đặng Hoàng Anh - sinh ngày 22/05/1991 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết. Bà Đỗ Thị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu
Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005 và không yêu cầu ông Đặng Sỹ L cấp
dưỡng nuôi con chung cùng bà, việc có trách nhiệm nuôi con chung như thế nào là
tùy ông L.
Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa đại diện VKS nhân dân thành phố Vinh phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và
của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến
nay như sau: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký
đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho
VKS nhân dân thành phố Vinh đầy đủ, đúng quy định pháp luật, các đương sự
tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
Về nội dung vụ án: Về tình cảm vợ chồng ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T kết
hôn năm 1990, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu, nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ
chồng sống hạnh phúc được một thời gian dài thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau, nên thường
xảy ra xô xát lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Quá trình giải
quyết vụ án ông L, bà T đều thừa nhận tình cảm không còn, tình trạng sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần xử không công nhận
ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T là vợ chồng.
Về con chung:Vợ chồng có hai con chung tên là là Đặng Hoàng A - sinh
ngày 22/05/1991 và Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005. Nay ly hôn cháu
Đặng Hoàng Anh - sinh ngày 22/05/1991 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T đều có nguyện
vọng giao cháu Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005 cho bà Đỗ Thị T trực
tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho ông L. Việc thỏa
thuận các đương sự phù hợp quy định pháp luật cần chấp nhận.
Về quan hệ tài sản: Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên miễn xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét
đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T có địa chỉ cư trú tại 23 A,
phường Hưng Bình, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân thành phố
Vinh thụ lý vụ án để giải quyết là đúng thẩm quyền về lãnh thổ. Quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bảntố tụng cho các bên đương sự.
Các bên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 228
BLTTDS để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn đề nghị xét xử
vắng mặt tại phiên tòa ông Đặng Sỹ L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng
xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ tình cảm: ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T kết hôn năm vào
năm 1990, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và nhưng không có đăng ký kết hôn tại
UBND phường xã nào. Như vậy hôn nhân của họ là hôn nhân thực tế nhưng vi
phạm việc đăng ký kết hôn được pháp luật quy định tại điều 11 Luật Hôn nhân và
gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được hột thời gian
dài thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan
điểm sống, thiếu quan tâm chăm sóc nhau, thường xuyên cãi cọ xô xát nhau,nên
mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay.
Quá trình giải quyết các bên cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn
nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Như vậy chứng tỏ đời sống
chung giữa ông L, bà T thực sự mâu thuẫn trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng điều 11, điều 87, điều 91 Luật Hôn nhân
và gia đình xử không công nhận ông L và bà T là vợ chồng.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là là Đặng
Hoàng A - sinh ngày 22/05/1991 và Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005.
Nay ly hôn cháu Đặng Hoàng Anh - sinh ngày 22/05/1991 đã đủ tuổi trưởng thành
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T
đều có nguyện vọng giao cháu Đặng Thị Hồng H – sinh ngày 25/11/2005 cho bà
Đỗ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Đặng Thị Hồng H có nguyện vọng ở với bà
T. Xét việc giao con chưa thành niên cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng là tùy
thuộc vào sự phát triển mọi mặt của cháu. Các bên thống nhất giao con chung cho
bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng thành là tự nguyện, phù hợp
quy định pháp luật cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu
ông L cấp dưỡng nuôi con. Xét việc không yêu cầu của bà T được thỏa thuận với
ông L, phù hợp với quy định pháp luật nên tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung
chung cùng bà T cho ông L.
[2.3] Về quan hệ tài sản: Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T tự thỏa thuận phân
chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Ông L, bà T được quyền khởi
kiện vụ án khác về chia tài sản chung khi có yêu cầu.

[2.4] Về án phí: Ông Đặng Sỹ L phải chịu án phí ly hôntheo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 11, 87, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản
7 điều 28; điều 147; khoản 1 điều 228; điều 271; khoản 1 điều 273 BLTTDS; điều
26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về lệ phí, án phí xử:
- Về quan hệ tình cảm: Xử không công nhận ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T
là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Đặng Thị Hồng H – sinh
ngày 25/11/2005 cho bà Đỗ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng
thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đặng Sỹ L do bà Đỗ Thị
T không yêu cầu.
Ông Đặng Sỹ L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai
được cản trở.
- Về quan hệ tài sản: Ông Đặng Sỹ L và bà Đỗ Thị T được quyền khởi kiện vụ
án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Ông Đặng Sỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án
phí LHSTnhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí tại chi cục thi hành
án thành phố Vinh theo BL số 0003552 ngày 19/04/20201.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án,
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nơi nhận:
-VKSND TP Vinh
- Các đương sự
- UBND phường Hưng Bình (để biết)
- Lưu HS
Lê Thị Hải Yến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm